Chính sách phát triển vùng: Kinh nghiệm quốc tế và hướng vận dụng ở Việt Nam

- Trong điều kiện nền kinh tế mở và hội nhập, hợp tác quốc tế trở thành một nhân tố quan trọng của sự phát triển, điều này cần thiết phải cân nhắc khi soạn thảo và thực hiện các chiến lược phát triển vùng. Các chương trình phát triển có quy mô quốc tế và khu vực có ảnh hưởng rất lớn lên các chương trình, dự án phát triển vùng. Ví dụ như: Chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Kông, Dự án đường xuyên Á ở khu vực miền Trung, dự án hợp tác hành lang phát triển Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc); ngoài ra còn có những “tam giác” hay “tứ giác” phát triển ở các nước xung quanh; - Việt Nam là nước có đến 31 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương tiếp giáp với biển, vì vậy quan niệm kết hợp đất liền - vùng biển - đảo và quần đảo cần phải trở thành nguyên tắc bắt buộc cần phải tuân theo khi soạn thảo các chương trình, dự án phát triển vùng; - Để tạo ra các tiền đề thuận lợi cho phát triển nhanh các vùng và giảm sự chênh lệch giữa chúng, Nhà nước cần lựa chọn các địa điểm đầu tư hợp lý để xây dựng các trung tâm và các “cực tăng trưởng” mới ở các vùng còn thiếu vắng hệ thống đô thị, để từ đó nhờ hiệu ứng “lan toả” sẽ thúc đẩy phát triển toàn vùng

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 12/03/2022 | Lượt xem: 58 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chính sách phát triển vùng: Kinh nghiệm quốc tế và hướng vận dụng ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
52(4): 27 - 29 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 1 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HƯỚNG VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM Nguyễn Xuân Trường (Đại học Thái Nguyên) Tóm tắt Trong bài báo tác giả đề cập đến các vấn đề sau đây: 1) Tầm quan trọng của vấn đề tổ chức không gian lãnh thổ quốc gia và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý điều tiết phát triển lãnh thổ; 2) Bước đầu đề cập đến khái niệm chính sách vùng, bản chất của chính sách vùng; 3) Các phương hướng thực hiện chính sách vùng trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; 4) Các công cụ điều tiết phát triển vùng ở Việt Nam theo quan niệm chính sách vùng. Từ cách tiếp cận và phân tích chính sách vùng, tác giả đưa ra một số khuyến nghị trong việc thực hiện chính sách này trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập của Việt Nam hiện nay. 1. Vấn đề tổ chức không gian lãnh thổ và điều tiết phát triển vùng của đất nước luôn nhận được sự quan tâm của bất kỳ nhà nước nào trên thế giới. Ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, điều tiết phát triển vùng là một trong những phân hệ quan trọng nhất của quy hoạch và quản lý nhà nước. Trong các nước có nền kinh tế thị trường phát triển (Bắc Mỹ, Tây Âu), hệ thống chính sách điều tiết phát triển vùng của nhà nước hiện nay đã được hình thành từ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929 - 1933, và có hình thức phát triển cao hơn khi nền kinh tế các nước này bước vào giai đoạn phục hồi sau chiến tranh thế giới thứ II. Trong vài chục năm gần đây, hệ thống chính sách điều tiết của nhà nước phát triển vùng ở các nước châu Á (Đông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc) cũng không ngừng được hoàn thiện. Sự tích cực hoá hoạt động này của nhà nước được giải thích bởi lí do, nếu như không giải quyết được các vấn đề vùng thì không thể thực hiện được các mục tiêu quốc gia, cụ thể là: ổn định và phát triển kinh tế, san bằng sự bất bình đẳng về thu nhập, vấn đề việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư. 2. Cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi xem xét khái niệm về vùng. Trong khi khái niệm quốc gia là tương đối rõ ràng và trong tiến trình hội nhập quốc tế, lợi ích của mỗi quốc gia với tư cách là một chủ thể nghiên cứu được thể hiện khá rõ thì vấn đề hội nhập giữa các vùng, đặc biệt là khi phân biệt thành các vùng hành chính nhiều khi không thể hiện được các lợi ích kinh tế tương ứng. Theo Bùi Nhật Quang (Viện nghiên cứu Châu Âu) có thể xem xét và phân biệt vùng theo ba góc độ khá riêng biệt bao gồm: 1) Vùng với tư cách là một thực thể hành chính; 2) Chủ nghĩa phân vùng được xem xét dưới góc độ các trào lưu chính trị và trường phái tư tưởng; 3) Vùng được xem xét dưới góc độ thực hiện các chính sách phát triển vùng. Ở đây chúng tôi chú ý đến cách đặt vấn đề theo hướng thứ ba - vùng được định nghĩa dưới góc độ là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia với các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển tương đối khác biệt và chênh lệch so với các bộ phận lãnh thổ khác, đòi hỏi quốc gia đó phải thực hiện các chính sách phát triển vùng với một hệ thống các công cụ, phương tiện can thiệp khác nhau nhằm đảm bảo sự gắn kết chung giữa các bộ phận lãnh thổ này trong một thực thể quốc gia thống nhất. Từ khái niệm vùng đã được xác định trên, có thể đưa đến định nghĩa về chính sách vùng - đó là sự phối hợp hoạt động theo một phương hướng nhất định với phương thức tiếp cận và cách thức thực hiện được quy định cụ thể. Các hoạt động này được cơ quan quản lý Nhà nước các cấp tổ chức, điều phối thực hiện để đạt tới mực tiêu cuối cùng là tăng cường khả năng cạnh tranh, tiềm lực kinh tế và đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các lãnh thổ còn lại của quốc gia [10]. Mục tiêu cơ bản của chính sách vùng là kích thích sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế đất nước và phát triển cân bằng giữa các vùng. Mục 52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 23 tiêu cân bằng là hướng tới một sự hài hoà tương đối giữa các vùng về thụ hưởng phúc lợi xã hội, thu nhập và cơ hội phát triển của công dân và các nhóm xã hội. Ngược lại, mục tiêu tăng trưởng hướng vào việc sử dụng tối ưu tất cả các nguồn lực và lợi thế của từng vùng để thúc đẩy mức tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. 3. Chính sách vùng là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội quốc gia, là một nhân tố chủ yếu tạo ra của sự phát triển bền vững của đất nước. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, gắn liền với điều kiện lịch sử, hệ thống và cơ cấu chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một nước. Trên nền chung việc thực hiện chính sách vùng ở các nước phương Tây, có thể phân chia làm bốn phương hướng sau: + Phương hướng thứ nhất là phát triển các vùng nông nghiệp lạc hậu, hay theo cách gọi khác đó là các vùng có vấn đề, vùng đặc biệt khó khăn. Đặc điểm chung của những vùng này là sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ còn rất yếu, sự di cư của một bộ phận dân cư (chủ yếu là những lao động trẻ) và sự già hoá dân số, mức độ thất nghiệp cao, sự thiếu nguồn vốn đầu tư. Ví dụ: miền Nam của Italia rất lạc hậu so với vùng công nghiệp giàu có phía Bắc. Thuộc về các vùng như vậy ở Pháp đó là các vùng thuộc khối núi trung tâm, vùng Tây Bắc, ở Tây Ban Nha là một vài khu vực ở phía Nam và Trung tâm, ở Anh là xứ Xcốtlen, ở Mỹ là cao nguyên Côlôrađô, Arirôna, Niu-Mêxicô Chính sách vùng đối với các vùng nói trên là ưu đãi thuế, tổ chức và xây dựng các quỹ đặc biệt (chẳng hạn như quỹ miền Nam Italia), nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và hạ tầng xã hội. Ngoài ra các trung tâm công nghiệp quy mô lớn đóng vai trò “cực tăng trưởng” cũng được xây dựng ở những vùng này. Lần đầu tiên quy chế về xây dựng các “cực tăng trưởng” được thông qua ở Italia năm 1957 trong khuôn khổ của chính sách vùng, tiếp theo đó các “cực tăng trưởng” cũng bắt đầu được xây dựng ở Tây Ban Nha, Pháp và các nước khác. Trong thời gian gần đây cùng với quá trình công nghiệp hoá ở các vùng kém phát triển, người ta cũng đã dành nhiều sự chú ý cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, du lịch và dịch vụ. + Phương hướng thứ hai của chính sách vùng là làm “sống lại” các vùng đình trệ. Đó là những vùng công nghiệp cũ với sự phát triển chủ yếu các ngành công nghiệp khai khoáng (công nghiệp khai thác than, quặng sắt), công nghiệp dệt đã xuất hiện trong thời kỳ cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII - XIX. Sự chuyển đổi việc sử dụng nguồn năng lượng từ than đá sang dầu mỏ và khí đốt trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, việc thay thế khai thác quặng kim loại địa phương bằng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, việc sử dụng sợi nhân tạo thay thế dần sợi tự nhiên trong công nghiệp dệt đã dẫn tới sự sụp đổ và đình trệ nền kinh tế của vùng. Hậu quả dẫn đến là khủng hoảng về mặt xã hội: di dân, khủng hoảng cơ cấu dân số, thất nghiệp cơ cấu. Vùng Apalatxơ bao trùm hoàn toàn hay một phần lãnh thổ 13 bang của Mỹ với dân số gần 20 triệu người là một ví dụ rõ nhất của vùng đình trệ, bởi vì đây là vùng có bể than lớn nhất nước Mỹ. Chính sách vùng đối với các vùng đình trệ còn đuợc thực hiện bằng cách xây dựng các ngành sản xuất mới và hiện đại, liên quan chặt chẽ với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và vấn đề cơ cấu lại lực lượng lao động. + Phương hướng thứ ba của chính sách vùng là kìm hãm sự tăng trưởng quá mức của các siêu đô thị lớn, đặc biệt là các thành phố thủ đô. Sự tăng trưởng quá mức các siêu đô thị diễn ra những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Hậu quả của nó là sự ô nhiễm môi trường thành phố và sự xuống cấp điều kiện sống, làm trầm trọng tình trạng thiếu nhà ở Kết quả là các luồng di dân quy mô lớn của các tầng lớp trung lưu và thượng lưu từ trung tâm thành phố ra ngoại ô. Việc kìm hãm sự bùng phát các siêu đô thị khổng lồ trở nên cấp thiết và là một nhiệm vụ chủ yếu của chính sách vùng. Điều này đạt được trước tiên nhờ sự giúp đỡ của việc quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị được áp dụng phổ biến ở Pháp, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản và Canada. Ở Anh và Pháp người ta đã tiến hành xây dựng các thành phố “vệ tinh” để giảm tải cho các siêu đô thị, hoặc người ta tiến hành di chuyển các nhà máy xí nghiệp lớn ra khỏi các thành phố. Tất nhiên, khi các nhà máy được di chuyển ra các vùng khác thì chính phủ các nước này có những chính sách phù hợp để khuyến khích (giảm thuế thuê đất hoặc miễn một số loại thuế) 52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 24 + Phương hướng thứ tư của chính sách vùng là tiến hành khai thác tài nguyên ở các lãnh thổ mới có điều kiện tự nhiên khó khăn. Trước chiến tranh thế giới lần thứ II các nước Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản có thể dựa vào nguồn nguyên liệu và nhiên liệu ở các thuộc địa và nửa thuộc địa của mình, cho nên sự chú ý của họ đến các vùng lãnh thổ xa xôi của đất nước là rất hạn chế. Sau khi hệ thống thuộc địa bị sụp đổ, sự quan tâm của các nước phương Tây đến với các vùng đất mới của mình tăng lên. Ngoài ra sự cần thiết chuyển hướng phát triển công nghiệp dựa trên nguồn tài nguyên của mình để tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài đã dẫn đến việc khai thác mạnh mẽ các vùng đất rộng lớn (Alaxca của Mỹ, Bắc Canađa, Ôxtrâylia). Nhìn chung các kết quả việc thực hiện chính sách vùng của các nước phương Tây còn khá nhiều hạn chế, sự chênh lệch vùng vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều, nếu như không có sự thực hiện các chính sách này, nhiều vùng lãnh thổ ở các nước Tây Âu đã rơi vào tình trạng đình trệ sâu sắc hơn. Ở các nước đang phát triển, việc thực hiện chính sách vùng có những đặc điểm riêng. Đối với các nước này thì vấn đề “hồi phục” và làm “sống lại” các vùng công nghiệp đình trệ có tính thời sự không lớn, nhưng ba phương hướng còn lại vẫn được coi là khá phổ biến. Đó là sự phát triển các vùng lạc hậu, trong số đó là sự xuất hiện các công trường xây dựng mới nhằm tạo ra các “cực tăng trưởng” (ví dụ như công trình đập thuỷ điện Aswan ở Ai Cập, Bkhilai ở Ấn Độ), đó là việc kìm hãm sự tăng trưởng quá mức các siêu đô thị, đó cũng là vấn đề khai thác tài nguyên ở các vùng lãnh thổ mới, trong đó vùng Amazôn của Braxin là một ví dụ rõ nhất. Một vài nước đang phát triển (Braxin, Pakixtan, Tandania, Nigiêria, Cốt-đivoa..) đã di chuyển thủ đô của mình từ các vùng ven biển vào sâu trong nội địa. Một loạt các thay đổi trong mô hình phát triển kinh tế và sự thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước (ví dụ các nước Châu Mỹ La tinh) đã không dẫn đến sự thủ tiêu các chương trình phát triển vùng, mặc dù các hình thức thực hiện chúng có sự thay đổi. 4. Liên bang Nga đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách vùng, nhiều chương trình lớn phát triển vùng đã được soạn thảo và thực hiện ở Liên Xô cũ, mặc dù sự thành công của chúng ở mức độ khác nhau. Kế hoạch GOELRO điện khí hoá toàn Nga là một minh chứng của sự thành công đó, tiếp theo đó là các chương trình phát triển Bacu, Nam Vonga, thảo nguyên Trung Á.... Tuy nhiên, trong thời kỳ Liên Xô cũ, nói đến khía cạnh chính sách phát triển vùng người ta thường hay sử dụng thuật ngữ “Phân bố lực lượng sản xuất”, điều này không phải là ngẫu nhiên, bởi vì trong những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, nhiệm vụ cơ bản của phát triển vùng liên quan đến phân bố sản xuất. Chỉ từ giữa những năm 1970, vấn đề phát triển tổng thể nền kinh tế vùng bắt đầu được thể hiện trong các văn bản pháp lý (năm 1975, phương pháp luận quy hoạch tổng thể các tỉnh, khu vực, khu tự trị của Nga và một loạt các nước cộng hoà khác được thông qua). Đặc điểm có tính nguyên tắc chính sách vùng trong thời kỳ đó là tính chất quốc gia. Nội dung chủ yếu của nó là thực hiện các nhiệm vụ quốc gia có cân nhắc đến phân bố các cơ sở tài nguyên và đặc điểm kinh tế - xã hội các vùng. Sự khác biệt về bản chất của chính sách vùng của Liên Xô cũ với các nước kinh tế phát triển phương Tây là rất rõ. Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể chỉ ra: Thứ nhất, đối với Liên Xô cũ và nước Nga hiện nay việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có của đất nước là một phương hướng quan trọng. Vì vậy, các vấn khai khẩn các vùng đất mới ở phía Bắc và phía Đông thường xuyên được coi là là một nhiệm vụ cơ bản của chính sách vùng. Thứ hai, trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch tập trung, vấn đề chênh lệch về thu nhập của dân cư giữa các nước cộng hoà liên bang được giải quyết ở cấp độ toàn liên bang thông qua việc phân phối lại nguồn tài chính là điều có thể chấp nhận. Thứ ba, sự phân hoá giữa các vùng không làm ảnh hưởng đến tình hình chính trị, xã hội đất nước trong điều kiện sự quản lý của chính quyền trung ương tập trung còn mạnh. Vì vậy, nhiệm vụ “san bằng trình độ phát triển kinh tế - xã hội” mang tính chất không hẳn về mặt kinh tế, mà chủ yếu mang tính chất chính trị liên quan đến cấp độ các nước cộng hoà liên bang. Sau khi Liên Xô cũ sụp đổ, mối liên hệ kinh tế không chỉ giữa các nước cộng hoà ở Liên Xô cũ, mà ngay cả giữa các chủ thể của Liên bang Nga cũng bị phá vỡ. Nước Nga trở thành một quốc gia 52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 25 độc lập và bắt đầu tổ chức lại, chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung của chính sách vùng. Hiện nay chính sách vùng của Liên bang Nga được thực hiện ở cả cấp độ liên bang, liên vùng, nội vùng. Tất cả 89 chủ thể liên bang (các nước cộng hoà, khu tự trị, vùng tự trị, tỉnh.) trở thành đối tượng hướng đến của các chương trình phát triển vùng. Từ năm 2000, khi cuộc cải cách hành chính tận gốc được thực hiện đã hình thành 7 khu vực liên bang (khu vực Trung tâm, khu Tây Bắc, khu cận Vonga, khu Nam, khu Uran, khu Xibêri và Viễn Đông). Năm 2001, chương trình phát triển vùng đầu tiên “vùng Nam nước Nga” đã được thông qua, sau đó một số chương trình khác cũng được triển khai. 5. Ở nước ta hiện nay tuy không có sự tương phản rõ nét giữa các vùng lớn của đất nước, nhưng sự phát triển chênh lệch đáng lo ngại nhất chính là khoảng cách giữa các trung tâm đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng với phần còn lại của đất nước, khoảng cách về trình độ phát triển giữa khu vực miền Trung với hai đầu của đất nước (miền Bắc và miền Nam), sự tụt hậu ngày càng xa hơn của các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa so với mặt bằng chung của cả nước. Thành quả của 20 năm đổi mới dường như mới chỉ thấy rõ nhất ở các khu vực đô thị, các thành phố lớn mà chưa thực sự thay đổi về chất tại các vùng nông thôn miền núi khó khăn. Đã có những khuyến nghị thiện chí từ phía bạn bè quốc tế và đặc biệt điều này cũng được Chính phủ Việt Nam quan tâm chú ý. Đã có nhiều chương trình, chính sách phát triển được thực hiện như chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là chương trình 135), Các công trình trọng điểm quốc gia cũng có ý nghĩa quan trọng phát triển vùng: công trình nhà máy thuỷ điện Sơn La, Na Hang, các công trình thuỷ điện ở Tây Nguyên, công trình nhà máy lọc dầu Dung Quất, công trình nhà máy khí - điện - đạm Cà Mau, Phú Mỹ Việc hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ là một biểu hiện của chính sách đầu tư có trọng điểm nhằm tạo ra các đầu tàu kinh tế thúc đẩy nền kinh tế cả nước. Cho đến nay vẫn chưa có những đánh giá tổng kết chính thức về chính sách phát triển vùng của Việt Nam, nhưng có thể nói các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam đã và đang đem lại những chuyển biến tích cực. Vấn đề đặt ra là các chính sách này cần phải được điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp với thực tế phát triển của đất nước và xu thế toàn cầu hoá. Một điều cần chú ý là không thể không tham khảo kinh nghiệm thực hiện chính sách vùng của nước ngoài, đặc biệt như các quốc gia đang có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế hành chính tập trung sang cơ chế thị trường. 6. Từ việc nghiên cứu lý luận chính sách và kinh nghiệm của nước ngoài trong việc soạn thảo và thực hiện chính sách vùng, thực tiễn phát triển vùng của Việt Nam, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị sau: - Vai trò của Nhà nước là cực kỳ quan trọng đối với phát triển vùng. Nước ta đã xây dựng được một hệ thống chính trị ổn định nhưng hệ thống thể chế, bộ máy quản lý hành chính, đặc biệt là tại các địa phương, các vùng kém phát triển còn yếu kém dẫn đến khả năng quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư còn hạn chế. Nhà nước cần phải xây dựng một bộ khung pháp lý rõ ràng và thể chế hoá thành một hệ thống chính sách với tư cách là chính sách trung mô của quốc gia - chính sách vùng. - Cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương trong điều phối chính sách để các chủ chương chính sách chung của Trung ương thực sự gắn với các điều kiện cụ thể của địa phương. Bên cạnh lợi ích quốc gia đặt ở vị trí cao nhất nhưng không vì thế mà bỏ qua các lợi ích của địa phương. Các chính sách của nhà nước đối với các vùng cần phải được thực hiên nhất quán ở tất cả các địa phương và cần được giám sát thực hiện sát sao, tránh việc các địa phương tự tiện “phá rào” ảnh hưởng đến lợi ích toàn cục. - Phát triển vùng là một quá trình lâu dài và phức tạp, cho nên cần nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của công việc này và xây dựng được một cơ sở lý luận vững chắc thông qua việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ thuộc các cơ quan xây dựng chính sách có đủ trình độ, năng lực xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chiến lược, chương trình, chính sách phát triển vùng; - Nhà nước cần sớm nghiên cứu mô hình một cơ quan tổ chức tư vấn phát triển vùng phù hợp. Vùng không phải là một đơn vị hành chính hay một khu vực hành chính, đồng thời vùng cũng không 52(4): 22 - 26 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 26 phải là phép cộng đơn thuần của các đơn vị hành chính. Do vậy, để tăng cường khả năng phối hợp hoạt động các địa phương trong vùng có thể thành lập Hội đồng tư vấn phát triển vùng. Ví dụ: ở Pháp có Hội đồng vùng; còn ở Nga ngoài cơ quan quản lý nhà nước là Bộ phát triển vùng, trong 7 khu vực liên bang có cơ quan đại diện của chính quyền trung ương và người đứng đầu là đại diện toàn quyền của Tổng thống tại các khu vực liên bang. - Quy hoạch vùng phải là quy hoạch tổng thể, các quy hoạch ngành đơn lẻ (quy hoạch hệ thống giao thông, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch sử dụng đất) phải tuân thủ theo quy hoạch tổng thể, có như vậy mới tránh khỏi lãng phí và sự chồng chéo trong các quy hoạch. Đặc biệt trong quy hoạch vùng cần phải đổi mới quan niệm, đó là cần phải “phá vỡ” ranh giới hành chính, điều này đã được các cơ quan chức năng chú ý khi quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội với không gian mở rộng ra các tỉnh lân cận trong khoảng bán kính từ 50 - 100 km. Tương tự như vậy quy hoạch vùng Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận cũng có bán kính lan toả tương tự. - Để có nguồn vốn hỗ trợ phát triển vùng, ngoài sự ưu tiên nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước để xây dựng các công trình hạ tầng lớn, cần phải huy động cả hệ thống xã hội vào giải quyết vấn đề này và không loại trừ huy động cả nguồn vốn từ bên ngoài; - Trong điều kiện nền kinh tế mở và hội nhập, hợp tác quốc tế trở thành một nhân tố quan trọng của sự phát triển, điều này cần thiết phải cân nhắc khi soạn thảo và thực hiện các chiến lược phát triển vùng. Các chương trình phát triển có quy mô quốc tế và khu vực có ảnh hưởng rất lớn lên các chương trình, dự án phát triển vùng. Ví dụ như: Chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Kông, Dự án đường xuyên Á ở khu vực miền Trung, dự án hợp tác hành lang phát triển Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc); ngoài ra còn có những “tam giác” hay “tứ giác” phát triển ở các nước xung quanh; - Việt Nam là nước có đến 31 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương tiếp giáp với biển, vì vậy quan niệm kết hợp đất liền - vùng biển - đảo và quần đảo cần phải trở thành nguyên tắc bắt buộc cần phải tuân theo khi soạn thảo các chương trình, dự án phát triển vùng; - Để tạo ra các tiền đề thuận lợi cho phát triển nhanh các vùng và giảm sự chênh lệch giữa chúng, Nhà nước cần lựa chọn các địa điểm đầu tư hợp lý để xây dựng các trung tâm và các “cực tăng trưởng” mới ở các vùng còn thiếu vắng hệ thống đô thị, để từ đó nhờ hiệu ứng “lan toả” sẽ thúc đẩy phát triển toàn vùng. Tài liệu tham khảo [1] Alaev. E.B (1987). Các vấn đề vùng của các nước tư bản phát triển: khả năng sử dụng kinh nghiệm nước ngoài. Matxcova, LB Nga (Tiếng Nga). [2] Artobolepvxki. X.X (1992). Chính sách vùng các nước phát triển Tây Âu: khía cạnh lí luận, phương pháp luận và thực tiễn. Tóm tắt luận văn Tiến sĩ địa lí. Matxcova, LB Nga, (Tiếng Nga). [3] Burmatova. O.P (2000). Chính sách vùng của Nga. Hôvôsibiski, LB Nga, (Tiếng Nga). [4] Butov. V.I (2000). Cơ sở kinh tế vùng. Rôtstốp trên sông Đông, LB Nga, (Tiếng Nga). [5] Gladki. Iu.N, Chistabaev.A.I (1998). Cơ sở chính sách vùng. Sanhpertecbua, LB Nga, (Tiếng Nga). [6] Chistabaev.A.I (1996). Địa lí và quản lí vùng. Tạp chí khoa học, Trường ĐH Tổng hợp Quốc gia Santpertecbua, LB Nga, (Tiếng Nga). [7] N.I. Larin (1996). Kinh nghiệm thế giới thực hiện chính sách vùng. Matxcơva, (Tiếng Nga). [8] Viện chiến lược phát triển - Bộ kế hoạch và đầu tư (2003). Cơ sở khoa học phân vùng kinh tế Việt Nam phục vụ phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hà Nội. [9] Ngô Doãn Vịnh (2003). Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: học hỏi và sáng tạo. Hà Nội. [10] Bùi Nhật Quang (2006). Chính sách phát triển vùng của Italia. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. 52(4): 3 - 12 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 4 - 2009 27 Summary In the article, the following issues have been mainly discussed: 1) Importance of organizing national territory and the roles of the government in implementing the function of national territory development; 2) Definition of regional policies and their nature; 3) Orientations approaching regional policies in the world and lessons learnt applying in the context of Vietnam; 4) Adjustment methods for regional development in Vietnam according to the opinion on regional policies. From the approach and regional analysises, the writer has recommended several suggestions of carrying out regional policies in the Vietnam’s context of a marketing economy and international intergration.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfchinh_sach_phat_trien_vung_kinh_nghiem_quoc_te_va_huong_van.pdf