Ứng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của Viettel và Vinaphone

Trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết trò chơi được ứng dụng rất rộng rãi để phân tích các chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp độc quyền nhóm. Thị trường viễn thông Việt Nam là 1 thị trường độc quyền nhóm đang phát triển hết sức sôi nổi. Trong đó, Viettel và Vinaphone được coi là 2 trong 3 đại gia của thị trường. Vậy các chiến lược cạnh tranh về giá cả, sản lượng và quảng cáo của 2 đại gia này như thế nào dưới 1 góc độ tiếp cận hoàn toàn mới mẻ và hiện đại _ dứoi góc độ lý thuyết trò chơi? ĐỀ CƯƠNG BÀI TIỂU LUẬN: Chương 1: Những lý luận chung về ứng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp độc quyền nhóm 1.1.Lý luận chung về độc quyền nhóm 1.1.1.Đặc trưng của thị trường độc quyền nhóm 1.1.2.Các mô hình độc quyền nhóm cơ bản 1.1.3.1.Độc quyền nhóm không cấu kết - Mô hình Cournot - Mô hình Stackelberg - Mô hình Bectrand 1.3.1.2.Tính cứng nhắc của giá cả và mô hình đường cầu gãy 1.3.1.3.Hiện tượng cấu kết và chỉ đạo giá 1.2.Lý thuyết trò chơi 1.2.1.Lý thuyết trò chơi là gì 1.2.2.Những khái niệm cơ bản trong lý thuyết trò chơi 1.2.3.Cân bằng trong lý thuyết trò chơi 1.2.3.1.Giả định nghiên cứu 1.2.3.2.Cân bằng Nash và chiến lược ưu thế 1.3.Úng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp độc quyền nhóm trong viễn thông di động của Việt Nam 2.1.Tỏng quan về thị trường viễn thông di động của Việt Nam 2.2.Ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động ở Việt Nam (Viettel và Vinaphone) -Vài nét về Viettel. -Về Vinaphone. 2.2.1.Chiến lược cạnh tranh về giá cước 2.2.2.Chiến lược cạnh tranh về khuyến mãi 2.2.3.Quyết định đầu tư vào sản phẩm mới. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc ứng dụng lý thuyết trò chơi trong việc ra quyết định chiến lược cạnh tranh đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động trên thị trường Việt Nam hiện nay 3.1.Đa dạng hóa các loại hình kinh doanh 3.2.Phát triển thị trường mới 3.3.Nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng 3.4.Đầu tư công nghệ hiện đại 3.5.tạo lập môi trường kinh doanh 3.6.Chủ động đầu tư ra nước ngoài 3.7.Phát triển nguồn nhân lực

doc25 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 9284 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Ứng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của Viettel và Vinaphone, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chương 1: Những lý luận chung về độc quyền nhóm và lý thuyết trò chơi 1.1.Độc quền nhóm 1.1.1.Đặc trưng của thị trường độc quyền nhóm - Trên thị trường độc quyền nhóm chỉ có một số ít cung ứng phần lớn hoặc toàn bộ sản phẩm thị trường. - Sản phẩm, hàng hóa có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất - Có rào cản lớn về việc gia nhập, rút lui khỏi thị trường - Tính phu thuộc lẫn nhau giữa các hãng trên thị trường độc quyền nhóm là rất lớn: Do có ít các công ty trong một ngành độc quyền thiểu số, sản lượng của mỗi công ty chiếm một thị phần lớn trên thị trường. Do điều này, quyết định giá cả và sản lượng của mỗi công ty có tác động đáng kể lên lợi nhuận của các công ty khác. 1.1.2.Các mô hình độc quyền nhóm cơ bản 1.1.2.1.Mô hình couunort:( Do Augustin Cournot đưa ra vào năm 1838) Là mô hình độc quyền nhóm trong đó: Các hãng sản xuất sản phẩm đồng nhất Các hãng đều biết về đường cầu thị trường Các hãng phải quyết định sản lượng đồng thơi ( quyết định khi chưa biết quyết định của hãng đối thủ) P MR1(75) MR1(50) D1(75) D1(50) D1(0) MR1(0) 0 12,5 25 50 Q -Giả sử trong thị trường có 2 hãng là đối thủ La hãng1(H1) và hãng2 (H2) -Nếu H1 nghĩ H2 không sản xuất bất cứ đơn vị sản phẩm nào thì toàn bộ đường cầu thị trường là đường cầu của H1 (D0;MR0) H1 sẽ sản xuất Q=MR0MC1 với mức 50 (dvsp) -Nếu H1 nghĩ H2 sẽ sản xuất ở mức sản lượng 50(dvsp) thì đường cầu của H1 sẽ dịch chuyển sang trái(D50;MR50) với mức sản lượng Q=25(dvsp) -Nếu H1 nghĩ H2 sẽ sản xuất ở mức sản lượng 25(dvsp) thì đương cầu của H1 tiếp tục dịch chuyển sang trái (D75;MR75) và sản xuất với mức sản lượng Q=12,5(dvsp) =>tùy thuộc vào sản lượng của H2 mà H1 quyết định sản lượng để tối đa hóa lơi nhuận P Đường phản ứng và cân bằngCournot: Đường phản ứng:Đường chỉ ra mối quan hệ giữa múc sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của một hãng với mức sản lượng mà hãng nghĩ rằng các hãng khác định sản xuất . Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của hãng phụ thuộc vào lượng sản phẩm mà hãng nghĩ các hẫng khác định sản xuất Cân bằng Cournot: Là trạng thái cân bằng xáy ra khi mỗi hãng dự báo đũng mức sản lượng của hãng đối thủ và qua đó xác định mức sản lượng của mình. Q2* Q 0 P Q2*=h(Q1) Cân bằng Cournot Q1*=g(Q2) Q2* Ví dụ về mô hình Cournot: Có 2 hãng cùng kinh doanh 1 sản phẩm Đường cầu tiêu dung: P=20-1/2Q(Q=Q1+Q2) Hai hãng có chi phí cận biên bằng nhau: MC1=MC2 Khi đó có thế xác định đường phản ứng của hãng 1 : TR1=PQ1(20-0,5Q).Q1 MC1=20-Q1-0,5Q2 Dể hãng tối đa hóa lợi nhuận thì MR=MC nên 20-Q1-0,5Q2=0 óQ1=-0,5Q2 (1) là đường phản ứng của hãng1 Tương tự đương phản ứng của hãng 2 : Q2=-0,5Q1+20 (2) Mức sản lượng cân bằng (Q1,Q2) ở điểm cắt của 2 đường phản ứng Giải hệ (1),(2) ta được : Q1=Q2=40/3 là điểm cân bằng Cournot 1.1.2.2.Mô hình Stackeberg: Là mô hình độc quyền nhón trong đó các hãng cạnh tranh nhau về giá cả Có 3 trường hợp: -Sản phẩm đồng nhất -Sản phẩm khác biệt, quyết định đồng thời -Sản phẩm khác biệt quyết định tuần tự Cân bằng Stackelberg: là cân bằng đạt được tại giao điểm của 2 đường phản ứng khi một hãng đi trước và một hãng đi sau,quyết định sản lượng của hãng vào sau phụ thuộc vào sản lượng của hãng vào trước Ví dụ về mô hình Staclkerg: Cũng tương tự như phần ví dụ cho mô hình Cournot nhưng lúc này hãng 1 là hãng quyết đinh trước hãng 2 vào sau. Quyết định của hãng 2 phụ thuộc vào quyết định của hãng 1. Chúng ta hãy bắt đầu với Hãng 2. Vì Hãng này tiến hành quyết định đầu ra của mình sau Hãng 1, nó coi đầu ra của Hãng 1 là cố định. Do đó, đầu ra có sức tối đa hóa lợi nhuận của Hãng 2 được biểu thị bởi đường phản ứng Cournot, mà chúng ta tìm ra là : Q2=-0,5Q1+20 Hãng 1 chon Q1sao cho MR1=MC 1, ta có :TR1= (20-0,5Q1-0,5Q2).Q1 TR1phụ thuộc vào Q2 . Hãng 1 dự đoán xem hãng 2 sẽ sản xuát bao nhiêu (Q2 theo đường phản ứng) Thay Q2 vào TR1 ta được : TR1=(20-0,5Q1-10+0,25Q1).Q1 Mà MR1=(TR1)’Q1=20-Q1-10+0,5Q1=0 ó Q1=20,Q2=10 là sản lượng cân bằng Hãng 1 sản xuất nhiều hơn Hãng 2 va thu được lợi nhuận nhiều hơn. Việc đi trước mang lại cho Hãng 1 lợi thế. Lý do là việc thông báo trước tạo ra một việc đã rồi bất kể đối thủ cạnh tranh của bạn làm gì, đầu ra của bạn sẽ lớn. Để tối đa hóa lợi nhuận, đối thủ cạnh tranh của bạn coi mức đầu ra lớn của bạn là đã có và ấn định một mức đầu ra thấp cho bản thân mình (nếu đối thủ cạnh tranh của bạn sản xuất một mức đầu ra lớn, điều đó tất kéo giá cả xuống thấp, và cả hai đều thua thiệt tiền của). Cho nên, trừ phi đối thủ cạnh tranh của bạn coi “trả đũa” là quan trọng hơn kiếm tiền, sản xuất một số lượng lớn là việc phi lý đối với nó).Các mô hình Cournot và Stackelbeg là những biểu hiện của thái độ độc quyền nhóm để lựa chọn. Việc mô hình nào thích hợp hơn tùy thuộc vào ngành công nghiệp. Đối với một ngành công nghiệp gồm có những hãng đại thế giống nhau, không một hãng nào có được một lợi thế hành động hay vị thếlãnh đạo mạnh mẽ, mô hình Cournot chắc chắn hẳn thích hợp hơn. Mặc khác, một số ngành công nghiệp bị khống chế bởi một hãng lớn, hãng này thường lãnh đạo trong việc đưa ra những sản phẩm mới hay việc định giá, thị trường máy điện toán nhiều công dụng là một ví dụ, với IBM là người lãnh đạo. Trong trường hợp này mô hình Stackelbeg có thể là thiết thực hơn. 1.1.2.3.Mô hình đường cầu gãy: Vì cấu kết ngầm có xu hương là mong manh, các hãng độc quyền nhóm thường hay rất mong muốn có một sự ổn định, đặc biệt là trong lĩnh vực giá cả. Đó là lý do tại sao tính cứng nhắc của giá cả lại thường là một đặc điểm của các ngành độc quyền nhóm. Dù cho các chi phí hay nhu cầu thay đổi, các hãng vẫn sẵn lòng thay đổi giá cả. Nếu các chi phí giảm xuống hay nhu cầu của thị trường suy thoái các hãng đều không sẵn lòng hạ thấp giá cả mà việc gì đó có thể gửi một thông điệp sai lạc tới các đối thủ cạnh tranh của họ, và do đó dẫn tới một hiệp chiến tranh giá cả. Và nếu như các chi phí hay nhu cầu gia tăng, các hãng cũng không sẵn lòng nâng cao giá vì họ sợrằng các đối thủ cạnh tranh của họ không thể cũng nâng cao giá cả. Tính cứng nhắc này của giá cả là nền tảng của mô hình “đường cầu gãy” rất quen thuộc về độc quyền nhóm. Theo mô hình này, mỗi hãng đứng trước một đường cầu gãy với giá phổ biến đương thời P*). Ở những giá cao hơn, P* các hãng khác sẽ không đi theo, và do đó sẽ thua thiệt về doanh sốvà mất nhiều trong phần thị trường của mình. Mặt khác, hãng cho rằng nếu hạ giá của mình thấp hơn P*, các hãng khác sẽ đi theo vì họ không muốn mất phần của họ trên thị trường, do đó số bán ra sẽ chỉ tăng tới phạm vi mà một giá thị trường thấp hơn nâng cao tổng cầu thị trường. Vì đường cầu của hãng là một đường gãy khúc nên đường thu nhập biên của hãng cũng là một đường gián đoạn (phần căn bản của đường thu nhập biên ứng với phần co giãn ít hơn của đường cầu, như được biểu hiện bởi các phần gạch đứt đoạn của mỗi được ấy). Do đó, các chi phí của hãng có thể thay đổi mà không dẫn tới một thay đổi trong giá cả. Như đã biểu hiện trong hình, chi phí biên có thể tăng, nhưng nó vẫn phải bằng thu nhập biên ở cùng một mức đầu ra như cũ, vì vậy giá cả vẫn như cũ. Mô hình đường gãy là đơn giản một cách hấp dẫn nhưng nó không thực sự giải thích được sự định giá độc quyền tay đôi. Nó không hề cho biết làm thế nào mà các hãng đi tới được giá P* trước hết và tại sao họ lại không đi tơi một giá cả hơn là để giải thích nó. P P* 0 Q* Q MC2 MC1 MR B 1.1.2.4. Sự lãnh đạo giá cả. Một trong trở ngại chủ yếu để ngấm ngầm cấu kết định giá là các hãng khó mà thỏa thuận được với nhau (mà không cần nói chuyện với nhau) về giá cả phải có. Sự thỏa thuận trở thành đặc biệt không chắc có khi các điều kiện về chi phí và nhu cầu đang thau đổi và do đó giá cả “xác đáng” cũng đang thay đổi. Sự lãnh đạo giá cả là một hình thức ngấm ngầm cấu kết để tiến tới vấn đề này. Dưới sự lãnh đạo giá cả, một hãng ấn định giá cả, và những hãng khác, “những người theo giá” đi theo giá cả ấy. Cách dàn xếp này giải quyết được vấn đề thỏa thuận về giá cả – đòi đúng cái giá mà “người lãnh đạo” đang đòi. Người lãnh đạo sẽ ấn định giá cả nào? Giá cả nào tùy thuộc vào việc các hãng hoặc hạn chế sản xuất, ngoài việc làm cho các giá cả xứng hợp với nhau, sao cho các phần trên thị trường vẫn như cũ, hoặc sản xuất nhiều hơn với một giá cả cao hơn. Nếu các hãng khác hạn chế sản xuất, người lãnh đạo có thể ấn định giá cả có sức tối đa hóa lợi nhuận chung .Nhưng người lãnh đạo có thể là một hãng có ảnh hưởng chi phối, hãng này ấn định một giá cả có sức tối đa hóa lợi nhuận mà họ muốn theo cái giá cả ấy. 1.2.Lý thyết trò chơi 1.2.1.Lý thuyết trò chơi là gì? Lý thuyết trò chơi là một nhánh của toán học ứng dụng thường được sử dụng trong phân tích kinh tế. Sử dụng các mô hình nghiên cứu các tình huống chiến thuật , trong đó những người tham gia để cố gắng tối đa hóa kết quả thu nhập của mình có tính đến hành động và phản ứng của đối thủ. 1.2.2.Các khái niệm cơ bản trong lý thuyết trò chơi - Trò chơi: một tình huống mà trong đó trò chơi đưa ra quyết định chiến lược có tính đến hành động của đối thủ - Người chơi: người tham gia - Chiến lược: nguyên tắc và hành động trong khi tiến hành trò chơi - Kết cuc: giá trị tương đương với một kết quả có thể xảy ra -Trò chơi hợp tác:là trò chơi mà trong đónhững người chơi có thể đàm phán những cam kết ràng buộc lẫn nhau cho phép họ cùng lập chiến lược chung -Trò chơi bất hợp tác:các bên tham gia không thể đàm phán và thực thi các hiệu lực các cam kết ràng buộc 1.2.3.Cân bằng trong lý thuyết trò chơi 1.2.3.1.Các giả định nghiên cứu -Những người chơi là những người có lý trí và biết tính toán. -Mục đích của những người chơi là tối đa hóa lợi ích bản thân. -Mọi người chơi đều biết về lý thuyết này. 1.2.3.2.Cân bằng Nash và cân bằng Chiến lược ưu thế trong lý thuyết trò chơi Cân bằng Nash Là tập hợp mà mỗi người chơi có thể làm điều tốt nhất cho mình trước hành đọng của đối thủ Mỗi người chơi không có động cơ xa ròi chiến lược Nash của mình =>chiến lược ổn định Chiến lược ưu thế Là một chiến lược hay hành động mang lại kết cục tốt nhất dù đối thủ có quyết định thế nào Nếu một người chơi có chiến lược ưu thế => các đối thủ sẽ chọn chiến lược ưu thế cho mình 1.3.Ứng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh Khác với một độc quyền thuần túy hay một hãng có sức mạnh cạnh tranh hoàn hảo, đa số các hãng phải quan tâm đến những sự đối phó chắc sẽcó của các đối thủ cạnh tranh khi họ đề ra những quyết định chiến lược về giá cả, chi tiêu quảng cáo, đầu tư vốn mới và những biến số khác. Dù chúng đã bắt đầu khảo sát kỹ một số trong những quyết định chiến lược ấy ở chương trên, còn có nhiều vấn đề cấu trúc thị trường và thái độ của các hãng mà chúng ta chưa đề cập đến. Ví như, tại sao các hãng lại có xu hương cấu kết với nhau trên mộ số thị trường khác? Một số hãng xoay sở như thế nào để ngăn chặn những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của họ đi vào doanh trường? Và các hãng phải tiến hành quyết định giá như thế nào khi các điều kiện nhu cầu hay chi phí đang thay đổi hoặc những đối thủ cạnh tranh mới đang đi vào thị trường. Để trả lời những câu hỏi ấy, chúng ta tần mở rộng phân tích việc các hãng tiến hành các quyết định trò chơi là một trong những lãnh vực lý thú nhất của khoa học. Kinh tế vi mô. Chương này giải thích một số điểm lý thuyết ấy và trình bày cách sử dụng nó để hiểu các thị trường tiến hóa và hoạt động như thế nào và các nhà quản lý phải suy nghĩ ra sao về những quyết định về chiến lược kinh tế mà họ liên tục phải đương đầu. Chúng ta thấy, chẳng hạn như, điều gì xảy ra khi các hãng độc quyền nhòm phải ấn định và điều chỉnh các giá cả một cách chiến lược trong thời gian, sao cho thế khó xử của những người bị giam giữ, mà chúng ta đã bàn đến trong chương 12, cứ lắp đi lắp lại mãi. Chúng ta sẽ bàn luận các hãng có thể tiến hành như thế nào các biện pháp chiến lược để có d một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh của họ hay để tiến vào một tình huống mặc cả. Và chúng ta sẽ thấy các hãng có thể sử dụng như thế nào những sự đe dọa, những sự hứa hẹn hay những hành vi cụ thể hơn đểngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng đi vào thị trường. Chương2: Ứng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam 2.1.Tổng quan về thị trường viễn thông di động Việt Nam. Bước vào đầu năm 2007, trên thị trường viễn thông di động Việt Nam đã diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt chủ yếu giữa 6 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động trong nước. Trong đó, có ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động sử dụng công nghệ GSM là Công ty thông tin di động VMS (MobiFone), Công ty dịch vụ viễn thông (Vinaphone) và Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel); ba nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động sử dụng cùng công nghệ CDMA là Công ty thông tin viễn thông điện lực (EVN Telecom), Công ty Cổ phần viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom với mạng di động HT mobile, từ ngày 15/3/2008 HT mobile chính thức chuyển đổi công nghệ từ CDMA sang e - GSM) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (với mạng di động S - Fone). Quá trình ganh đua giữa các doanh nghiệp viễn thông di động (DNVTDĐ) Việt Nam đã mang lại những kết quả tích cực. Quy mô mạng lưới và vùng phủ sóng ngày càng rộng và sâu. MobiFone và Vinaphone là hai mạng di động ra đời sớm nhất thị trường viễn thông di động Việt Nam và có tăng trưởng vùng phủ sóng cũng như lắp đặt trạm thu phát sóng BTS tăng liên tục qua các năm. Viettel là một doanh nghiệp ra đời sau, song đã tiến hành phát triển mạng lưới trước kinh doanh sau, vì thế trong một thời gian ngắn ra đời từ năm 2004 đã nhanh chóng tăng vùng phủ sóng liên tục và năm 2006 đã bắt đầu vượt xa Vinaphone và MobiFone, đến nay Viettel đã phủ sóng 63/63 tỉnh thành trong cả nước. Viettel là mạng di động có vùng phủ sóng rộng và sâu nhất cả nước đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, biên cương hải đảo nơi mà các mạng di động khác khó vươn tới. Mạng di động S-fone, EVN Telecom và HT Mobile chủ yếu chỉ khai thác ở những thị trường nhu cầu lớn như thành phố lớn, thị xã nên có vùng phủ sóng thấp nhất. Doanh thu ngày càng tăng, số lượng thuê bao di động tăng rất nóng với nhiều người sử dụng dịch vụ di động. Cùng với việc đẩy mạnh lắp đặt thêm trạm thu phát sóng và thêm vùng phủ sóng, các DNVTDĐ đã không ngừng cạnh tranh, đẩy mạnh chạy đua phát triển thuê bao. Tính đến quý I/2008, cả nước đạt gần 50 triệu thuê bao di động, trong đó 43,9 triệu thuê bao thuộc về ba nhà khai thác có cùng công nghệ GSM gồm có Viettel với 17 triệu, Mobifone với 14,5 triệu, Vinaphone với 12,4 triệu, còn lại 6,1 triệu là của các mạng di động sử dụng cùng công nghệ CDMA gồm có S-Fone, EVN Telecom và HT mobile. Năm 2008, doanh thu dịch vụ viễn thông Việt Nam đạt khoảng 5,5 tỷ USD, trong đó VNPT ước đạt hơn 3 tỷ USD, Viettel ước đạt 2 tỷ USD. Chính sách giá cước linh hoạt, với dịch vụ đa dạng và hướng tới khách hàng. Các doanh nghiệp viễn thông đang đua nhau giảm giá cước để lôi kéo khách hàng và phát triển khách hàng mới. Nếu trước đây, khi Việt Nam bắt đầu có mạng di động với sự độc quyền của VNPT, giá cước di động là 3.000đ - 3.500đ/phút, thì nay với sự ra đời của các doanh nghiệp viễn thông mới đã phá vỡ độc quyền của VPNT, làm cho giá cước di động hiện nay trên thị trường giảm chỉ còn từ 900đ/phút - 1.500đ/phút đối với thuê bao trả sau và 1.800đ/phút - 2.500đ/phút đối với thuê bao trả trước. Cùng với việc giảm cước, các doanh nghiệp viễn thỗng liên tục tung ra thị trường nhiều gói dịch vụ khách nhau nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng. Như Viettel có các gói cước trả sau, trả trước, gói cước Tomato cho người có thu nhập thấp, ở nông thôn, gói cước Ciao dành cho học sinh sinh viên là chủ yếu, gói cước cha và con, gói cước Happy zone; Mobifone có Mobi gold, Mobicard, Mobi 4U, Mobi Q, Mobi 365... Ngoài ra, các doanh nghiệp viễn thông không ngừng cung cấp các dịch vụ gia tăng trên mạng di động nhằm đưa đến cho khách hàng sử dụng các dịch vụ đa dạng và phong phú. Ví dụ các hãng di động cung cấp dịch vụ kết nối internet GPRS, nhạc chuông chờ, chọn bài hát, tải nhạc chuông... Chăm sóc khách hàng ngày càng được chú trọng. Trong thị trường viễn thông cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì chất lượng dịch vụ là yếu tố sống còn để giữ chân khách hàng và phát triển khách hàng mới. Các doanh nghiệp viễn thông đặc biệt là các doanh nghiệp lớn như Viettel, Mobifone, Vinaphone rất chú trọng công tác chăm sóc khách hàng, tăng nhân viên callcenter phục vụ khách hàng nhanh nhất và chính xác nhất, công tác chăm sóc khách hàng được thực hiện ở cả 3 khâu: trước, trong và sau bán hàng. Thị trường dịch vụ di động tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức tăng trung bình hàng năm đạt 35%. Dự báo đến năm 2011, tổng thuê bao di động sẽ vượt mốc 50 triệu, với mật độ đạt 56%. Các nhà khai thác di động đang cạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần bằng các chương trình khuyến mãi hấp dẫn và kéo dài liên tục. Việc MIC cấp thêm các mã mạng mới cho các nhà khai thác giúp mở rộng kho số dịch vụ. Tuy nhiên, các chương trình khuyến mãi tập trung vào bán thêm các SIM card mới dẫn đến việc không xác định được số lượng thuê bao thực trên mạng. Việc dễ dàng trong cung cấp các SIM card mang đến thuận tiện lớn cho khách hàng trong lựa chọn sử dụng dịch vụ điện thoại cố định. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra vấn đề lớn trong quản lỹ xã hội như xác định trách nhiệm chủ thuê bao về nguồn thông tin (quấy phá, truyền phát thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục, các vấn đề về an ninh quốc phòng và quản lý xã hội). Để giải quyết vấn đề này, tháng 9/2007, Bộ MIC đã ban hành quyết định bắt buộc phải đăng ký thông tin cá nhân đối với chủ thuê bao trả trước. Thủ tục trên có thể tác động phần nào đến tâm lý NSD khi lựa chọn sử dụng dịch vụ, nhưng các tác động này không lớn bằng việc các nhà khai thác phải lập lại hồ sơ quản lý các thuê bao trả trước đã có. Các mạng di động của Việt Nam hiện thời vẫn theo chuẩn 2G hay 2.5 G cung cấp chủ yếu dịch vụ thoại và một số loại dịch vụ giá trị gia tăng như SMS, WAP, GPRS. Hiện các nhà khai thác di động đang tập trung chuyển đổi sang mạng 3G, nhưng với tốc độ chậm chạp do còn gặp nhiều khó khăn về dịch vụ nội dung thông tin và thiết bị đầu cuối đắt đỏ. Dự kiến đến 2011, thị trường dịch vụ 3G đạt khoảng 3 triệu thuê bao chiểm 6% tổng thuê bao di động. Thị trường dịch vụ di động đạt mức tăng trưởng cao nhất với trên 10 triệu thuê bao mới trong năm 2006, tăng 104% so với 2005, nâng tổng số thuê bao di động của Việt Nam lên khoảng 20 triệu. Thị trường bùng phát do nhu cầu tiêu dùng tăng cao, cùng với chính sách tạo cạnh tranh trên thị trường viễn thông di động của Chính phủ. Hiện tại, có 6 nhà cung cấp dịch vụ di động tại Việt Nam. Các nhà khai thác này không chỉ cạnh tranh trong phát triển thuê bao di động, mà còn cạnh tranh trong phát triển các dịch vụ vô tuyến cố định trên nền mạng di động để cung cấp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp. Dịch vụ GPhone của VNPT là dịch vụ vô tuyến cố định mới nhất của VNPT sử dụng nền mạng Vinaphone để cạnh tranh với các dịch vụ tương tự như E-Com của EVN Telecom và dịch vụ vô tuyến cố định của Viettel. Các dịch vụ này dự kiến sẽ đạt 2 triệu thuê bao vào cuối năm 2007. Các nhà khai thác di động đang sử dụng công cụ giá để tiến hành cạnh tranh. Việc liên tục giảm giá cước tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng trên thị trường di động. Với việc VNPT với tư cách là nhà khai thác khống chế thị trường (30%) bị quản lý chặt chẽ về giá cước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khác thác mới như Viettel bứt phá. Tuy nhiên, cuộc chiến về giá cước dẫn đến sự suy giảm chất lượng dịch vụ, tắc nghẽn mạng lưới và gia tăng khiếu kiện khách hàng. Điều này buộc cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc qua việc công bố tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ bắt buộc và các cuộc kiểm tra, giám sát quy trình cung cấp dịch vụ để đảm bảo quyền lợi khách hàng. Hiện tại, MIC vẫn đang trong quá trình xem xét cấp phép mạng 3G. Theo dự kiến các giấy phép về 3G và WiMAX sẽ được cấp theo cơ chế xét tuyển (beauty contest) vào cuối năm 2007. Cả sáu nhà cung cấp dịch vụ đã đệ trình hồ sơ xin cấp phép. Vinaphone và Mobifone dự kiến cung cấp thương mại các dịch này vào cuối năm 2007. Trong đó, Mobifone đã kết thúc dự án thử nghiệm 2 năm về dịch vụ 3G, còn Vinaphone đang trong giai đoạn thử nghiệm với đối tác Nokia, dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 9/2007. S-Fone đã triển khai công nghệ CDMA EV-DO 3G. EVN Telecom và Hanoi Mobile (HTC) cũng có kế hoạch tương tự để triển khai các dịch vụ thế hệ tiếp theo trên mạng CDMA của mình. Viettel sẽ triển khai dịch vụ 3G trên mạng WCDMA. Tuy nhiên, trong 6 nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan quản lý nhà nước lại dự kiến chỉ  cấp 4 giấy phép 3G. Về dịch vụ WiMAX, 4 nhà khai thác đang triển khai thử nghiệm dịch vụ, gồm công ty VDC tại tỉnh Lào Cai, VTC tại TP. Hồ Chí Minh, FPT và Viettel. Trong đó, FPT và Viettel đang triển khai thử nghiệm dịch vụ WiMax trên mạng di động. 2.2.Ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam: Hiện nay, trên thị trường viễn thông di động ở Việt Nam có khá nhiều các doanh nghiệp kinh doanh. Trong phạm vi bài thảo luận này, nhóm tôi lựa chọn hai nhà mạng điển hình đểnghhiên cứu là Viettel và Vinaphone - hai trong ba nhà mạng có thi phần lớn nhất trên thị trường viễn thông di động tại Việt Nam Viettel: Công ty Viễn thông Viettel là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Viễn thông quân đội (Bộ Quốc phòng) thành lập ngày 03 tháng 5 năm 2001. Trước ngày 1/7/2004, Công ty Viễn thông Viettel - Tổng Công ty VTQĐ trực thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc. Từ 1/7/2004, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Công ty về trực thuộc Bộ Quốc phòng; có nhiệm vụ thiết lập mạng Điện thoại Cố định, Internet và Điện thoại Di động; tổ chức kinh doanh trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và kinh doanh quốc tế. Cuối năm 2000, từ mốc khởi đầu bằng 0, với số vốn đầu tư ít ỏi, dịch vụ điện thoại đường dài sử dụng công nghệ VoIP tuyến Hà Nội –Tp.Hồ Chí Minh mang thương hiệu 178 được thử nghiệm thành công. Đây là những tín hiệu đầu tiên báo trước một tương lai mới hiện đại và phát triển mạnh mẽ của công nghệ viễn thông ở Viettel nói riêng và Việt Nam nói chung. Bắt đầu từ đây, khách hàng được tôn trọng và khái niệm về độc quyền doanh nghiệp trong cung cấp dịch vụ viễn thông bị lung lay, bắt đầu một cuộc đau cạnh tranh lành mạnh. Năm 2002, Viettel tiếp tục triển khai lắp đặt Tổng đài, đưa dịch vụ Điện thoại cố định (PSTN) vào hoạt động, khai trương Dịch vụ truy nhập Internet. Và đến tháng 10/2004, dịch vụ Điện thoại di động chính thức được Viettel cung cấp, dự báo một cuộc cách mạng mới trên thị trường thông tin di động Việt Nam về sau này. Vào thời điểm đó, cái tên Viettel Mobile đã khiến hàng triệu người phải đổ dồn mọi sự chú ý bởi lần đầu tiên dịch vụ viễn thông được giảm giá, chất lượng chăm sóc khách hàng được nâng cao và thị trường thông tin di động Việt Nam được lành mạnh hóa. Chính vì thế mà khi tổng kết các sự kiện công nghệ thông tin truyền thông của năm 2004, hàng loạt tờ báo lớn đã bình chọn sự kiện Viettel Mobile ra đời là 1 trong top 10 sự kiện tiêu biểu. Ngày 25/05/2007 Công ty Viễn thông Viettel (Viettel Telecom) công bố thành lập, trên cơ sở sát nhập 2 công ty lớn là Công ty Điện thoại Đường dài (kinh doanh dịch vụ internet, điện thoại cố định, dịch vụ 178) và Công ty Điện thoại Di động (kinh doanh dịch vụ điện thoại di động) thành một công ty cung cấp đa dịch vụ. Viettel Telecom ra đời sẽ đảm trách toàn bộ hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Viễn thông Quân đội trong lĩnh vực viễn thông. Mục tiêu đặt ra là đưa Viettel Telecom trở thành nhà cung cấp viễn thông số một tại Việt Nam và có tên tuổi trên thế giới.    Đến cuối năm 2007, Viettel đã chinh phục được đỉnh núi cao nhất, vươn lên trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn mạnh và là mạng di động số 1 tại Việt Nam. Vùng phủ lớn nhất, số thuê bao lớn nhất, chất lượng dịch vụ tốt nhất… Tháng 3.2008, Viettel Telecom đạt vị trí 62/100 nhà cung cấp dịch vụ di động lớn nhất thế giới, theo đánh giá của tổ chức Wireless Intelligence – một tổ chức uy tín về thống kê viễn thông trên thế giới. Vùng phủ lớn nhất, phủ tới 98% dân số - Số lượng thuê bao lớn nhất với 19,5 triệu thuê bao tính đến hết tháng 3.2008 - lọt vào Top 20 mạng di động phát triển nhanh nhất thế giới -Tốc độ tăng trưởng lớn nhất với mức tăng trưởng năm sau cao gấp 2,5 lần năm trước..v.v…. Những con số này là minh chứng rõ rệt cho sự phát triển mạnh mẽ và thần kỳ của Viettel Telecom trên con đường chinh phục thị trường viễn thông cả trong và ngoài nước. Nhưng, điều đáng nói là những thành tựu này được xây dựng chỉ sau vài năm phát triển. Từ bước khởi đầu với con số 0 tròn trĩnh, Viettel đã bước những bước đi thần tốc để leo tới đỉnh vinh quang và trở thành nhà khai thác dịch vụ viễn thông số 1 tại Việt Nam. Quan trọng hơn, thương hiệu Viettel đã khiến thế độc quyền tồn tại nhiều năm trên thị trường được phá bỏ. Bức tranh viễn thông Việt Nam trở nên tươi sáng hơn. Cục diện cạnh tranh trở nên rõ ràng, minh bạch và lành mạnh hơn bao giờ hết. Không chỉ thế, Viettel còn là nhà mạng thực sự thành công trong việc thuyết phục người tiêu dùng. Minh chứng là hàng loạt giải thưởng do các cơ quan uy tín trao tặng như giải mạng được nhiều người biết đến nhất, mạng được tin cậy nhất. Về Vinaphone: Công ty dịch vụ viễn thông (thuộc tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam VNPT) là đơn vị chủ quản của Vinaphone. Vinaphone là một trong những mạng di động hàng đầu tại Việt Nam tính cả về số lượng thuê bao và chất lượng dịch vụ.Tổng số thuê bao tính đến cuối năm 2009 là 27 triệu thuê bao phát triển thực, đang hoạt động và phát sinh cước và đã khai báo đầy đủ thông tin cá nhân theo quy định của Bộ TT&TT. Năm 2009 đánh dấu một bước phát triển đặc biệt quan trọng của Vinaphone. Doanh thu toàn mạng đạt xấp xỉ 21.000 tỷ đồng, thuê bao phát triển thêm đạt trên 10 triệu thuê bao, đặc biệt số lượng thuê bao trả sau phát triển tương đương tổng số thuê bao của mười năm trước cộng lại. Cùng với việc phát triển lớn về quy mô, năng lực hệ thống và phạm vi phủ sóng, VinaPhone đã trở thành nhà khai thác đầu tiên khai trương mạng 3G tại Việt Nam. Đây là sự kiện số 1 trong 10 sự kiện của ngành CNTT 2009. Hơn nữa, với việc tham gia liên minh di động hàng đầu khu vực CONEXUS, VinaPhone đã xây dựng nên một hình ảnh Vinaphone hiện đại, năng động và hội nhập quốc tế trước khách hàng và toàn xã hội. Bằng việc tăng thị phần từ 26% lên trên 30% trong năm 2009, Vinaphone đã khẳng định vị thế là một nhà khai thác di động hàng đầu tại Việt Nam, đồng thời đóng góp lớn vào sự thành công của toàn bộ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Vinaphone từng bước khẳng định chất lượng Chăm sóc khách hàng: Luôn không ngừng được cải thiện và hoạt động có hiệu quả. Để nâng cao chất lượng dịch vụ giải đáp khách hàng. Công ty đã xây dựng và ban hành quy trình giải quyết khiếu nại cho thuê bao trả trước và trả sau, phân cấp mạnh xuống các Đài khai thác VNP khu vực để giải tỏa đáng kể các khiếu nại tồn đọng, làm cho khách hàng thực sự hài lòng; triển khai phân nhóm KTV theo kỹ năng để giải đáp khách hàng, tăng hiệu quả các cuộc gọi vào dịch vụ 18001091. Chất lượng giải đáp 18001091 đã được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ cuộc gọi giải đáp thành công đạt 98.82% tăng cao hơn so rất nhiều với năm 2008 (vượt quy định chuẩn của ngành), nội dung giải đáp hỗ trợ chăm sóc khách hàng đượ nâng cao rõ rệt. Năm 2009, theo kết quả đo kiểm tra của Cục quản lý chất lượng Công nghệ thông tin và Truyền thông: tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công, chất lượng thoại và mức độ đáp ứng giải quyết khiếu nại khách hàng về chất lượng dịch vụ của mạng VinaPhone đều cao hơn so với quy định chuẩn của Ngành. Là nhà mạng tiên phong phát triển các dịch vụ GTGT:Quyết giữ vững danh hiệu “Mạng di động có dịch vụ phi thoại tốt nhất”, cùng với việc triển khai mạng lõi 3G, VinaPhone cung cấp cho khách hàng 6 dịch vụ mới, gồm: dịch vụ Internet di động tốc độ cao như Mobile Internet (truy cập Internet tốc độ cao trực tiếp từ điện thoại), Mobile Broadband (truy cập Internet tốc độ cao từ máy tính thông qua sóng di động), và đặc biệt, bốn dịch vụ có tính đột phá, hấp dẫn là Video Call (đàm thoại nhìn thấy hình ảnh giữa các thuê bao của VinaPhone), Mobile Camera (xem trực tiếp hình ảnh tình trạng các nút giao thông), các dịch vụ giải trí cao cấp như Mobile TV (xem trực tiếp 15 kênh truyền hình trên máy di động), và 3G Portal (thế giới thông tin và giải trí trên điện thoại di động). Tốc độ đường truyền dữ liệu và truy cập Internet của VinaPhone 3G với tốc độ tối đa lên tới 14,4 Mbps, người dùng có thể sử dụng đa dạng về truyền dữ liệu, truy nhập Internet điện thoại di động với tốc độ cao ở mọi lúc, mọi nơi. VinaPhone cũng đã đưa ra thị trường bộ hoà mạng ALO- 3G (điện thoại sử dụng dịch vụ 3G của VinaPhone) với giá 1,6 triệu đồng và cung cấp 2 dòng thiết bị 3G- DataCard cho khách hàng sử dụng dịch vụ Mobile Broadband. 2..2.1.Chiến lược cạnh tranh về giá cước: Gía cước viễn thông di động ại Việt Nam trong những năm gần đây tuy đã giảm rất nhiều. Song trên thực tế, nó vẫn cao hơn mặt bằng chung của thế giới. Tuy nhiên, các nhà mạng cũng lo ngại rằng tiếp tục giảm giá cước sẽ có thể làm phá vỡ thị trường viễn thông di động Việt Nam (theo ông Nguyễn Sinh Hùng – Phó tổng giám đốc tạp đoàn viễn thông quân đội Viettel). Cho nên các nhà mạng di động ở Việt Nam đang phải cân nhắc về việc có nên tiếp tục giảm mạnh giá cước hay không? Viettel và Vinaphone đang cân nhắc xem có nên giảm giá cước thuê bao hay không trong chiến lược cạnh tranh của mình. Trong trường hợp này mỗi quyết định gảm giá cước hay không của Viettel hay Vinaphone đều có ảnh hưởng đên hãng kia. Ma trận lợi ích của hãng được thể hiện như sau: Bảng 1 Vinaphone Giảm giá Tăng giá Viettel Giảm giá 50 50 60 10 Tăng 10 60 30 30 Nếu cả 2 hãng cùng giảm giá thì lợi nhuận được chia đều cho mỗi hãng: mỗi hãng nhận được 50 đơn vị lợi ích Nếu cả 2 hãng cùng tăng giá, mỗi hãng chỉ nhận được 30 đơn vị lợi ích Nếu một hãng tăng giá, một hãng giảm giá thì hãng tăng giá sẽ bị mất khách hàng so với hãng giảm giá nên chỉ nhận được 10 đơn vị lợi ích. Còn hãng giảm giá sẽ thu hút được một lượng khách hàng lớn và thu được 60 đơn vị lợi ích. Trong trường hợp này, hai hãng sẽ suy nghĩ lựa chọn chiến lược như thế nào để tối đa hoá lợi ích cho mình? Với Viettel: -Nếu Vinaphone giảm giá, thì quyết định tốt nhất của Viettel là giảm giá để thu được lợi ích 50 thay vì 10. -Nếu Vinaphone tăng giá thì quyết định tốt nhất của Viettel là giảm giá để thu được mức lợi ích 60 thay vì 30. Như vậy Viettel có chiến lược ưu thế là giảm giá. Với Vinaphone: -Nếu Viettel giảm giá thì quyết định tốt nhất cho Vinaphone sẽ là giảm giá để thu được mức lợi ích 50 thay vì 10. -Nếu Viettel tăng giá thì quyết định tốt nhất cho Vinaphone là giảm giá để thu về mức lợi ích 60 thay vì 30. Như vậy: Vinaphone cũng có chiến lược ưu thế là giảm giá Vì cả 2 cùng có chiến lược ưu thế nên các hãng sẽ lựa lựa chọn chiến lược ưu thế của mình để tối đa hoá lợi ích. Cân bằng chiến lược ưu thế ( giảm giá; giảm giá) trong trường hợp này chính là cân bằng Nash. Cả Viettel và Vinaphone đều đang làm điều tốt nhất cho mình dù hãng kia có làm gì đi chăng nữa. Sở dĩ có kết cục như vậy là vì trên thị trường viễn thông di đông Việt Nam, nhu cấu sử dụng dịch vụ viễn thông là rất co giãn theo giá. Chỉ cần hãng tăng giá 1 chút mà đối thủ không tăng giá, hãng có thể phải đối mặt với sự sụt giảm lớn về số lượng khách hàng. Trong khi đó cả Viettel và Vinaphone đều mất chi phí cố đinh ban đầu rấ lớn cho việc đầu tư cơ sử vật chất. Do vậy, giảm giá để tăng số lượng người sử dụng dịch vụ là một quyết định khôn ngoan cho cả Viettel và Vinephone Chính điều này đã làm cho giá cước viễn thông tại Việt Nam ngày càng có xu hướng giảm xuống. Chưa bao giờ người tiêu dùng Việt Nam được sử dụng dịch vụ di động với giá cước rẻ như vậy. Sự xuất hiện và lớn mạnh của Viettel đã làm cho thị trường viễn thông di động của Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn, lợi ích thực sự được mang đến nhiều hơn cho người tiêu dùng. Đề xuất từ cuối năm 2009, thế nhưng phải đợi đến tận đầu tháng 8.2010, các nhà mạng gồm Viettel, VinaPhone và MobiFone mới được giảm cước. Theo sự chấp thuận của Bộ Thông tin & Truyền thông (TTTT) thì mức cước được giảm là từ 10% - 15% tương ứng với các gói cước khác nhau. Với đợt giảm cước này, viễn thông di động tiếp tục là lĩnh vực đi đầu trong việc giảm giá dịch vụ, đồng thời đưa mức cước xuống dưới 1.000đ/phút. Mức cước cụ thể được đa số các mạng di động áp dụng hiện nay đã dưới 900đ/phút. Chỉ có một số mạng di động mới ra đời và mạng di động nhỏ là có mức cước hơn 1.000đ/phút. Tuy nhiên trên thực tế, các mạng này lại phải liên tục chạy đua khuyến mãi. Vì thế có thể nói là mức cước viễn thông di động ở VN đã được duy trì phổ biến ở mức dưới 1.000đ/phút. Các chuyên gia viễn thông và các nhà mạng cho rằng, mức cước này đã khá rẻ so với thị trường mới như VN. Kể từ ngày 5/6/2009, VinaPhone chính thức thực hiện chương trình giảm cước lớn nhất từ trước đến nay cho các thuê bao di động toàn mạng với mức giảm trung bình lên tới 21%. Đây là đợt giảm cước lớn nhất từ trước đến nay của mạng VinaPhone Các gói cước trả trước hiện đang chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thuê bao của VinaPhone là VinaCard, Vina Daily, VinaXtra, Vina365 đều được giảm mạnh. Cụ thể, cước gọi nội mạng và liên mạng của gói VinaCard giảm tới 21% (giảm từ 1.750 đồng/phút xuống 1.380 đồng/phút với gọi nội mạng và từ 1.990 đồng/phút xuống 1.580 đồng/phút với gọi liên mạng). Gói cước bình dân Vina365 cũng được giảm tới 16% cước gọi, cước thuê bao của gói cước tiết kiệm Talk24 giảm 20%. Giá cước thuê bao tháng của dịch vụ trả sau cũng giảm từ 55.000 đồng xuống còn 49.000 đồng. Đây là mức cước thuê bao thấp nhất đối với dịch vụ di động GSM. Đồng thời, cước cuộc gọi của các thuê bao trả sau cũng được giảm đến 10%. 2.2.2.Chiến lược cạnh tranh về khuyến mãi: Trước tình hình các nhà mạng di động đua nhau đưa ra các chương trình khuyễn mãi “khủng” nhằm thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của mình và những dấu hiệu không lành mạnh của hoạt động khuyến mãi này,ngày 22/4/2010, Bộ TT&TT đã có buổi làm việc với tất cả các mạng di động để chốt lại các ý kiến góp ý cho Dự thảo thông tư quản lý khuyến mãi trong lĩnh vực di động. Tại buổi làm việc với các mạng di động, Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng khẳng định quan điểm của Bộ TT&TT là sẽ xiết chặt việc khuyến mãi của các mạng di động, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh để giảm giá thành, giá cước cho khách hàng. Theo đó, từ ngày 1/7/2010, những cuộc đua khuyến mãi “khủng” của các mạng di động sẽ không còn sau khi thông tư quản lý khuyến mãi trong lĩnh vực này có hiệu lực. Tuy nhiên nếu thực sự xiết chặt khuyến mãi, các nhà mạng lo ngại rằng : số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của mình sẽ giảm đáng kể. Trong khi đó, cùng với xu thế mở cửa ngày càng có nhiều hãng gia nhập thị trường di động Việt Nam. Viettel và Vinnaphone đang phải đứng trước quyết định có hay không mở rộng các chương trình khuyến mãi của mình nhằm thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của mình thay vì của các hãng khác. Ma trận lợi ích của hai hãng được thể hiện trong bảng sau: Bảng 2 Vinaphone Khuyến mãi Không khuyến mãi Viettel Khuyến mãi 20 10 30 0 Không khuyến mãi 12 15 40 4 Hai hãng suy nghĩ lựa chọn phương án tốt nhất cho mình: Viettel: -Nếu Vinaphone khuyến mãi thì lựa chọn tốt nhất cho Viettle là khuyến mãi để thu được mức lợi ích tăng thêm là 20% thay thì 12% -Nếu Vinaphone không khuyến mãi thì lựa chọn tốt nhất cho Viettel là không khuyến mãi để thhu được mức doanh thu tăng thêm là 40% thay vì 30% Như vậy, Viettel không có chiến lược ưu thế Vinaphone: -Nếu Viettel khuyến mãi, lựa chọn tốt nhất cho Vinaphone là khuyến mãi để thu được mức lợi ích tăng thêm là 10% thay vì không thu được doanh thu tăng thêm nào. -Nếu Viettel không khuyến mãi thì lựa chọn tốt nhất cho Vinaphone là Khuyến mãi để đạt được mức doanh thu tăng thêm là 15% tthay vì chỉ có 4% Như vậy: Vinaphone có chiến lược ưu thế là khuyến mãi. Trong trường hợp này, Viettel sẽ nghĩ rằng Vinaphone sẽ sử dụng chiến lược ưu thế của mình là khuyến mãi. Nên Viettel cũng sẽ lựa chọn khuyến mãi để tối đa hoá lợi ích cho mình. Kết cục của trò chơi (khuyễn mãi; khuyến mãi) Viettel đang đẩy mạnh các chiến dịch khuyến mại như đưa ra các gói cước giá rẻ: Gói cha và con,Gói Happy Zone,Gói Tomato, Gói Sumo Sim. Cùng với các nhà mạng khác, Viettel và Vinaphone liên tục đưa ra các chương trình khuyến mãi nhân đôi thẻ nạp cho thuê bao di động trả trước. Gần đây nhất, Ngay khi đợt khuyến mãi "3 ngày Vàng" tặng 100% giá trị thẻ nạp của VinaPhone vừa kết thúc hôm 26/11 thì Viettel cũng tung ra chương trình khuyến mãi nhân đôi giá trị thẻ nạp trong 4 ngày từ 26 đến 30/11. Trong "3 ngày Vàng" của thẻ cào, VinaPhone cho phép tất cả các khách hàng trả sau dùng Mobile Internet miễn phí không giới hạn lưu lượng. Còn người anh em MobiFone thì tặng khách hàng trả sau cả tháng cước dùng Mobile Internet với lưu lượng miễn phí từ 300MB đến 1GB (tùy mức cước trung bình sử dụng hàng tháng). Trước những chương trình khuyến mãi lớn của Vinaphone, Viettel cũng duy trì một chương trình có mức ưu đãi lớn. Theo đó, các khách hàng hòa mạng trả sau mới ở 18 tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ sẽ được gọi nội mạng miễn phí 1 năm cho các cuộc gọi dưới 10 phút với cước phí 25.000 đồng/tháng 2.2.3. Quyết định đầu tư vào dòng sản phẩm mới. Trên thực tế doanh thu của các nhà mạng không chỉ là doanh thu từ cước di đông (gọi, nhắn tin) mà mộ phần không nhỏ doanh thu các nhà mạng thu được là có từ các dịch vụ giá trị gia tăng. Hiện nay, cả Viettel và Vinaphone đã và đang không ngừng đa dạng hoá, mở rộng các dịch vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Tuy nhiên, không phải dịch vụ mới nào cũng có thể đem lại lợi nhuận cho nhà mạng. Cả Viettel và Vinaphone đang phải đứng trước quyết định có hay không đầu tư vào dòng sản phẩm mới. Ma trận lợi ích của hai hãng như sau: Bảng 3 Vinaphone Không đầu tư Đầu tư Viettel Không đầu tư 1 10 -10 25 Đầu tư -50 15 30 20 Viettel suy nghĩ lựa chọn phương án: -Nếu Vinaphone không đầu tư thì lựa chọn tốt nhất cho Viettel là không đầu tư đẻ thu được mức lợi nhuận 2 tỷ thay vì chịu lỗ 50 tỷ. -Nếu Vinaphone đầu tư thì lựa chọn tốt nhất của viettel là đầu tư để thu được 30 tỷ lợi nhuận thay vì lỗ 10 tỷ. Như vậy, Viettel không có chiến lược ưu thế. Vinaphone suy nghĩ lựa chọn phương án: -Nếu Viettel không đầu tư thì lựa chọn tốt nhất của Vinaphone là đầu tư để thu được 25 tỷ lợi nhuận thay vì 10 tỷ. -Nếu Viettel đầu tư thì lựa chọn tốt nhất cho Vinaphone sẽ là đầu tư để thu được 20 tỷ lợi nhuận thay vì 15 tỷ. Như vậy, Vinaphone có chiến lược ưu thế là đầu tư. Nếu Viettel cho rằng Vinaphone sẽ thực hiện chiến lược ưu thế của mình là đầu tư thì Viettel cũng ra quyết định đầu tư và thu về 330 tỷ lợi nhuận. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo của Viettel không thích rủi ro và lo ngại rằng Vinaphone sẽ không đầu tư để loại bỏ Viettel ra khỏi thị trường. Nên Viettel thận trọng chọn theo chiến lược Maximin và quyết định không đầu tư dù đây không phải là quyết định mang lạo mức lợi nhuận tối đa cho Viettel, nhưng nó sẽ hạn chế được rủi ro lớn mà Viettel có thể gặp phải. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn và phát triển thị trường viễn thông Việt Nam Qua việc phân tích các chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông di động từ góc độ lý thuyết trò chơi, chúng ta có thể rút ra những giả pháp nhằm hoàn thiện thị trường viễn thông di động Việt Nam như sau: Tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các DNVTDĐ. Cần nhanh chóng hoàn chỉnh và ban hành Luật Bưu chính Viễn thông để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp viễn thông đầu tư kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các đối tác nước ngoài đầu tư vào thị trường viễn thông Việt Nam cũng như các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.  Khuyến khích và có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp cùng chia sẻ, khai thác cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông. Bộ Thông tin và Truyền thông cần nghiên cứu và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông cùng chia sẻ khai thác hạ tầng viễn thông, hạn chế chạy đua xây dựng hạ tầng tốn kém và mất mỹ quan do các trạm BTS mọc lên quá nhiều. Mạnh dạn định hướng sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp viễn thông nhỏ, kinh doanh kém hiệu quả. Năm 2009 là năm bắt đầu các đối tác nước ngoài vào Việt Nam đầu tư góp vốn thành lập các doanh nghiệp viễn thông, hiện tại trên thị trường Việt Nam có 6 doanh nghiệp đang hoạt động, thời gian tới chắc chắn con số này sẽ tăng lên, tuy nhiên thị trường viễn thông di động có xu hướng bão hoà sau năm 2010, nhiều doanh nghiệp hoạt động nhưng không đủ sức cạnh tranh, vì vậy Bộ chủ quản cần nghiên cứu định hướng về chính sách khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông nhỏ chấp nhận sáp nhập, mua lại từ các Công ty lớn để nâng cao sức cạnh tranh. Tìm kiếm và phát triển thị trường mới. Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam còn bỏ ngỏ thị trường viễn thông rộng lớn ở nông thôn. Để đảm bảo tăng trưởng thuê bao và lợi nhuận thì các doanh nghiệp viễn thông cần đẩy mạnh phân khúc thị trường, chú trọng phát triển khách hàng tiềm năng tại các vùng nông thôn rộng lớn xuống đến các huyện, xã. Đặc thù dân số Việt Nam là dân số trẻ, với đối tượng có độ tuổi từ 15 đến 27 lớn, đây là nhóm đối tượng khách hàng rất tiềm năng, ngoài sử dụng dịch vụ nghe, gọi, nhắn tin thì nhóm độ tuổi này thích sử dụng các dịch vụ mới, sử dụng rất nhiều các dịch vụ gia tăng trên mạng di động như game, nhạc chuông, internet... Các doanh nghiệp viễn thông cần đẩy mạnh phát triển, có chính sách phân loại khách hàng theo vùng, địa lý và nhóm tuổi. Đẩy mạnh nghiên cứu đầu tư ra nước ngoài ở những nước có trình độ phát triển và văn hoá tương đồng với Việt Nam để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế và cọ sát với bên ngoài. Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh nghiên cứu phát triển và đưa ra các dịch vụ gia tăng mới trên nền mạng di động để thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ. Các doanh nghiệp cần ứng dụng mạnh hơn nữa các dịch vụ di động gia tăng vượt khỏi dịch vụ gia tăng cơ bản đơn thuần hiện nay, đưa ra dịch vụ mới như: dịch vụ dữ liệu âm thanh (audio data), dịch vụ hình ảnh Web, dịch vụ video, dịch vụ text data... nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi và thích cái mới, lạ của khách hàng. Nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng. Có thể nói chất lượng dịch vụ là yếu tố sống còn trong thị trường viễn thông di động đang cạnh tranh gay gắt hiện nay. Cuộc đua phát triển thuê bao đến chóng mặt hiện nay đã làm cho chất lượng dịch vụ của các mạng viễn thông Việt Nam bị giảm sút, chưa ổn định, dẫn đến tình trạng khách hàng mới phát triển được nhiều nhưng khách hàng cũ dời mạng cũng không ít. Để đảm bảo tăng thuê bao, thị phần và doanh thu bền vững thì các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng. Trong đó tập trung vào đẩy mạnh phát triển hạ tầng mạng lưới, đảm bảo cân đối giữa mục tiêu tăng thuê bao với đảm bảo chất lượng phục vụ khách hàng, chống nghẽn mạng, nâng tỷ lệ cuộc gọi thành công lên từ trên 98%, giảm thiểu tỷ lệ cuộc gọi bị rớt, chuyên nghiệp hoá dịch vụ chăm sóc khách hàng. Đầu tư nâng cấp công nghệ mới hiện đại. Đặc thù kinh doanh dịch vụ viễn thông là công nghệ sử dụng hiện đại và thay đổi liên tục, chu kỳ sống của sản phẩm rất ngắn, nhiều công nghệ, thiết bị mới ra đời thay thế cho công nghệ cũ. Vì vậy để đảm bảo cho phát triển bền vững thì các doanh nghiệp viễn thông cần đầu tư nhập khẩu lắp đặt ứng dụng công nghệ mới từ nước ngoài thường xuyên để giảm chi phí sản xuất và làm nền tảng cho ứng dụng các dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ hiện đại. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cần chủ động tự đầu tư nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất, cải tiến, nâng cấp máy móc và công nghệ hiện đang sử dụng. Phát triển chất lượng nguồn nhân lực. Thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện đang rất thiếu, với tốc độ phát triển và tăng quy mô đến chóng mặt của các doanh nghiệp viễn thông hiện nay đã dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là về công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và nhân lực làm việc chuyên nghiệp về dịch vụ khách hàng. Trong khi nguồn nhân lực đào tạo từ các trường Đại học còn yếu và thiếu thì để nâng cao khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp viễn thông cần chú trọng đào tạo thường xuyên lực lượng nhân lực hiện có để nâng cao trình độ làm nguồn cơ sở, thành lập các trung tâm đào tạo, các trường đại học của riêng doanh nghiệp và cử nhân viên đi học tập ở nước ngoài. Thường xuyên tái cấu trúc sắp xếp lại bộ máy tổ chức. Để nâng cao sức cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở lên khốc liệt như hiện nay thì doanh nghiệp viễn thông phải thường xuyên thay đổi, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy. Do đặc thù các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam ra đời từ những thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau, chủ yếu dưới hình thức doanh nghiệp nhà nước trực thuộc các Bộ chủ quản, cùng với quá trình đổi mới cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thì Nhà nước, Bộ chủ quản và doanh nghiệp viễn thông di động cần nhanh chóng đổi mới theo hướng  phân cấp, hạch toán độc lập, cổ phần hoá tách dần khỏi Bộ chủ quản để nâng cao khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ động đầu tư ra nước ngoài. Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam cần sự chủ động tìm kiếm cơ hội mới và dám chấp nhận mạo hiểm thách thức ở thị trường bên ngoài Việt Nam để phát triển. Từ bài học kinh nghiệm của Viettel - là doanh nghiệp đi tiên phong về đầu tư ra nước ngoài, có thể rút ra kinh nghiệm để thành công trong địa bàn đầu tư mới này, các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng các vấn đề sau: Thích ứng nhanh với thị trường và môi trường cạnh tranh ở nước ngoài, xây dựng các chính sách marketing đa dạng phù hợp với nhu cầu của khách hàng; Gắn kết phát triển kinh doanh với vấn đề nâng cao phúc lợi xã hội để phát triển bền vững và gắn kết với nước sở tại; Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới vững chắc làm cơ sở cho phát triển kinh doanh và thực hiện các chiến lược trong kinh doanh./.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docỨng dụng lý thuyết trò chơi trong phân tích chiến lược cạnh tranh của Viettel và Vinaphone.doc