Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

BĐKH đã tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu đó là: giảm diện tích đất nông nghiệp do xâm nhập mặn, cát lấn; thay đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và phân bố cây trồng; ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất cây trồng và thời vụ gieo trồng; gia tăng ảnh hưởng của sâu bệnh hại cây trồng; giảm hiệu quả ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm; tác động tiêu cực đến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản như: gây suy giảm nguồn lợi thủy sản; tác động đến môi trường nuôi trồng thủy sản do nhiệt độ tăng và hạn hán; gia tăng thiệt hại của ngành đánh bắt, giảm giá trị sản xuất của ngành thủy sản Những tác động của BĐKH đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân nông thôn, gia tăng tình trạng nghèo đói, làm phá vỡ hệ sinh thái ven biển và cạn kiệt tài nguyên. Trên cơ sở phân tích các biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp, bài báo đề xuất một số giải pháp góp phần vào việc phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do tác động của biến đổi khí hậu cho ngành sản xuất nông nghiệp đảm bảo các yêu cầu về tính khả thi, phù hợp với điều kiện và năng lực thực tế của địa phương ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng bền vững.

pdf10 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 24/03/2022 | Lượt xem: 125 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế ISSN 1859-1612, Số 04(36)/2015: tr. 107-116 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế Tóm tắt: Phú Vang là huyện đồng bằng thấp ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Những năm gần đây, ngành nông nghiệp của huyện chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều đợt thiên tai như bão, lũ lụt, nước biển dâng, xâm nhập mặn diễn ra khá phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đời sống và hoạt động sản xuất của người địa phương. Trong đó biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động tới mọi mặt của ngành nông nghiệp, tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng gây nguy cơ thu hẹp đất nông nghiệp, làm tăng nguy cơ lan rộng sâu bệnh hại cây trồng ảnh hưởng đến sinh sản sinh trưởng của gia súc và gia cầm. Bài viết này góp phần nghiên cứu đánh giá bước đầu về tác động BĐKH tới sản xuất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ khóa: biến đổi khí hậu, sản xuất nông nghiệp, huyện Phú Vang 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Phú Vang là một trong những huyện ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế phải thường xuyên chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Trong những năm qua, biến đổi khí hậu đã tác động đến mọi mặt đời sống của người dân trong vùng; đặc biệt là hoạt động sản xuất nông nghiệp; làm thay đổi cơ cấu mùa vụ; tác động xấu đến trồng trọt, chăn nuôi; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và nguy cơ xuất hiện nhiều loại bệnh dịch mới trên cây trồng, vật nuôi Đây cũng chính là những tác động của biến đổi khí hậu đối với các hoạt động kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương trong thời gian qua và những năm tiếp theo. Đặc biệt, ảnh hưởng lớn nhất là các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, việc tổ chức sản xuất nông nghiệp cần được định hướng có cơ sở khoa học nhằm bố trí các loại hình sử dụng thích ứng với biến đổi khí hậu theo mục tiêu phát triển lâu bền là vấn đề mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều vướng mắc trong vấn đề ứng xử với biến đổi khí hậu; chưa có các giải pháp và các mô hình thích ứng giúp người dân ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hỏi cần phải có các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp và các giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân huyện Phú Vang. 2. THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Là huyện đồng bằng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, khí hậu huyện Phú Vang vừa mang đặc trưng chung của khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế, vừa có đặc trưng riêng của tiểu khí 108 PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM hậu ven biển. Vì vậy, nội dung này chỉ đề cập đến các biểu hiện của BĐKH tại vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó có lãnh thổ huyện Phú Vang. 2.1. Biến đổi về nhiệt độ Ở vùng đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế, sự biến đổi nhiệt độ trung bình tháng I không biểu hiện rõ rệt: từ thập kỷ 1931 - 1940 đến nay, nhiệt độ trung bình tháng I lần lượt tăng, giảm thay phiên nhau từ 0,1 - 0,30C; riêng thập kỷ 1941 - 1950 tăng mạnh nhất so với thời kỳ 1931 - 1940 là 1,00C (20,80C so với 19,80C). Từ thập kỷ 1961 - 1970, nhiệt độ trung bình tháng VII giảm đều đặn. Mỗi thập kỷ giảm từ 0,1 - 0,40C cho đến thập kỷ 2001 - 2010 đã giảm 0,90C so với thập kỷ 1961 – 1970 [7]. So với các thập kỷ trước đó, hai thập kỷ gần đây nhiệt độ trung bình năm tại Huế giảm từ 0,1 - 0,20C. Đây là xu thế ngược lại với xu thế chung của cả nước và toàn cầu [7]. Bảng 1. Nhiệt độ TB tháng I, tháng VII và TB năm ở vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế trong các thập kỷ gần đây (0C) Thập Kỷ Nhiệt độ TB tháng I Nhiệt độ TB tháng VII Nhiệt độ TB năm 1931-1940 19,8 29,0 25,1 1941-1950 20,8 29,3 25,3 1951-1960 20,1 29,3 25,2 1961-1970 19,9 29,8 25,3 1971-1980 20,0 29,4 25,3 1981-1990 19,8 29,3 25,1 1991-2000 20,2 29,1 25,0 2001-2010 19,9 28,9 25,0 Nguồn: [7] 2.2. Biến đổi về lượng mưa Mùa mưa ở vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế từ tháng IX đến tháng XII. Những năm có Lanina thì mưa lớn trong thời gian ngắn, gây ra lũ lớn, lũ lịch sử, như 1978, 1988, 1990, 1993, 1996, 1998, 1999, 2001, 2003, 2004, 2009, 2010. Cụ thể, ngày 4 và 5/11/1999 lượng mưa tại Huế lên đến 2.800mm/ngày đêm gây lũ lịch sử năm 1999 và từ ngày 01-04/10/2010 mưa lớn với lượng mưa từ 500-700 mm có nơi đến 1.000mm- 1.300 mm (trong 04 ngày) gây lũ lớn TP Huế [7]. Bảng 2. Lượng mưa TB tháng I, tháng VII và TB năm ở vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế trong các thập kỷ gần đây (mm) Thập kỷ Lượng mưa TB tháng I Lượng mưa TB tháng VII Lượng mưa TB năm 1971-1980 89,5 155,3 2.666 1981-1990 95,7 106,5 2.575 1991-2000 131,1 50,0 3.093 2001-2013 124,1 81,8 3.273 Nguồn: [7] TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP... 109 Kết quả phân tích bảng 2 cho thấy điểm chung là lượng mưa trung bình năm trong những năm gần đây có xu hướng tăng và thập kỷ 1991 - 2000 có lượng mưa trung bình lớn nhất. Lượng mưa trung bình tháng I vùng đồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế trong thập kỷ 2001 - 2013 so với lượng mưa trong thời kỳ chuẩn khí hậu 1961 - 1990 không thay đổi đáng kể, chỉ tăng 1%. So với lượng mưa thời kỳ chuẩn 1961 - 1990 thì lượng mưa tháng VII ở Huế giảm 23%, lượng mưa tháng 10 tăng 27% và lượng mưa trung bình năm tăng 22%. Đặc biệt có sự chênh lệnh lượng mưa giữa tháng I và tháng VII, tăng lượng mưa vào tháng 1 trong giai đoạn 1991-2000 và 2001-2013 so với trước đó. Đây là một điểm bất thường trong biến đổi về lượng mưa ở khu vực nghiên cứu. 2.3. Nước biển dâng Trong kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng được xây dựng cho miền Trung Việt Nam, khi nước biển dâng 71 cm vào năm 2100, vùng ven biển Thừa Thiên Huế sẽ phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất khi mất đi một diện tích lớn đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản [1]. Theo dự báo diện tích ngập do nước biển dâng, tình trạng diện tích đất nông nghiệp bị ngập nhiều nhất là các huyện Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc. Hiện tượng nước biển ngày càng dâng cao sẽ gây tác động tiêu cực đối với các vùng đất thấp tỉnh Thừa Thiên Huế bởi hiện tượng biển lấn, xói lở, nhiễm mặn và ngập lụt gia tăng. 2.4. Thiên tai - Lũ lụt: Trong vòng 50 năm trở lại đây, lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn nửa đầu thế kỷ trước. Từ năm 1952 đến 2005 đã có 32 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Thừa Thiên Huế gây mưa lớn và lũ lụt [8]. Không những thế, mực nước biển và đỉnh lũ lần sau luôn cao hơn lần trước. Năm 1999, trận lụt lịch sử đã có độ sâu ngập là 5,81 m. Trong năm 2007, các trận lũ lớn khác diễn ra trong vòng 1 tháng gây thiệt hại nặng nề về người và nhà cửa cho những người dân ở miền Trung. Mưa lớn liên tiếp kéo dài trong nhiều ngày đã gây lũ lớn, lụt lội, ngập úng tại nhiều nơi, phá hủy hàng ngàn công trình giao thông, nhấn chìm hàng nghìn ngôi nhà trong mực nước dâng cao, người dân không còn nơi cư trú, sinh hoạt, phá hủy hoa màu và cây ăn quả thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ đồng - Bão: Nhìn chung, xu hướng những năm gần đây bão càng ngày càng gia tăng về số lượng và cường độ, càng ngày mức độ càng khốc liệt và khó lường, gia tăng tàn phá nhà cửa hoa màu, tàu thuyền đánh cá trên biển - Hạn hán và xâm nhập mặn: Khi nhiệt độ ngày càng tăng cộng thêm gió Tây Nam khô nóng, lượng mưa lại phân bố thất thường và tập trung cao trong mùa mưa; bên cạnh đó, mùa khô kéo dài từ tháng I đến tháng VIII hàng năm, trong đó tập trung chủ yếu từ tháng IV đến tháng VII (thời gian xảy ra hạn hán tập trung chủ yếu vào các tháng III - IV và VII - VIII), lượng mưa chỉ đạt 20% lượng mưa so với trong năm nên tình hình hạn hán trên địa bàn tỉnh liên tục gay gắt và kéo dài. Hạn hán thường xảy ra hàng năm, nhất là trong những năm có hiện tượng El - Nino. Trong quá khứ có những đợt hạn nặng 110 PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM như vào năm 1977 (nắng hạn 43 ngày từ 23/05 đến 04/07), 1993 - 1994, 1997 - 1998, 2003. Đợt hạn năm 1993 - 1994 có thể coi là nghiêm trọng nhất kể từ năm 1977 trong lịch sử, lượng mưa đo được từ tháng I đến tháng VIII năm 1993 chỉ bằng 59% lượng mưa trung bình năm cùng thời kỳ, năm 1994 chỉ bằng 47%; nhiệt độ cao nhất trong hai năm 1993 - 1994 là 39 đến 40°C [9]. Độ mặn bình quân vùng cửa sông từ năm 2001 - 2013 trên 20‰, độ mặn lớn nhất xuất hiện từ đầu tháng VI đến tháng VIII trên 33‰; biên độ dao động độ mặn giữa các năm là 18,1‰ - 29,3‰. Độ mặn lớn nhất có sự thay đổi rất lớn, tăng từ 32,7‰ - 33,9‰. Theo kịch bản phát thải trung bình B2, đến năm 2020 mực nước biển có thể dâng đến 9 cm, tăng lên 25 cm vào năm 2050 và 71 cm vào năm 2100[9], khi đó diện tích đất các xã ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai bị ngập tăng nhanh, đồng nghĩa với sự xâm nhập mặn tăng nhanh. 3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NHIỆP Ở HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 3.1. Thay đổi diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và phân bố cây trồng Trong những năm gần đây, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang chịu sự tác động của BĐKH. Những đợt lũ về bất thường, gia tăng mức độ, quy mô ảnh hưởng, sự xuất hiện các hiện tượng giá rét đã làm thiệt hại rất nhiều diện tích gieo trồng của người dân địa phương, những đợt mưa tiểu mãn tương đối lớn đã gây ngập úng trên một diện tích rộng của huyện. ha 0 100 200 300 400 500 600 700 800 2006 2007 2008 2009 2010 2011 ha Hình 1. Biểu đồ diện tích trồng lúa không được canh tác sau vụ Đông Xuân ở huyện Phú Vang giai đoạn 2006 – 2011[3] Từ biểu đồ cho thấy diện tích trồng lúa sau vụ Đông Xuân không được sử dụng để trồng lúa tiếp trong vụ Hè Thu đến tăng nhanh qua các năm (từ năm 2006 đến 2008 và từ 2009 đến 2010) và chỉ giảm ít từ năm 2008 đến 2009, 2010 đến 2011. Nguyên nhân là do tác động của biến đổi khí hậu: sự thay đổi của thời tiết, gia tăng hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô. Từ 6 – 10/12/2005 và từ 12 – 19/12/2005, 2 đợt mưa to kết hợp triều cường đã làm ngập úng 20 ha mạ, ở Phú An, Phú Đa, Vinh Hà, Vinh Thái, gây thiệt hại 30 – 40% mạ. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP... 111 Từ 16 đến 17/2/2006 mưa to đã gây ngập úng hơn 1000 ha lúa, trong đó nặng nhất là Phú Đa 2, Phú Đa 1, Vinh Thái, Phú Hồ [8] Do ảnh hưởng của đợt mưa to từ 30/4 đến 1/5/2007 đã làm ngập úng trên 600 ha lúa Hè Thu làm chết lúa. Tháng 10 – 11/2007 lũ lụt liên tục gây thiệt hại: lúa giống bị ướt trên 300 tấn, lúa ăn 675 tấn, mạ chết 4,1 ha, ruộng lúa bị bồi lấp phải san ủi 85 ha [8]. Ở một số khu vực gần cửa sông, đầm phá xảy ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn vùi lấp do cát bay, cát chảy làm người dân mất đất sản xuất, di dời nơi ở; sự vùi lấp của cát đã lấy đi diện tích đất sản xuất của người dân, thay đổi cơ cấu sử dụng từ đất trồng trọt thành đất bỏ hoang. Mặt khác nước biển dâng sẽ làm xâm nhập mặn gia tăng, ranh mặn ngọt cũng sẽ thay đổi, hạn hán kéo dài gây thiếu hụt nguồn nước cấp tại các hồ chứa, dẫn đến sự thay đổi phân bố cây trồng, cây trồng có khả năng thích nghi với độ mặn sẽ gia tăng; nhiều nơi có nguy cơ sẽ chuyển mục đích sử dụng đất từ trồng lúa sang nuôi thủy sản. 3.2. Ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất cây trồng và thời vụ gieo trồng Trong những năm gần đây, tình hình hạn hán xuất hiện bất thường và diễn ra ngày càng gây gắt kéo theo quá trình xâm nhập mặn sâu vào đất liền, gây thiếu nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp đã làm giảm năng suất canh tác của người dân tỉnh. Hạn hán làm tăng lượng bốc hơi, lượng mưa đầu nguồn ít làm mực nước các hồ chứa xuống rất thấp, những năm hạn nặng hầu hết ở các hồ chứa, nước để phục vụ tưới tiêu thiếu trầm trọng, hầu hết các hồ chứa loại vừa bị cạn kiệt không đủ nước cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp. Nhất là thời gian từ trổ bông đến chín rộ của lúa ngắn hơn, lá cờ chết sớm hơn, hậu quả là chất bột sản xuất ít hơn và chuyển đến hạt ít hơn, vì vậy hạt gạo sẽ lép hơn và trọng lượng hạt nhỏ hơn, cây cho rơm rạ nhiều hơn hạt. Thời tiết rét kéo dài làm ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như năng suất cây trồng như: năm 2011, hai đợt rét liên tiếp kéo dài hơn một tháng khiến vụ lúa đông xuân ở Phú Vang gặp nhiều khó khăn. Nhiều diện tích lúa của nông dân các huyện Phú Vang trổ muộn so với khung lịch thời vụ, trong đó có nhiều ha lúa sắp đến mùa thu hoạch nhưng bị lép hạt và mất trắng vì chất lượng không bảo đảm. Vụ hè thu 2013, tình hình thời tiết phức tạp khiến nhiều diện tích lúa ở Phú Vang và nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh bị sâu bệnh, lép hạt làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm; năng suất chỉ đạt khoảng 53 tạ/ha. Sự nhiễm mặn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng như: giảm sức nảy mầm của lúa, giảm chiều cao và khả năng đẻ nhánh, hệ rễ phát triển kém, sự tăng trưởng và nở bụi bị đình trệ, giảm sự cố định đạm sinh học và quá trình khoáng hóa đạm trong đất. Rét đậm, rét hại kéo dài đã làm cho nhiều diện tích lúa, lạc, đậu đỗ không gieo được theo khung lịch thời vụ. Khu vực nghiên cứu vào năm 2007-2008 có 743 ha lúa, 277 ha lạc đã gieo bị chết phải gieo trồng lại dẫn đến trễ so với thời vụ hơn 1 tháng, diện tích lúa gieo trước rét kéo dài thời gian sinh trưởng từ 7 - 10 ngày nên khó khăn trong việc thực hiện lịch thời vụ. [9] 112 PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM 3.3. Gia tăng ảnh hưởng của sâu bệnh hại cây trồng Các loại sâu bệnh gia tăng như: sâu cuốn lá, rầy nâu, bọ trĩ... hoành hành và ngày càng lan rộng. Năm 2007, thời tiết nắng ấm kéo dài, các đối tượng sâu bệnh xuất hiện trên địa bàn huyện Phú Vang: bệnh đạo ôn với diện tích bị nhiễm 445 ha; khô vằn cuối vụ nhiễm 625 ha; bệnh thối thân, thối bẹ bị nhiễm 215 ha. Đặc biệt có 2 đối tượng xuất hiện và gây hại nhiều hơn các năm trước là bệnh lép hạt, nhiễm 1.100 ha (tăng 220 ha so với năm 2006). Năm 2012, khu vực thuộc huyện Phú Vang, bệnh đạo ôn lá làm nhiễm ha giảm 193 ha so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó diện tích nhiễm nặng 8,9 ha cục bộ gây cháy chòm trên giống X21, Xi23, BC15 tập trung ở Phú Đa, Vinh Xuân, Phú Diên, Phú Mỹ; Bệnh đạo ôn cổ bông làm nhiễm 107 ha (chủ yếu giống Khang Dân), trong đó diện tích nhiễm nặng 1 ha tập trung chủ yếu ở Phú Xuân, Phú Đa. Bệnh khô vằn gây nhiễm 670 ha, tăng 90 ha so với vụ Đông Xuân năm trước, bệnh cấp 1-3, tỷ lệ bệnh phổ biến 5 - 15%. Các loại nhiễm rầy 456 ha, tăng 400 ha so với Đông Xuân năm trước, trong đó diện tích nhiễm nặng 42 ha, diện tích mất > 70% năng suất: 6 ha tập trung chủ yếu ở Phú Lương, Phú Hồ, Phú Đa,... vào giai đoạn lúa vào chắc - chín, chuẩn bị thu hoạch. Bệnh lem lép hạt nhiễm 188 ha, giảm 42 ha so vụ Đông Xuân 2011 - 2012 diện tích nhiễm bệnh rơi vào trà 3 khi lúa đang trổ gặp đợt không khí lạnh - gió nằm rải rác ở các xã [4]. 3.4. Giảm hiệu quả ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm BĐKH là nguyên nhân gây ra các thiên tai, ảnh hưởng đến con người, cây trồng, vật nuôi; làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, các dịch bệnh gia tăng làm giảm đàn gia súc, gia cầm. Mặt khác, nước biển dâng hay lũ lụt cũng sẽ làm hạn chế diện tích sinh sống, lương thực cần thiết nuôi sống các loại gia cầm gia súc như lúa, cỏ, khoai gián tiếp gây ảnh hưởng đến sự sống của các loài gia súc gia cầm. Bảng 3. Số lượng gia súc thời kỳ 2005 – 2013 ở huyện Phú Vang Đơn vị tính: Con 2005 2010 2011 2012 2013 Đàn trâu 3.968 3.073 3.187 3.073 2.389 Đàn bò 1.659 2.646 2.910 2.689 2.855 Đàn lợn 45.526 48.665 49.599 47.513 45.838 Nguồn: [3] Từ số liệu thống kê cũng cho thấy sự giảm sút về số lượng đàn trâu trong năm 2010, 2012 và đàn lợn 2012,2013. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP... 113 4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp huyện Phú Vang cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: 4.1. Nhóm các giải pháp chung - BĐKH có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến tất cả các ngành, lĩnh vực [2]. Vì thế để phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do tác động của BĐKH trên địa bàn nghiên cứu thì các chiến lược, chính sách cần được nghiên cứu, trao đổi ở tất cả các cấp, ngành, địa phương trên các lĩnh vực. - Trong quy hoạch phát triển nông nghiệp, cần chú trọng đến các khu vực đất nông nghiệp thấp, trũng có khả năng ngập lụt cao, nhất là vùng ven biển; tiến tới chuyển đổi một số vùng đất ngập nước sang nuôi trồng thủy sản; tăng cường một số cây trồng có khả năng thích ứng với sự thay đổi do BĐKH như các giống lúa chịu hạn, các loài cây chịu mặn... - Đổi mới, nâng cao năng lực thích ứng, giáo dục và tuyên truyền; nâng cao nhận thức cộng đồng về tác động của BĐKH nhằm thích ứng và phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại. 4.2. Nhóm giải pháp cụ thể 4.2.1 Đối với trồng trọt - Phát triển hệ thống thủy lợi phục vụ nông nghiệp thích ứng với điều kiện BĐKH Tăng cường đào, nạo vét, đẩy mạnh bê tông hóa và kiên cố hóa kênh mương, đồng thời củng cố hệ thống đê điều, đặc biệt là những khu vực thiếu nước tưới, hạn hán thường xuyên xảy ra. Củng cố và xây dựng bờ bao, đê bao, nâng cấp quy mô và hiệu quả các đập ngăn mặn nhằm kiểm soát tốt nồng độ mặn, hạn chế tình trạng xâm nhập mặn. - Xây dựng và phát triển kỹ thuật canh tác tiên tiến, phù hợp với BĐKH Xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ về phòng trừ sâu bệnh và canh tác cây trồng theo hướng hữu cơ, sinh học. Các mô hình sản xuất sạch, sử dụng chế phẩm sinh học trong nông nghiệp cần được nhân rộng và huy động đông đảo nông dân hưởng ứng thông qua các câu lạc bộ về nghề nông tại địa phương. - Sử dụng giống cây trồng có tính chống chịu cao Phổ biến cho người dân sử dụng các giống chống chịu, giống bản địa hiệu quả, các kỹ thuật chăm sóc thích ứng với các biểu hiện BĐKH của địa phương. Cần nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng thích ứng được với điều kiện canh tác mới và có khả năng chống chịu dịch bệnh cao, thử nghiệm giống ngắn, dài ngày để né tránh thiên tai, nhất là hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn ở những vùng có nguy cơ chịu tác động mạnh phù hợp với từng địa phương như: giống lúa DTL2 và PD211; giống lúa SRI, TH3-3, PD211. - Chuyển đổi cơ cấu cây trồng 114 PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM Chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với tình hình cụ thể. Chú ý chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ độc canh sang luân canh, xen canh nhằm mục đích thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan, cải thiện độ phì nhiêu của đất, phòng tránh dịch bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế, cần chuyển diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng rau màu để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang trồng rau, củ, quả có chất lượng cao với một số loại rau: măng tây, hành tây, hành lá hoặc trồng lạc, đậu, khoai, sắn, ngô. Đây là những loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng ngắn ngày hơn, cần lượng nước ít hơn. - Thay đổi lịch thời vụ Lịch thời vụ sản xuất cần được các ban ngành nông nghiệp địa phương xây dựng trên cơ sở điều kiện khí hậu, thời tiết, cơ cấy cây trồng, vật nuôi hàng năm và những kiến thức bản địa trong dự đoán thời tiết của người dân, để từ đó điều chỉnh lịch thời vụ luồn lách hoặc hạn chế được tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan. 4.2.2. Đối với chăn nuôi - Tăng cường việc sản xuất, chế biến, sử dụng thức ăn chăn nuôi Đảm bảo thức ăn đủ chất dinh dưỡng và nguồn nước sạch cho gia súc, gia cầm, giúp vật nuôi có sức đề kháng với các loại bệnh dịch. - Tăng cường công tác phòng chống dịch bịnh cho vật nuôi Cần các con giống gia súc, gia cầm từ các cơ sở chăn nuôi và vùng không có dịch. Giữ chuồng trại và khu chăn thả luôn khô sạch, thoáng mát và phải phun thuốc sát trùng định kỳ 2 tuần/lần để tiêu diệt mầm bệnh. Tiêm vắc-xin phòng bệnh cho các loại vật nuôi như các bệnh về dịch tả, tụ huyết trùng, thương hàn - Chọn giống vật nuôi có tính chống chịu cao Đẩy mạnh công tác chọn giống; cần chọn lựa được tập đoàn giống, nhóm giống có năng suất sinh học cao vừa thích nghi với điều kiện từng vùng sinh thái, vừa có tính kháng bệnh cao, có tính chống chịu với sự thay đổi của môi trường. 4.2.3. Đối với đánh bắt, nuôi trồng thủy sản Qui hoạch nuôi trồng thủy sản hợp lý + Nuôi thủy sản trong các ao hồ: Nuôi trồng thủy sản tại các ao hồ với các hệ thống nuôi bán thâm canh và quảng canh cải tiến. Cần củng cố hệ thống ao hồ bằng cách kiên cố hóa bờ ao (kè gạch hay bê tông) và củng cố hệ thống xử lý nước (cung cấp và thải).. + Nuôi thủy sản nước ngọt kết hợp trồng lúa: Các khu vực ruộng trũng vùng ven đầm phá Tam Giang – Cầu Hai sẽ được bao bọc bởi các bờ hoặc hệ thống bờ đủ cao. Thay thế diện tích lúa 2 vụ thường bị ngập lụt. Nuôi thủy sản nước mặn, lợ sử dụng từ vùng đất bãi triều, vùng đất ruộng 1 vụ năng suất thấp, vùng bị nhiễm mặn, vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Hoàn nguyên các vùng nuôi đầm phá, vùng nuôi kém hiệu quả. Tập trung cho vùng nuôi cao triều, nuôi trên cát. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP... 115 Đẩy mạnh quá trình nghiên cứu công nghệ, giải pháp cải thiện giống Đa dạng sản xuất, chọn giống, cải tiến kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng thủy sản phù hợp giới hạn chịu mặn, nhiệt độ và mưa lũ của các loài thủy sản, phát triển nhanh, khả năng kháng bệnh tốt. 5. KẾT LUẬN BĐKH đã tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu đó là: giảm diện tích đất nông nghiệp do xâm nhập mặn, cát lấn; thay đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và phân bố cây trồng; ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất cây trồng và thời vụ gieo trồng; gia tăng ảnh hưởng của sâu bệnh hại cây trồng; giảm hiệu quả ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm; tác động tiêu cực đến đánh bắt và nuôi trồng thủy sản như: gây suy giảm nguồn lợi thủy sản; tác động đến môi trường nuôi trồng thủy sản do nhiệt độ tăng và hạn hán; gia tăng thiệt hại của ngành đánh bắt, giảm giá trị sản xuất của ngành thủy sản Những tác động của BĐKH đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân nông thôn, gia tăng tình trạng nghèo đói, làm phá vỡ hệ sinh thái ven biển và cạn kiệt tài nguyên. Trên cơ sở phân tích các biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp, bài báo đề xuất một số giải pháp góp phần vào việc phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại do tác động của biến đổi khí hậu cho ngành sản xuất nông nghiệp đảm bảo các yêu cầu về tính khả thi, phù hợp với điều kiện và năng lực thực tế của địa phương ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng bền vững. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội. [2] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của các Bộ, ngành, địa phương (Kèm theo Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội. [3] Chi cục Thống kê huyện Phú Vang (2000-2013). Niên giám thống kê huyện Phú Vang năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2008,2009, 2010, 2011, 2012, Thừa Thiên Huế. [4] Đào Xuân Học (2002). Nghiên cứu các giải pháp giảm nhẹ thiên tai hạn hán ở các tỉnh duyên hải Miền Trung (từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận), Đề tài NCKH cấp Nhà nước, Trường Đại học Thuỷ Lợi Hà Nội. [5] Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Văn Thắng, Trần Thục (2008). Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và giải pháp ứng phó, Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, Hà Nội. [6] UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2013). Quyết định số 313/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, Thừa Thiên Huế. [7] UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2013). Quyết định số 313/QĐ-UBND về việc phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, Thừa Thiên Huế. 116 PHAN THỊ CẨM HẰNG – LÊ NĂM [8] UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2013). Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, Thừa Thiên Huế. [9] Lê Nguyên Tường và nnk (2010). Một số kết quả bước đầu trong nghiên cứu biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu ở lưu vực sông Hương và huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10, Viện Khoa học KTTV&MT, Hà Nội. Title: IMPACT OF CLIMATE CHANGE FOR AGRICULTURAL PRODUCTION PHU VANG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE Abstract: Phu Vang district is low coastal plain of Thua Thien Hue province. In recent years, the agricultural sector of the district is affected and influenced by many of disaster such as storms, floods, sea level rise, salinization is complex, ... greatly influenced the lives and activities the local people. In that climate change affects of the agricultural sector such as the growth, yield, the planting season, narrowing agricultural land, increase the risk of plant pests plant reproduction affect the growth of cattle and avian. The paper has assessed the impact of climate change on agricultural production in the study area. On that basis, proposed a number of solutions to help Phu Vang district, Thua Thien Hue province agriculture more resilient to climate change, contributing to the development of sustainable agriculture. Keywords: climate change, agricultural production, Phu Vang district PHAN THỊ CẨM HẰNG Học viên Cao học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế ĐT: 0974 673 851, Email: phancamhang@gmail.com TS. LÊ NĂM Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế ĐT: 0914 242 928, Email: lenamdhsphue@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftac_dong_cua_bien_doi_khi_hau_den_san_xuat_nong_nghiep_huyen.pdf