Tiểu luận - Căn bệnh Hà Lan –Thực trạng ở Việt Nam và giải pháp

Nếu một ngày nọ bạn trúng xổ số một số tiền khổng lồ nằm mơ cũng không thấy bạn sẽ làm gì? Bạn có tiếp tục làm việc cật lực như trước hay ngay lập tức đổi đời, mặc sức hưởng thụ tiêu xài để rồi khi khỏan tiền trời cho ấy đã cạn,bạn thấy mình bị sa thải, không có sự nghiệp, không có tương lai . Bao giờ cũng vậy,việc chọn lựa giữa hai con đường: chông gai mà bền vững; dễ dàng mà cũng dễ vỡ cũng là một quyết định khó khăn.Và một khi con đường trải hoa hồng bất ngờ trải ra trước mặt, không phải ai cũng biết ứng xử khôn ngoan với nó.Do đó, không phải vô lý khi các nhà họach định chính sách luôn phải gắn liền tăng trưởng kinh tế với bền vững. “Căn bệnh Hà Lan” là một trong những trở ngại mà các nước hay vấp phải trong quá trình phát triển do không biết sử dụng đúng cách nguồn tiền trời cho đột ngột bơm vào nền kinh tế này.Nếu ở Việt Nam chúng ta có thành ngữ “Của thiên trả địa” thì các nhà kinh tế trên thế giới lại có thuật ngữ “Lời nguyền của tài nguyên” (The resource curse) để chỉ những cái giá quá đắt các nước sở tại phải trả so với những gì vô tình được hưởng.

doc34 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 5561 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận - Căn bệnh Hà Lan –Thực trạng ở Việt Nam và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
của chính phủ trên khỏan “Oil windfall” này. Hậu quả là vào đầu những năm 80, thâm hụt thương mại gia tăng (giai đoạn 81 – 84 thâm hụt ngân sách chiếm 12% so với GDP), lạm phát tăng cao, tỷ giá hối đoái tăng không thể kiểm soát (tỷ giá hối đoái thực giai đoạn này tăng gấp 3 lần so với giai đoạn 70 – 72),vấn đề thất nghiệp, tăng trưởng GDP (không kể dầu) chỉ đạt 5.3% ( tương đương với 60% của 5 năm trước khi khám phá ra dầu), GDP/người giảm sút trầm trọng, sự giàu có chỉ tập trung vào một số ít người trong khi người lao động sản xuất trong các khu vực công nghiệp và nhất là nông nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề tác động của khu vực kinh tế thịnh vượng nhờ dầu mỏ, người dân sống trong sự nghèo khổ, bần cùng (Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tại Nigeria phần lớn tài sản liên quan đến dầu mỏ thuộc về 1% dân số, trong khi đa số dân còn lại sống ở mức 1 USD/người mỗi ngày. Người ta ước tính khoảng 300-400 tỉ USD đã được các chính phủ Nigeria tham nhũng và chi tiêu phung phí kể từ khi phát hiện ra dầu mỏ vào những năm 1960, tức bằng tổng số tiền viện trợ của phương Tây cho toàn châu Phi trong cùng thời gian ấy), nền kinh tế bị suy thoái nặng nề không thể vực dậy, và cho đến bây giờ những hậu quả đó vẫn còn. mặc dù mỗi ngày Nigeria sản xuất được 2 triệu 4 thùng dầu thô, phần lớn dân chúng vẫn sống trong nghèo đói, phân biệt tôn giáo và săc tộc gay gắt, nợ nước ngoài rất lớn. Giờ đây, quốc gia đã từng là nhà xuất khẩu ngũ cốc này đang thiếu quan tâm tới nông nghiệp tới mức phải nhập khẩu hầu hết nhu cầu lương thực.Đất nước Nigeria được biết đến không phải bởi ấn tượng xuất khẩu dầu mỏ thứ năm trong OPEC mà là một trong những nước nghèo nhất thế giới, đất nước có biểu hiện rõ rệt của căn bệnh Hà lan. Kazakhstan, Cazakhstan, Ả rập, Mexico cũng gặp phải những vấn đề tương tự như Nigeria khi phát hiện ra được nguồn dầu mỏ và tài nguyên khoáng sản lớn. 2.Indonesia: Ứng xử kịp thời Cuộc khủng hoảng năng lượng 1973-1974 gây nên sự bùng nổ giá dầu làm cho Inonesia thu được một nguồn ngoại tệ khổng lồ nhờ xuất khẩu dầu mỏ làm cho GDP tăng rất cao (73-74 là 16%, 79-80 là 23%),tỷ giá hối đoái lên cao, và hàng loạt vấn đề khác như tham nhũng bùng nổ đi kèm với những khoản tín dụng trực tiếp, những khoản đầu tư không mang ý nghĩa kinh tế… Nhưng không như Nigeria, Indonesia đã sớm nhận thức được tình hình đất nước nên đã đưa ra những chính sách thay đổi: phá giá đồng tiền kịp thời rồi thả nổi tỷ giá, thực hiện chính sách thu hẹp tài khóa (giảm trợ cấp cho sản phẩm từ dầu, giảm chi tiêu công, tăng đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông nghiệp được ứng dụng công nghệ hiện đại, năng suất chất lượng tăng cao), chính sách thắt chặt tiền tệ (phát hành trái phiếu). Bên cạnh đó chính phủ còn sử dụng nhiều biện pháp điều hòa nền kinh tế rất hiệu quả như: đảm bảo cân bằng thu – chi, cam kết dự trữ ngoại hối hợp lý… Kết quả: lạm phát được kiểm soát, giai đoạn 82-83 sản lượng lương thực/người tăng 33% so với những năm 1970, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, khu vực nông nghiệp tạo ra rất nhiều việc làm cho người lao động. Nền kinh tế vượt qua được căn bệnh Hà Lan và đi vào ổn định. II. Vấn đề vốn Vốn ở đây bao gồm viện trợ, ODA, FDI, các khoản cho vay hỗ trợ của WB… Khi các nguồn ngoại tệ từ các nước phát triển được đưa đến cho các nước nghèo đói và các nước đang phát triển tăng vọt, nếu không có chính sách sử dụng, quy hoạch thu hút, quản lý hiệu quả các luồng tiền này để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… thì hàng loạt vấn đề lớn sẽ nảy sinh đe dọa đến kinh tế nước tiếp nhận khi lượng ngoại tệ khổng lồ đổ vào gây áp lực lên tỷ giá, lạm phát gia tăng, giá hàng hóa trong nước tăng lên khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này thấp, cán cân thương mại xấu đi, đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần, vấn đề khủng hoảng nợ như đã từng xảy ra ở Mexico (1994), Achentina (1999-2001). Có thể kể đến trường hợp của Ai Cập, khi nhận được viện trợ lớn từ chính phủ mỹ đầu những năm 1970, Israel đầu những năm 1980 với những khoản tài trợ quá mức, chính phủ dùng tiền chi tiêu không hiệu quả đẫ khiến đất nước này phải đối mặt với lạm phát phi mã trên 100%, thâm hụt thương mại tăng cao, chính phủ dùng tiền chi tiêu cho các cuộc chiến tranh và xung đột gây tổn thương cho nền kinh tế quốc gia. Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế thì viện trợ phát triển chính thức (ODA) là mảnh đất màu mỡ của tệ nạn tham nhũng và các biến tướng của nhiều dạng thao túng, biển thủ ngân quỹ viện trợ bởi tham nhũng là vấn đề của mọi quốc gia trong giai đoạn phát triển mà những nước này lại là những nước sử dụng nhiều ODA, bởi vậy, ODA tạo thuận lợi cho các dạng tham nhũng nảy sinh và phát triển: bản chất tích cực của ODA là hỗ trợ sự phát triển đã bị nước tiếp nhận nhầm lẫn, nhận thức hạn chế hoặc cố tình nhầm lẫn về thực chất của nguồn vốn ODA, rằng ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển - đồng nghĩa với cho không, quà tặng..., nhưng trên thực tế thì phần lớn nguồn ODA là vốn vay, còn phần cho không (ODA không hoàn lại) chỉ chiếm một tỷ trọng rất hạn chế trong tổng vốn. Ví như ở một số nước Mỹ - Latinh, mà điển hình là đất nước Pêru - một trong những nước đứng đầu về nhận viện trợ ở khu vực Mỹ - Latinh, chiếm vị trí thứ nhất trong mức độ hợp tác với nhiều nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hà Lan... Thế nhưng cho đến nay, đất nước này vẫn nằm trong diện các nước kém phát triển nhất, bởi đất nước này đã từng có những cựu Tổng thống như ông Alan Garcia cùng nội các của ông ta, liên tục bị giới truyền thông tố cáo vì tội tham nhũng và có liên quan đến những vụ bê bối tài chính viện trợ, đồng thời, ở đất nước này, ngân quỹ viện trợ còn được sử dụng làm quà biếu, tặng trong những chuyến công du của Tổng thống... *Trường hợp nghiên cứu 1.Các nước châu Phi (Sat, Bu-run-đi, Ca-mơ-run, U-gan-đa, Buốc-ki-na Pha-xô, Bê-nanh, Ê-ti-ô-pi-a, Ma-la-uy, Ma-li, Mô-ri-ta-ni, Nigeria) nổi tiếng là nơi tiếp nhận cứu trợ, viện trợ nhiều nhất thế giới. Tham nhũng viện trợ và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang trở thành vấn đề nóng hổi ở châu Phi. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Phi, tham nhũng gây mất mát, thất thoát, xấp xỉ 50% doanh thu từ thuế và khiến cho các khoản vay nợ nước ngoài trở nên không hiệu quả. Đặc biệt, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng chiếm xấp xỉ 70% tổng số các vụ tham nhũng. Ước tính hằng năm có tới 30 tỉ USD tiền viện trợ nước ngoài dành cho châu Phi bị thất thoát và được gửi vào các ngân hàng nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài thường rất nản lòng khi đầu tư vào châu Phi bởi tham nhũng kéo theo chi phí đầu tư gia tăng, thời gian đầu tư bị đình trệ cùng những hậu quả kinh tế khác đối với nhà đầu tư. Các nước viện trợ, giúp đỡ cho châu Phi cũng dần mất lòng tin vào hiệu quả của các nguồn vốn này nên nguy cơ một khi các khoản viện trợ, đầu tư bị giảm, bị cắt thì cơ hội để phát triển, để thoát đói nghèo cho các nước này sẽ không còn nữa. Bên cạnh đó còn là vấn đề mục đích sử dụng các nguồn tiền từ nước ngoài của chính phủ và người dân lục địa này. Đó là đầu tư lãng phí, bất hợp lý (phục vụ cho các cuộc chiến tranh xung đột, dùng tiền chi cho tiêu dùng hoang phí và những nhu cầu thiết yếu hơn là đầu tư phát triển lâu dài: đầu tư cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế, đào tạo con người, đẩy lùi dịch bệnh hay các vấn đề phúc lợi xã hội…) Hậu quả là các thành tựu xóa đói giảm nghèo bị vô hiệu hóa, gia tăng bất công xã hội, làm giàu cho một bộ phận lãnh đạo, cản trở việc xúc tiến quá trình dân chủ hóa, cách biệt giàu nghèo rất lớn, người dân vẫn đối mặt với đói nghèo, dịch bệnh, mù chữ, gánh nặng nợ nần, xung đột triền miên…Quen với thái độ ỷ lại, trông chờ vào các nguồn viện trợ và khai thác tài nguyên sẵn có, cứ thế các nước này triền miên trong cảnh nghèo à nhận viện trợ à tiêu xài hết à đói nghèo à trông chờ viện trợ… Đây cũng chính là những “triệu chứng” của “căn bệnh Hà Lan” xuất phát từ sử dụng vốn và viện trợ. 2.Trung Quốc Nhìn bề ngoài, nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển rất ấn tượng. Mục tiêu của quốc gia này là đạt được những thành tựu thật nổi bật nhằm chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt trên thế giới. Tuy nhiên, bên trong nó là những tiềm ẩn của hội chứng Hà Lan khá nhức nhối cần phải giải quyết. Trung Quốc dường như đang ít dần sự quan tâm đến những vấn đề khác của quốc gia mình, mà trên thực tế đó lại là những vấn đề rất cấp thiết, như ô nhiễm môi trường, sự mất cân bằng về thu nhập và giới tính. Tỷ lệ thu nhập và tỷ lệ tăng trưởng việc làm tăng cao trong những thập kỷ qua ở Trung Quốc đã giúp cho 300 triệu người dân thoát nghèo. Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo vẫn đang kéo dài dai dẳng đối với 200 triệu người ở các vùng nông thôn. Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Trung Quốc đang ngày càng bị nới rộng. Nếu tính mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập theo Chỉ số Gini (mức bằng 0 tương ứng với "hoàn toàn bình đẳng", mức bằng 1 tương ứng với 'hoàn toàn không bình đẳng") thì Trung Quốc hiện nay đang tiến rất nhanh đến mức 0,6 mức cao nhất trên thế giới.Cuộc sống của 50% dân số Trung Quốc, những nông dân không có bảo hiểm y tế hay lương hưu, những người không được sở hữu ruộng đất của mình và vẫn phải nộp những khoản thuế trực tiếp hay gián tiếp vẫn rất khó khăn, những người nông dân này trồng trọt chăn nuôi trên ruộng đất theo những hợp đồng dài hạn. Những nhà quản lý có quyền bán đất theo những quy định trong hợp đồng này. Những cơ quan quản lý địa phương này có thể dùng lợi nhuận thu được để tiếp tục đầu tư vào những khu vực có tỷ suất lợi nhuận cao, mặc cho những nỗ lực hạ nhiệt nền kinh tế của Bắc Kinh. Căn bệnh này bắt nguồn từ kim ngạch xuất khẩu khổng lồ về hàng hóa đòi hỏi nhiều sức lao động (thặng dư xuất khẩu của Trung Quốc kể từ những năm 1980 đã lên tới 386 tỷ USD và tổng lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đổ vào Trung Quốc là 994 tỷ USD) cộng với nguồn vốn đầu tư dồi dào từ nước ngoài, đấy là yếu tố không chỉ ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái mà còn tới quy trình ra quyết định của chính phủ. Trong khi đó, các định chế tài chính chưa đủ hoàn thiện để phản ứng lại tình trạng này. Lượng ngoại tệ đổ vào dồn dập liên tục trong khi tỷ giá hối đoái vẫn được định giá quá thấp và cố định một cách tương đối cùng với những định chế tài chính yếu kém không chỉ khiến cho chính quyền trung ương mất khả năng kiềm chế sự bùng nổ đầu tư đang liên tục diễn ra mà bên cạnh đó, tình trạng này còn khuyến khích những hành động tìm kiếm đặc lợi, tham nhũng và bất ổn ở nông thôn. Hơn nữa, với lượng dự trữ ngoại tệ trên một nghìn tỷ USD, chính phủ Trung Quốc cảm thấy khó khăn trong việc hạ nhiệt nền kinh tế. Hiện tại, các khoản đầu tư đã tương đương với 40% GDP. Những điều này làm giảm mức độ hiệu quả của nền kinh tế (làm giảm tỷ suất lợi nhuận), hoạt động đầu tư kém hiệu quả, thiếu sự suy xét và cân nhắc được khuyến khích phát triển. Nhiều quốc gia khác cũng đã từng phải đối mặt với tình trạng này. bChương III. Thực trạng và giải pháp cho Căn bệnh Hà Lan ở Việt Nam ---oOo--- I. Căn bệnh Hà Lan và nguốn vốn từ nước ngòai ODA, FDI 1.Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể dẫn đến triệu chứng căn bệnh Hà Lan Ở các nước đang phát triển nói chung cũng như Việt Nam nói riêng, nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nếu như chính phủ các nước không sử dụng nguồn vốn này đúng cách và hiệu quả nó sẽ dẫn đến tác dụng ngược, đặc biệt đó là dẫn đến những triệu chứng của căn bệnh Hà Lan như tăng trưởng kinh tế chậm, ,lạm phát tăng, và tăng giá trị của đồng tiền cũng như tỷ giá hối đoái thực tăng gây hại đến khu vực xuất khẩu. ODA Mục tiêu của ODA để giúp đỡ phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng vốn nhân lực thông qua tài trợ nhập khẩu, giảm gánh nặng nợ nước ngoài, tăng tỷ lệ dự trữ ngoại tệ. Đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn vốn nhân lực giúp khuyến khích phát triển khu vực tư nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo cho nước nhận. 1.1 Tác động đến kinh tế Chính phủ tiêu dùng bằng cách đổi tiền ngoại tệ có được từ viện trợ cho ngân hàng trung ương ra đồng nội tệ để mua hàng hóa và dịch vụ nội địa. Việc này dẫn đến giá của hàng hóa trong nước phi ngoại thương tăng, do cầu trong nước tăng trong khi cung không đổi do hàng hóa phi ngoại thương không nhập khẩu. Đến lượt nó, việc tăng giá đầu ra của mặt hàng phi thương mại dẫn đến giá đầu vào như lương cũng tăng. Khi giá đầu vào tăng vơi mặt hàng thương mại, xuất nhập khẩu mà giá đầu ra của các mặt hàng này được quy định bởi giá quốc tế , do đó lợi nhuận của các công ty này bị giảm. Sự tăng giá của mặt hàng thương mại so với phi thương mại dẫn đến việc tăng tỷ giá hối đoái thực, trong khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm, cũng như tăng giá trị của đồng nội tệ tăng. Điều này lại làm giảm khả năng cạnh tranh của ngành xuất khẩu. à Kết quả 1 : khu vực xuất khẩu bị kìm hãm do lợi nhuận giảm, khả năng cạnh tranh giảm so với các nước và do đó tài nguyên chuyển từ khu vực thương mại (tradable sector) sang khu vực phi thương mại (non-tradable sector) à Kết quả 2: lạm phát xảy ra, người có thu nhập thấp và trung bình là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất, đời sống người dân không những không được cải thiện mà lại càng khó khăn 1.2 Tác động đến xã hội Thứ nhất, qua nghiên cứu cho thấy nguồn viện trợ lớn có thể vượt quá khả năng quản lý của chính phủ gây lãng phí, những chương trình dự án không hiệu quả. Thứ hai, nguồn vốn tăng làm giảm sự khuyến khích có những chính sách tốt hay cải cách những khu vực, tổ chức, thể chế kém hiệu quả. Thứ ba, kinh nghiệm chỉ ra rằng sự phụ thuộc vào viện trợ làm yếu tính trách nhiệm giải trình, khuyến khích việc tìm kiếm đặc lợi, ưu đãi từ chính phủ mà không chịu cải cách để hoạt động hiệu quả hơn, tham nhũng tăng; hơn nữa, sự gia tăng viện trợ làm cản trở sự phát triển của xã hội. FDI FDI mang lại cho nước nhận nhiều ưu điểm như bổ sung nguồn vốn quan trọng để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng ngân sách nhà nước, tạo việc làm và cải thiện nguồn nhân lực,….Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm này FDI cũng mang những “ mầm mống” và những hậu quả cho nền kinh tế qua những sơ hở trong quản lý của nhà nước dẫn đến những tác dụng ngược, không những không thúc đẩy tăng trưởng mà làm cho nền kinh tế phát sinh nhiều thiệt hại có thể gây thâm hụt can cân thương mại, lạm phát. Về xã hội, gây ra mất cân đối giữa các ngành nghề hay cá vùng lãnh thổ, tạo ra bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường,… 2.Triệu chứng thể hiện căn bệnh Hà Lan ở Việt Nam từ ODA và FDI 2.1 Thâm hụt cán cân thương mại Khối doanh nghiệp FDI cũng chính là khối có kim ngạch xuất khẩu rất lớn nhưng cũng là nhóm doanh nghiệp “đóng góp” đáng kể vào con số nhập siêu. Bảng 1: Trị giá xuất khẩu theo khu vực kinh tế Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Phân theo khu vực kinh tế Khu vực kinh tế trong nước (%) 53.0 54.8 52.9 49.6 45.3 42.8 42.1 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (%) 47.0 45.2 47.1 50.4 54.7 57.2 57.9 Bảng 2: Trị giá nhập khẩu theo khu vực kinh tế Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Phân theo khu vực kinh tế Khu vực kinh tế trong nước (%) 72.2 69.3 66.1 65.1 65.3 62.9 63.3 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài(%) 27.8 30.7 33.9 34.9 34.7 37.1 36.7 Nguồn: Tổng cục thống kê Qua 2 bảng trên ta thấy, mức đóng góp vào xuất nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng và chiểm tỷ trọng cao trong cơ cấu. Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI năm 2008 đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, nhưng khối doanh nghiệp này cũng nhập khẩu tới 28,458 tỷ USD. Tổng nhập siêu xấp xỉ 4 tỷ USD của khối này đã chiếm gần 1/4 thâm hụt thương mại của Việt Nam năm 2008. è FDI góp phần làm thâm hụt cán cân thương mại 2.2 Lạm phát Năm 2007-2008 là 2 năm đánh dấu công tác kiếm chế lạm phát của chính phủ Việt Nam. Lạm phát trong 2 năm này tăng cao đến 2 con số (năm 2007 lạm phát là 12.63%). Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát trong năm 2007-2008 ở nước ta là do dòng vốn đầu tư nước ngoài như ODA và FDI đổ vào thị trường lớn: năm 2007 là năm đầu tiên một lượng ngoại tệ rất lớn đổ vào Việt Nam, từ vốn trực tiếp, gián tiếp, ODA, thu từ dịch vụ qua biên giới, kiều hối... khiến tổng lượng ngoại tệ đổ vào Việt Nam năm qua lên tới trên dưới 25 tỉ USD. Nhưng do chính sách tài chính, tiền tệ tiền tệ còn lỏng lẻo, chưa hợp lý, quản lý còn yếu kém, tốc độ giải ngân chậm làm cho tiền “ứ đọng”, không kiểm soát được làm cho cung tiền tăng lên đáng kể gây ra lạm phát. Hơn nữa, lạm phát 2007- 2008 còn do nguyên nhân cầu kéo, mà một trong những thị trường làm đẩy giá tăng lên đó là do bất động sản.Nguồn FDI đầu tư vào thị trường bất động sản Theo Thời báo kinh tế (số 126), FDI đăng ký trong 5 tháng đầu năm 2008 là 15,3 tỷ, trong đó 12,28 tỷ tập trung vào đầu tư bất động sản và khu vui chơi giải trí chiếm 83,4%, lĩnh vực công nghiệp chỉ chiếm 16,02%, còn lại là lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Việc đầu tư của nước ngoài vào thị trường bất động sản, kéo theo người dân đổ xô vào làm cho giá nhà đẩy lên gấp nhiều lần. 2.3 Chuyển giao công nghệ Đa số các nước đầu tư chủ yếu vào Việt Nam là các nhà đầu tư châu Á, không phải là những nước phát triển lớn, họ chuyển giao những công nghệ lỗi thời, thậm chí còn lợi dụng những kẽ hở của luật pháp còn chưa chặt chẽ để chuyển giao những công nghệ gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, họ đầu tư vào những lĩnh vực mà họ bị hạn chế không cho đầu tư tại nước của họ do gây ô nhiễm môi trường hay thiệt hại đến sức khỏe cộng đồng,... Việt Nam đang đối mặt với những thách thức, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là nạn "xuất khẩu" ô nhiễm môi trường từ các nước phát triển trên thế giới đang ngày càng gia tăng. Theo Tổng cục Môi trường Vịêt Nam, hiện đang có tình trạng chuyển các ngành gây ô nhiễm môi trường nặng nề từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI.Việc “xuất khẩu” ô nhiễm này mang lại cho các tập đoàn đa quốc gia một lợi thế cạnh tranh mới nhờ giảm chi phí sản xuất. Nguyên nhân của tình trạng này là do chi phí để khắc phục ô nhiễm môi trường tại các nước phát triển rất cao. Do vậy, chính phủ ta cần có những giám sát và quản lý chặt chẽ đối với các dự án đầu tư FDI, kiên quyết không chấp  nhận các dự án FDI gây ô nhiễm môi trường. Do đó, những dự án đầu tư này không những không góp phần giúp tăng trưởng kinh tế mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội. 2.4 Mất cân đối giữa các ngành và các vùng lãnh thổ Các tỉnh thành trong nước cạnh tranh để thu hút vốn FDI,ODA trong khi nhà nước không có một kế hoạch hay một định hướng đúng đắn thì sẽ gây kìm hãm cho các vùng nói riêng và cả nước nói chung. Những dự án FDI,ODA thâm dụng lao động do tranh thủ giá lao động rẻ sẽ không góp phần làm tăng trưởng kinh tế mặc dù nó góp phần giải quyết việc làm nhưng những ngành thâm dụng lao động như may mặc, da giày sẽ không giúp nâng cao được trình độ, kỹ năng của nguồn nhân lực, không phát triển được nguồn nhân lực hay đào tạo được nhân lực tay nghề cao. Bên cạnh đó, những ngành thu hút FDI lớn hiện nay là dầu mỏ và đặc biệt là bất động sản. Trái với quan điểm rõ ràng của Việt Nam, mong muốn hướng đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu, vốn FDI năm 2008 vẫn nặng về “bất động sản”. Theo Thời báo kinh tế (số 126), FDI đăng ký trong 5 tháng đầu năm 2008 là 15,3 tỷ, trong đó 12,28 tỷ tập trung vào đầu tư bất động sản và khu vui chơi giải trí chiếm 83,4%, lĩnh vực công nghiệp chỉ chiếm 16,02%, còn lại là lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Dòng vốn FDI hướng mạnh vào lĩnh vực này này sẽ thúc đẩy tiêu dùng trong nước và làm xấu thêm cán cân thương mại trong tương lai. Bên cạnh đó, phần lớn nguồn FDI đầu tư vào lĩnh vực này là những tòa nhà văn phòng, khu mua sắm, không phải là trường học, bệnh viện, siêu thị, chợ, đường xá,…những công trình công cộng. Nông nghiệp là khu vực không có sức thu hút FDI (dưới 0.5% tổng FDI trong 8 tháng đầu năm 2008 đầu tư cho nông nghiệp trong khi Việt Nam vẫn là một nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Hơn nữa, những dự án phát triển bất động sản thường được triển khai ở những vùng ngoại ô, có cả những khu đất nông nghiệp dẫn đến người nông dân mất đất để gieo trồng, họ di chuyển vào thành thị, trở thành những người lao động thiếu tay nghề làm gia tăng khả năng tắc nghẽn, gia tăng áp lực lên nhưng dịch vụ xã hội, có thể gây ra nhiều tệ nạn xã hội,… . Khánh kiệt nguồn tài nguyên Hiện nay, ngành dầu mỏ là ngành chiếm tỷ trọng FDI rất lớn. Xuất khẩu dầu thô chiếm gần 20% GDP nhưng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu xăng, dầu do chưa có dầu tinh lọc. Qua đó, ta thấy việc khai thác tài nguyên của nước ta thiếu hiệu quả và sẽ nguy hiểm khi các nhà đầu tư rút vốn khi hết nguồn dự trữ dầu. 3.Giải pháp và khuyến nghị 3.1 Giải pháp Giải pháp 1: Viên thuôc hiệu quả cho căn bệnh Hà Lan đó là điều tiết tổng cung phản ứng lại với sự tăng cầu nội địa. Tuy nhiên, những nước đang phát triển lại tồn tại nhiều cản trở làm kìm hãm nguồn cung như không sử dụng hết và hiệu quả nguồn lực sẵn có và những khó khăn cản trở việc đầu tư như thiếu cơ sở hạ tầng, nhân lực tay nghề cao. à Chính phủ nên sử dụng nguồn ODA để giải quyết những vấn đề này để giải phóng nguồn cung và đầu tư công cộng có thể đóng vai trò chủ đạo. Chính phủ mua hàng nội địa và sử dụng để xây dựng cầu đường, trường học, y tế,..những dịch vụ công cộng. Việc nâng cấp hệ thống hạ tầng này làm cho tăng hiệu quả của nền kinh tế tư nhân, tổng cung tăng phù hợp với sự tăng của tổng cầu do chi tiêu chính phủ. Hay có thể nói đầu tư chính phủ kích thích đầu tư cho khu vực tư nhân. Giải pháp 2: Chính phủ trực tiếp dùng ngoại tệ để mua hàng nhập khẩu thay vì hàng nội địa, đồng ngoại tệ từ viện trợ có thể “lọt ra” ngoài nên kinh tế thay vì dùng nó để khuyến khích hàng hóa nội địa. Do đó, khả năng lạm phát sẽ giảm. Tuy nhiên, giải pháp này cũng gặp những trở ngại như là tác động số nhân của chi tiêu đến tổng cầu sẽ giảm. Chính phủ có thể sử dụng giải pháp nâng cao bằng cách nhập khẩu hàng hóa tư bản để làm tăng năng suất quốc gia, ngoài ra còn những mặt hang nhập khẩu cần thiết mà nước đang phát triển khó có thể sản xuất như dược phẩm,thuốc đặc trị HIV/AIDS,…. Giải pháp 3: Ngân hàng trung ương làm gì với ngoại tệ ODA mà chính phủ đổi Cách 1: Dự trữ và để cho chi tiêu tác động đến nền kinh tế gây lạm phat Cách 2: Bán ngoại tệ cho khu vực tư nhân, lấy lại nội tệ từ nền kinh tế Bằng cách mua đồng nội tệ và bán đồng ngoại tệ, ngân hàng trung ương phần nào làm tăng tỷ giá hối đoái danh nghĩa và giảm giá trị đồng nội tệ, hạn chế ảnh hưởng đến khu vức xuất khẩu, góp phần giảm lạm phát Việc thêm đồng ngoại tệ cũng như tăng giá trị nội tệ làm luồng nhập khẩu tăng. Nếu hàng nhập khẩu là tư bản thì sẽ đẩy mạnh tăng trưởng cho quốc gia. Nếu nhập khẩu những mặt hàng căn bản, thiết yếu như lương thực, thực phẩm thì sẽ góp phần làm giảm giá nhưng mặt hàng này trong nước, góp phần cải thiện tiêu thụ của hộ gia đình thu nhập thấp. Nếu nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ, người giàu sẽ có lợi, nhưng cơ hội tăng trưởng giảm, cũng như việc cải thiện đời sống không có kết quả. Giải pháp 4: Cho những nước có nợ nước ngoài cao và lạm phát cao Những nước chọn giải pháp này thường là những nước có tỷ lệ lạm phát cáo, hoặc gánh nặng về nợ. Thay vì dùng ngoại tệ đổi ra nội tệ để chi tiêu chính phủ thì họ dùng để bù đắp những khoản nợ Ngân hàng trung ương bán ngoại tệ từ ODA cho khu vực tư nhân để thu nội tệ từ nền kinh tế và góp phần làm giảm lạm phát. 3.2 Khuyến nghị - Cải cách thay đổi cơ chế nhiêu khê, một trong những “nút thắt cổ chai” cho dòng vốn, trong đó phải nâng cao năng lực quản lý và sử dụng vốn như việc tăng tỷ lệ giải ngân cho các nguồn vốn, tránh tình trạng gây ra lạm phát cho nền kinh tế. - Định hướng FDI vào những ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ và những ngành công nghiệp định hướng xuất khầu bằng những chính sách hay bằng những việc làm khuyến khích như hạn chế thuế xuất khẩu,…để có thể phát triển nguồn nhân lực, đồng thời cải thiện cán cân thương mại. - Nguồn viện trợ ODA nên đươc dùng để đầu tư vào những công trình công cộng, thực hiện đúng mục đích của ODA là nâng cao mức sống con người, giảm tỷ lệ đói nghèo, qua đó giúp phát triển nguồn nhân lực tương lai và xã hội công bằng. - Cần có những chính sách khuyến khích cũng như những cải cách để thúc đẩy nguồn vốn và viện trợ ODA và FDI vào lĩnh vực nông nghiệp vì nước ta vẫn là nước dựa vào nông nghiệp rất lớn, có tiềm năng nông nghiệp cao nhưng vẫn chưa được khai thác, tình trạng vẫn còn lạc hậu, khai thác kém hiệu quả,.. - Cần có những cơ chế kiểm soát nguồn vốn nước ngoài, giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vay của cơ quan nhà nước cũng như những công ty. Phản đối và triệt để xóa bỏ nạn tham nhũng, tư lợi và sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, việc phân phối nguồn vốn cũng như viện trợ phải được kiểm soát và sự trên nhưng tiêu chuẩn hợp lý. - Một phần viện trợ nên được phân bố để tăng sức mạnh của cơ quan nhà nước, cải thiện chất lượng trong công tác quản lý nhà nước như hạn chế tham nhũng, tăng khả năng chịu trách nhiệm và minh bạch. II. Bất động sản – “Làm gì để trở thành Công tử Bạc Liêu?” Việt Nam vốn là nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lại gánh chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh .“1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm nô lệ giặc Tây” đã làm cho nông dân Việt Nam phải sống cơ cực từ đời này sang đời khác. Cảnh cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc từng được xem như là chuyện thường ngày. Nhưng mọi chuyện đã bắt đầu thay đổi khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế năm 1986. Sau hơn 20 năm đổi mới, tỷ lệ đói nghèo từ 80% giảm xuống còn 29%( theo chuẩn nghèo thế giới 2002). Với sự tăng trưởng phát triển của nền kinh tế - xã hội làm cho đời sống người dân ngày càng nâng cao Điều này đã dẫn tới: 1.Đất nông nghiệp trở thành đất công nghiệp, đất đô thị với mức giá tăng chóng mặt (từ vài chục nghìn /m2 tăng lên vài triệu, thậm chí vài chục triệu). Trong thời gian qua, tuy quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh, nhưng đến nay, quy mô đô thị của Việt Nam mới chỉ khoảng 30% so với hơn 50% của các nước trong khu vực, 80% thậm chí là 100% ở các nước phát triển. Điều này có thể tiên liệu rằng, ít nhất là từ nay đến năm 2020, tốc độ đô thị hóa sẽ diễn ra rộng khắp hơn. Thêm vào đó, tiến trình đô thị hóa sẽ đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó phần dành cho đền bù giải tỏa, chuyển đất nông nghiệp thành đất công nghiệp sẽ chiếm một phần đáng kể. Với sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế, của xã hội, những thành tựu đạt được, mọi chuyện sẽ ngày càng tốt đẹp, đời sống của người dân ngày càng khấm khá hơn. Nhiều đô thị (nhất là hai vùng kinh tế trọng điểm xung quanh Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh) được mở rộng.Nhiều khu vực kinh tế mọc lên kèm theo đó sự đô thị hóa mạnh mẽ xung quanh các trung tâm kinh tế đã làm cho những người nông dân có mức thu nhập chưa đến 1 $/ngày => chỉ sau 1 đêm trở thành “tỷ phú”. Nói riêng về Hà Nội:chuyện “làng chơi” Đi qua cầu Trung Kính, dọc theo con sông Tô Lịch, hắt về phía bên kia cầu, trước kia là những làng xóm chi chít, sống bằng nghề nông, có thêm nghề phụ là làm hương trầm. Hương lúa, hương trầm tạo nên hương sắc của những xóm làng ở khu vực này. Vườn tược ở đây mênh mông lắm, nhà nào cũng có hàng trăm, hàng nghìn mét. Từ khi làng trở thành phố, thành khu đô thị, thì dân ở đây giàu lên trông thấy. Nhà nào cũng sắt ra một trăm, vài trăm mét đất bán đi, thế là giàu. Số đất còn lại, làm mấy cái kiốt, hoặc mấy gian nhà cấp 4 cho sinh viên thuê, thành ra chả làm gì cũng không sợ đói. Lúc đầu thì cái sự chả làm gì không ai muốn. Nhưng mấy đời làm ruộng, bây giờ có "đào tạo lại" cũng chẳng để làm gì, làm gì còn ruộng mà làm. Cái sự chơi lúc đầu chỉ là bất đắc dĩ, nhưng chơi mãi thành quen, đến bây giờ thì chả thích làm gì, kể cả làm cỗ. Có công việc gì phải đụng đến cỗ bàn, thì cũng lại đi thuê. Cái sự chơi ở đây, là chơi mà không phải lo miếng cơm manh áo. Không phải tất cả mọi người đều chơi, nhưng số người chơi ở đây cũng không phải ít. Hầu hết là những người trước kia là nông dân, khi không còn ruộng nữa, họ chả biết làm gì. Khi đã có tiền, thì từ chỗ chả biết làm gì đến chỗ chả cần làm gì, cũng chỉ là gang tấc, thành ra cái sự chơi ở đây nó mênh mông lắm. Hà Nội cứ phình ra tứ phía, với một tốc độ chóng mặt, chỉ riêng những khu đô thị mới đã ngốn mất bao nhiêu là làng. Nào Linh Đàm, Pháp Vân, Nam Thăng Long, Định Công, Trung Yên, v.v... Kể cả khu Nghĩa Đô, Giáp Lục, Mai Động, v.v... trước đây cũng đều là làng, thành ra số người chơi cứ tăng dần lên, cũng đến chóng mặt, theo sự phát triển của đô thị. Không biết có bao nhiêu hộ biết cách "ứng xử" với đồng tiền theo đúng cách của người nông dân mất đất (mất tư liệu sản xuất đặc biệt)? Tình trang này chính là biểu hiện của “bệnh Hà Lan” . Có trong tay 1 số tiền lớn nhưng không biết cách sử dụng, tiêu xài hoang phí, không chịu lao động. Đến khi hết tiền thì nghề nghiệp không có, đất đai không còn. Rồi chuyện này cũng hình thành trong lớp con cháu tâm lí ỷ lại, không muốn làm Điều này không chỉ ảnh hưởng tới cá nhân mỗi người mà là tạo thêm gánh nặng cho xã hội. Các xe đang lấy đất mặt tại ấp 5 xã Lê Minh Xuân huyện Bình Chánh *Để tránh việc mất đất, người dân một số nơi đã nghĩ ra cách bán dần đất trên bề mặt ruộng cho các lò gạch. “tùy theo loại đất đen (1/2m đất mặt) hay xám (1/2m lớp đất kế tiếp) mà giá bán ra dao động từ 300 ngàn đến 500 ngàn đồng/xe loại 5 khối” : lới một người nông dân ở Hóc môn. Một người hạ thấp mặt ruộng buộc nhiều nông dân có thửa ruộng sát bên cũng phải hạ nếu muốn có nước vào ruộng, đất bị lấy đi,ruộng không thể trồng trọt, và bị bỏ hoang.Chỉ vì ham lợi trước mắt mà họ không nhìn thấy được cái hại về sau 2.Hậu quả: Thế nhưng những tệ nạn xã hội (mại dâm, ma tuý ...) xuất hiện ngày càng nhiều ở các vùng quê, chuẩn mực đánh giá có thể bị thay đổi.Người ta không còn đánh giá sự khá giả, giàu có qua mức thu nhập hàng tháng, qua những vụ mùa, mà thay vào đó là việc sở hữu bao nhiêu mét vuông, bao nhiêu lô đất? Sản xuất nông nghiệp ít được chú trọng, thay vào đó người ta dồn nguồn lực cho việc đầu cơ đất đai – bất động sản. Những điều kiện vật chất cho trẻ em giai đoạn hiện tại đầy đủ hơn: xuất hiện một số trò chơi không lành mạnh, tốn thời gian, trẻ không chịu học hành, ỷ lại cha mẹ đua đòi với bạn bè. Khi những “khoản trời cho” dần mất đi, đất sản xuất không còn, cộng với thói quen lười lao động thì liệu mấy đứa trẻ mới lớn có chịu khổ sở được không? Thu hẹp sản xuất, tăng tỉ lệ thất nghiệp tạo gánh nặng cho nền kinh tế. è Lúc này không phải là Căn bệnh Hà Lan cho toàn nền kinh tế mà là Căn bệnh Hà Lan cho những gia đình này và toàn nền kinh tế phải gánh chịu! 3.Giải pháp Để tránh căn bệnh Hà Lan xảy ra ở các vùng ven đô thị, khu vực nông thôn Việt Nam, thì chúng ta phải làm gì? Điều này phụ thuộc vào chính bản thân người có được “khoản trời cho” và cả vai trò điều tiết của chính phủ. *Đối với những người có được các khoản trời cho - Dùng một phần nhỏ để đầu tư, sửa sang và mua sắm những vật dụng, tiện nghi tối thiểu cho cuộc sống. - Tăng thêm một phần đầu tư cho việc học hành của con cái và phải thường xuyên quan tâm, giám sát, kiểm tra việc học hành của con cái mình. Một giải pháp tương đối hiệu quả là cho những đưa trẻ vào các trường nội trú chất lượng cao ở các thành phố. - Toàn bộ số tiền còn lại đem gửi vào các ngân hàng (nếu không có khả năng kinh doanh đem lại lợi nhuận chắc ăn). Hoặc tham khảo ý kiến của những người đáng tin cậy và có năng lực đầu tư kinh doanh. Có thể dùng phần lãi thu được hàng tháng để nâng cao mức sống, chi cho việc học của những đưa trẻ (chỉ dùng phần lãi có được). - Tìm ngay một việc làm ổn định (chấp nhận với mức thu nhập không cao) để tránh vấn đề "nhàn cư vi bất thiện". Khi những đưa trẻ trưởng thành cũng phải tìm ngay việc làm cho chúng, không để chúng ở nhà quá lâu. *Đối với nhà nước (Chính phủ) - Khi quá trình đô thị hoá phải quan tâm đến việc tạo việc làm cho những người bị "mất đất" sản xuất. - Tăng cường đầu tư cho giáo dục, để nâng cao dân trí, khuyến khích người dân làm ăn, từ đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có thể khuyến khích các thành phần kinh tế khác xây dựng các trường, trung tâm giáo dục chất lượng cao. - Có các chính sách nhằm hạn chế việc đô thị hóa tràn lan, phải giữ gìn một phần nào đó văn hóa làng xã – nông thôn truyền thống - Thường xuyên tuyên truyền (thông qua tổ dân phố, chính quyền địa phương), những vấn đề tác hại nếu không tập trung vào sản xuất mà chỉ lo đầu tư, mua bán, kinh doanh bất động sản. III. Dầu thô- “Chiến lược nào cho chúng ta?” 1.Thực trạng Như chúng tôi đã phân tích ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh Hà Lan tại các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đó chính là tình trạng xuất khẩu sản phẩm thô một cách quá mức, không chú trọng đầu tư sản xuất các sản phẩm tinh. Căn bệnh Hà Lan sẽ phát tác một khi nguồn tài nguyên trong nước đã cạn kiệt hoặc có sự biến động giảm giá tài nguyên trên thị trường thế giới. Khi đó việc khai thác tài nguyên để bán gặp khó khăn, các ngành sản xuất khác trong nước hầu như đã tê liệt vì tụt hậu kĩ thuật khi không được đầu tư trong một thời gian dài. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng. Việt Nam không là ngoại lệ trong thực trạng chung mà các nước đang phát triển đều gặp phải. Trong phần này, chúng tôi sẽ chú trọng phân tích những triệu chứng, biểu hiện và cách đề xuất chữa trị và phòng ngừa Căn bệnh Hà Lan cho Việt Nam ở sản phẩm xuất khẩu là dầu thô. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô dựa chủ yếu vào việc sử dụng rộng rãi các nguồn tài nguyên sẵn có và các điều kiện thuận lợi của đất nước. Chiến lược này chủ yếu được thực hiện ở các nước đang phát triển, trong điều kiện trình độ sản xuất còn thấp, đặc biệt là trình độ của ngành công nghiệp và khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế còn hạn chế. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô tạo điều kiện phát triển nền kinh tế theo chiều rộng. Như khi cơ hội khai thác nông nghiệp nhiệt đới hay tài nguyên thiên nhiên xuất hiện sẽ có nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thông thường các nhà đầu tư nước ngoài thường đầu tư vào công nghiệp khai khoáng và công nghiệp sản xuất sản phẩm nhiệt đới. Sự phát triển các thị trường sản phẩm sơ khai sẽ dẫn đến tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tích lũy trong nước, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tăng đội ngũ công nhân lành nghề, dẫn đến tăng quy mô sản xuất của nền kinh tế. Ví dụ, từ khi xuất khẩu dầu mỏ, ở Việt nam đã giải quyết việc làm trực tiếp cho gần 10 nghìn lao động và nông nghiệp tăng mạnh, diện tích đất trông cây công nghiệp tăng hàng nghìn hecta mỗi năm, và cùng với việc mở rộng đất canh tác, một lượng lao động tương ứng đã được huy động. Chiến lược xuất khẩu thô cũng tạo ra sự thay đổi cơ cấu của nền kinh tế. Ban đầu là sự phát triển công nghiệp khai thác và ngành công nghiệp chăn nuôi, trông cây lương thực và cây công nghiệp có khả năng xuất khẩu, đồng thời với những nhành này là sự phát triển chế biến, tạo ra các sản phẩm sơ chế như gạo, cà phê, cao su… Sự phát triển của công nghiệp chế biến tạo cơ hội cho việc gia tăng xuất khẩu sản phẩm thô, nó lại có tác động ngược lại với các ngành cung ứng nguyên liệu, tạo ra “mối liên hệ ngược”, ví dụ như sự phát triển của công nghiệp dệt sẽ tạo ra nhu cầu đối với nguyên liệu như bông hoặc thuốc nhuộm, do đó đẩy mạnh sản xuất những ngành này. Tác động của “mối liên hệ ngược” đặc biệt có hiệu quả nhờ vào quy mô sản xuất lớn làm giảm chi phí sản xuất và tăng cạnh tranh trên thịt trường quốc tế. Sự phát triển của các ngành có liên quan còn được thể hiện qua “mối quan hệ gián tiếp” thông qua nhu cầu về hàng tiêu dùng. Mối liên hệ nảy sinh khi phần lớn lực lượng lao động có mức thu nhập ngày càng tăng tạo ra nhu cầu tăng thêm về hàng tiêu dùng. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô góp phần tạo nguồn vốn ban đầu cho công nghiệp hóa. Vấn đề này chúng ta đã phân tích khi nghiên cứu về vai trò của TNTN và biết rằng đối với hầu hết các nước quá trình tích lũy vốn lâu dài, gian khổ và đặc biệt khó khăn là quá trình tích lũy ban đầu. Quá trình này sẽ có những thuận lợi hơn đối với những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Họ có thể khai thác sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa đất nước. Thuận lợi hơn cả là đối với những nước có nguồn dầu mỏ xuất khẩu với quy mô lớn. Đối với Việt Nam xuất khẩu thô thời gian qua cũng có những đóng góp đáng kể cho nguồn tích lũy của đất nước. Là một nước nghèo và thiếu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị, với nguồn thu hàng năm về ngoại tệ từ xuất khẩu sản phẩm sơ chế đã tạo ra nguồn vốn đáng kể để nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghiệp. Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, rõ ràng có một thực tế chúng ta không thể phủ nhận được, đó chính là chiến lược phát triển của nước ta đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Nhìn lại tình hình thương mại nước ta năm 2007, Cán cân thương mại đã “nghiêng vai” về phía nhập siêu, do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu. Trong năm thứ 2 Việt Nam gia nhập WTO, giải bài toán nhập siêu là một trong số những nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế. Xuất khẩu năm 2007 chưa kịp hết vui mừng với con số 48,3 tỷ USD (tăng 21,8% so với năm 2006) thì có ngay một con số đối trọng bên cạnh. Kim ngạch nhập khẩu vọt lên 60,83 tỷ USD (tăng 33,1%), nâng mức nhập siêu lên 12,4 tỷ USD. Nền kinh tế của chúng ta hiện tại, đặc biệt là năm 2008 vừa qua lại tiếp tục giải bài toán nhập siêu để cân bằng cán cân thương mại, trong khi biện pháp duy nhất là tăng xuất khẩu (như năm 2007) đã cho thấy những minh chứng cụ thể về việc không giảm bớt được nhập siêu. Nhập siêu là một trong những triệu chứng cơ bản để “bắt mạch” nền kinh tế và dù nhiều ý kiến tỏ ra chưa thật lo ngại về tình trạng này vì nguồn ngoại tệ có thể cân đối được nhằm bù đắp thiếu hụt thì có thể dẫn ra đây những ví dụ ngược lại. Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô nhưng lại nhập khẩu gần như 100% sản phẩm xăng dầu cho nhu cầu trong nước và dĩ nhiên giá xăng dầu thế giới,lập tức điều chỉnh ngay giá xăng dầu trong nước tăng lên. Năm 2007, chúng ta đã phải nhập khẩu khoảng 12 triệu tấn dầu tinh (tương đương 18 đến 20 triệu tấn dầu thô). Trong khi sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam cùng năm mới chỉ khoảng 15,4 triệu tấn. Nếu có chút lời lãi nào nhờ dầu thô lên giá thì lại bị lỗ nặng khi xăng dầu nhập khẩu cứ tăng giá theo. Năm 2007, con số mà Viện Kinh tế Thương mại (Bộ Tài chính) đưa ra là nhà nước phải bù lỗ giá dầu khoảng 12.300 tỷ đồng và bù lỗ giá xăng khoảng 1.100 tỷ đồng. Thế nhưng ngân sách chỉ dành 2.000 tỷ đồng để bù lỗ giá dầu (mặt hàng này sẽ chấm dứt hoàn toàn việc bù lỗ từ năm 2008). Còn 10.000 tỷ đồng chưa có nguồn để bù lỗ. Xăng dầu là yếu tố đầu vào của hầu hết các ngành kinh tế khác nên chưa cần tính đến các yếu tố khác, khó có thể lạc quan khi trông chờ vào khả năng bù đắp thiếu hụt vì không có nền kinh tế nào đủ sức gồng gánh cán cân thương mại cứ tiếp tục lệch về phía kim ngạch nhập khẩu với những tác động dây chuyền của nó. Năm 2008 vừa qua là một năm nhiều biến động với giá dầu thô trên thế giới, và Việt Nam chúng ta đã chịu thiệt hại không nhỏ. Giá dầu giảm đã mang đến cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung nhiều thách thức. Thông tin mới nhất từ PVN cho biết, trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 1,45 tỷ USD bằng 33% so với kế hoạch năm 2009. Tuy nhiên, con số này đã giảm tới giảm 47% so với cùng kỳ năm 2008 và giảm 29% so với quý IV/2008. Nguyên nhân giảm là do giá dầu thế giới sụt giảm mạnh. Giá dầu trung bình quý I/2009 là 45 USD/thùng, giảm 55 USD/thùng so với trung bình quý I/2008 và giảm 21 USD/thùng so với trung bình quý IV/2008. Mặc dù sản lượng dầu thô khai thác qúy I đạt 4,36 triệu tấn nhưng do giá dầu trung bình trong quý I chỉ đạt khoảng 45 USD/thùng, giảm 55 USD/thùng so với trung bình quý I/2008 làm giá trị xuất khẩu giảm đáng kể. Bên cạnh đó, nhu cầu dầu thô cho các nhà máy lọc hóa dầu trên thế giới giảm, đồng thời sản lượng từng hợp đồng thấp hơn trước cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. Theo PVN, do giá dầu giảm nên doanh thu toàn Tập đoàn cũng giảm 20% so với cùng kỳ năm 2008 và nộp ngân sách đạt 18.600 tỷ đồng, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2008 và giảm 33% so với quý IV năm 2008. Thực tế đã chứng minh, việc xuất khẩu sản phẩm thô hoàn toàn không ổn định và gặp quá nhiều trở ngại. Thứ nhất, trở ngại do cung – cầu sản phẩm thô không ổn định. Thứ hai, trở ngại do giá cả sản phẩm thô có xu hướng giảm so với hàng tinh chế. Thứ ba, trở ngại do thu nhập từ xuất khẩu sản phẩm thô biến động. Đó chính là lý do tại sao chúng ta thật sự đang phải đối mặt với một bài toán khó về vấn đề xuất khẩu dầu thô và làm thế nào để tăng giá trị của sản phẩm xuất khẩu. Doanh thu; ngân sách hay hoạt động thăm dò; khai thác dần thu hẹp và bị ảnh hưởng cạnh tranh mạnh từ các công ty dịch vụ dầu khí Trung Quốc và nước ngoài sẽ dẫn đến tình hình thị trường của các công ty trong lĩnh vực dịch vụ bị giảm; giá dịch vụ dầu khí giảm, kéo theo doanh thu giảm, khó khăn về việc làm, đời sống của người lao động tại các công ty trong khối dịch vụ của tập đoàn và của Việt Nam nói chung; tiến độ triển khai các dự án thăm dò và phát triển sẽ bị ảnh hưởng do các nhà thầu phải cân nhắc đến hiệu quả đầu tư và khả năng thu xếp vốn, hệ quả là sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu gia tăng trữ lượng và ảnh hưởng đến sản lượng khai thác của tập đoàn trong những năm tới; hay khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án của tập đoàn sẽ khó khăn hơn, do các ngân hàng, các tập đoàn lớn ở nước ngoài cũng gặp khó khăn về tài chính, chỉ là những vấn đề trong dài hạn. Cách giải quyết và chữa bệnh tốt nhất, trong dài hạn, là tìm ra hướng đi thực sự tốt cho ngành dầu khí Việt Nam, làm thế nào để giảm gánh nặng nhập khẩu, làm thế nào sản xuất được dầu tinh sử dụng trong nước và làm thế nào mang lại lợi nhuận cao nhất với chi phí thấp nhất. Có lẽ chúng ta còn nhớ, trong giai đoạn giá dầu giảm mạnh, PVN đã phải đưa ra cho chính mình ba kịch bản. Ba kịch bản mà tập đoàn này đưa ra là giá dầu có thể ở các mức: 50 USD/thùng, 40 USD/thùng và xấu nhất là chỉ còn 30 USD một thùng. Cụ thể: phương án một, nếu giá đầu xoay quanh ngưỡng 50 USD một thùng thì tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô năm 2009 của tập đoàn sẽ vào khoảng 4,4 tỷ USD, tức là Petro Vietnam chịu giảm thu so với năm 2008 (10,4 tỷ USD) khoảng 6,0 tỷ USD. So với dự toán ngân sách đã được duyệt (giá dầu ở ngưỡng 70 USD một thùng) thì kim ngạch xuất khẩu giảm khoảng 1,7 tỷ USD. Ứng với kịch bản này, tổng doanh thu của Petro Vietnam trong năm 2009 sẽ vào khoảng 212 nghìn tỷ đồng, giảm 68 nghìn tỷ đồng so với năm 2008 và giảm 34.000 - 49.000 tỷ đồng so với dự toán. Phương án hai là giá dầu ở ngưỡng 40 USD một thùng. Theo ước tính, nếu tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô năm 2009 vào khoảng 3,5 tỷ USD, giảm so với năm 2008 gần 7,0 tỷ USD và giảm khoảng 2,1 - 2,6 tỷ USD so với dự toán thì tổng doanh thu của tập đoàn năm 2009 vào chỉ đạt khoảng 199 nghìn tỷ đồng, giảm 80 nghìn tỷ đồng so với năm 2008 và giảm khoảng 47.000 - 64.000 tỷ đồng so với dự toán ngân sách ban đầu. Phương án ba là giá dầu giảm xuống mức 30 USD một thùng. Với phương án này, Petro Vietnam cho biết nếu khai thác dầu khí tại các mỏ nhỏ, cận biên thì tập đoàn sẽ gặp khó khăn trong việc bù đắp chi phí và khó có thể có lãi. Biến động giá dầu thô đã tác động tiêu cực tới nền kinh tế, kéo theo nhiều hệ lụy, và vấn đề an ninh năng lượng quốc gia được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Căn bệnh Hà Lan ở Việt Nam đã qua giai đoạn ủ bệnh và chuẩn bị phát bệnh. Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao kéo dài thời gian phát bệnh và chữa bệnh trước khi bệnh tới giai đoạn cuối. 2.Giải pháp Đầu tiên, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong Tại lễ ra mắt và triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2007 của PVN “Dầu khí Việt Nam không thể cứ tiếp tục xuất mãi dầu thô, Tập đoàn cần phát triển lĩnh vực chế biến và dịch vụ để có nhiều giá trị gia tăng cao”, là một hướng đi mà chúng ta đã làm nhưng vẫn chưa tốt. Thị trường tiêu thụ xăng, dầu trong nước với số dân hơn 80 triệu người đòi hỏi một nguồn cung rất lớn với đầy đủ các chủng loại xăng, dầu. Từ trước đến nay, hằng năm lượng dầu thô khai thác đều xuất khẩu trong khi nguồn xăng, dầu cho sản xuất và tiêu dùng hằng ngày hoàn toàn dựa vào nguồn nhập khẩu (mỗi dịp giá xăng, dầu thế giới biến động, gây khó khăn cho nhập khẩu và tiêu dùng). Trong điều kiện tiềm năng dầu thô của nước ta vào cỡ trung bình, tập đoàn đã hoạch định và triển khai kế hoạch xây dựng ba nhà máy lọc hóa dầu ở các khu vực bắc - trung - nam. Tổ hợp lọc hóa dầu Bình Sơn (Khu kinh tế Dung Quất - Quảng Ngãi) với nhà máy lọc dầu công suất 6,5 triệu tấn/năm đã được đưa vào vận hành cuối tháng 2-2009. Nhà máy lọc dầu đầu tiên của nước ta khi vận hành sẽ mở đầu cho sự hình thành nền công nghiệp lọc hóa dầu Việt Nam hoàn chỉnh. Sau Dung Quất, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sẽ triển khai đầu tư xây dựng hai tổ hợp lọc hóa dầu ở Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu). Hiện nay, Dự án liên doanh lọc hóa dầu Nghi Sơn, với công suất ban đầu 10 triệu tấn/năm (giai đoạn 1) đã bước vào giai đoạn san lấp mặt bằng và lập thiết kế tổng thể (FEED). Trong tương lai, trên cơ sở nhu cầu của thị trường, các bên tham gia sẽ xem xét khả năng mở rộng, nâng công suất lên 20 triệu tấn/năm bằng nguồn nguyên liệu dầu thô nhập khẩu 100% từ Cô-oét, với hợp đồng cung cấp dài hạn. Hiện nay, trên công trường, các đơn vị thi công của tập đoàn đang tập trung thi công để bàn giao mặt bằng cho các đối tác nước ngoài vào tháng 4-2010 và dự kiến đến năm 2013 sẽ đi vào vận hành. Bên cạnh đó, Dự án tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn cũng sử dụng 100% nguồn nguyên liệu dầu thô là nhập khẩu, với công suất khoảng 10 triệu tấn/năm (giai đoạn 1) và có khả năng mở rộng thêm ở giai đoạn 2 đang trong quá trình đàm phán với các đối tác liên doanh. Theo kế hoạch, sau khi lựa chọn xong đối tác, các bên sẽ ký hợp đồng liên doanh khởi công xây dựng và dự kiến có sản phẩm xăng, dầu trong năm 2013. Ngày 25-9 vừa qua, Tập đoàn Dầu khí đã khởi công Dự án tổ hợp hóa dầu Long Sơn tại Khu công nghiệp dầu khí Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), tổng vốn đầu tư của dự án gần 4 tỷ USD với công suất 3 triệu tấn sản phẩm hóa dầu/năm. Các bên tham gia dự án gồm Petrovietnam, Tổng công ty Hóa chất Việt Nam, Công ty hóa chất Vina thuộc Tập đoàn xi-măng Thái-lan, Công ty nhựa và hóa chất Thái-lan cùng hợp tác đầu tư. Theo kế hoạch, đến cuối năm 2012, tổ hợp này sẽ đi vào hoạt động, cung cấp sản phẩm hạt nhựa HDPE và LDPE duy nhất cho thị trường Việt Nam. Công trình này có ý nghĩa quan trọng với nền công nghiệp hóa chất Việt Nam, sử dụng có hiệu quả các sản phẩm đầu ra của nhà máy lọc dầu. Theo đề án phát triển công nghiệp lọc hóa dầu, với ba tổ hợp nhà máy đang xây dựng lần lượt đi vào vận hành giai đoạn 1, cùng với đầu tư mở rộng, nâng công suất giai đoạn 2 từ năm 2015 đến 2025, tổng công suất của các nhà máy sẽ đạt khoảng 50 - 55 triệu tấn sản phẩm/năm, đủ đáp ứng nhu cầu xăng, dầu cho tiêu dùng trong nước và một phần xuất khẩu. Ði cùng với các nhà máy lọc hóa dầu, tập đoàn cũng đang triển khai xây dựng các nhà máy sản xuất xơ sợi, nhựa tổng hợp... Ngoài ra, tập đoàn đang triển khai đầu tư ra nước ngoài thực hiện dự án xây dựng Nhà máy sản xuất phân DAP, phân u-rê, sản xuất a-mô-ni-ắc để cùng với các nhà máy đạm Phú Mỹ, Cà Mau nâng sản lượng phân bón sản xuất của ngành, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất nông nghiệp, tham gia bình ổn thị trường và góp phần tích cực vào chiến lược an ninh lương thực quốc gia. Thứ hai, Nhà nước nên có các chính sách để thu hút vốn và công nghệ đầu tư vào nước ta nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế trong nước, đặc biệt là ngành khai thác và chế biến dầu mỏ, phát triển. Nước ta là một nước có tiềm năng, có nguồn lực, vấn đề chỉ là làm sao phát huy được những nguồn lực ấy một cách tối đa. Qua những phân tích về thực trạng xuất khẩu dầu thô ở nước ta – một trong những đặc điểm nhận dạng căn bệnh Hà Lan, chưa đến mức thật sự nguy hiểm, hay nói cách khác, chưa đến mức tất cả chúng ta có thể nhìn rõ và hiểu một cách sâu sắc về nó. Tuy vậy, điều chúng ta cần ý thức đó là phải hành động từ bây giờ. Chiến lược phát triển hiệu quả chính là phương thức duy nhất cứu chúng ta. C. LỜI KẾT Việc sử dụng nguồn tiền trời cho đúng cách không bao giờ là dễ dàng.Vì vậy, đón nhận sự may mắn này có thật sự là may mắn hay thảm họa, hòan tòan phụ thuộc vào cách xử sự của mỗi quốc gia.Căn bệnh Hà Lan,xét cho cùng, không phải là “nan y”.Luôn có những liều thuốc khác nhau cho từng ca, từng trường hợp.Vấn đề còn lại là phải “chẩn đóan” được sớm nhất những biểu hiện ban đầu của căn bệnh và một quyết tâm chung của chính phủ và người dân để phòng ngừa và chữa trị. Chúng tôi đánh giá Việt Nam đang ở những giai đọan đầu của căn bệnh, tức đã có những biểu hiện tiêu cực nhưng ảnh hưởng chưa quá trầm trọng để bị sa lầy vào Căn bệnh Hà Lan.Nhưng nhân tố quyết định là chính phủ thì còn bàng quan với những hậu quả ban đầu này, bằng chứng là chưa có một đánh giá rõ ràng, chưa có một quyết tâm cụ thể nào để ứng phó với diễn biến của căn bệnh. Điều này có thể do hòan cảnh của chúng ta đang trong giai đọan phức tạp, chính phủ còn phải đang chống chọi, lèo lái nền kinh tế qua những sóng to gió lớn trước mắt như cuộc khủng hỏang tín dụng 2008.Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, một sự quan tâm thích đáng đến vấn đề nhức nhối này là không thừa để chủ động chuẩn bị sẵn những phương án kịp thời.Đừng để “mất bò mới lo làm chuồng”.Chúng ta sẽ là một Hà Lan thứ n hay một Indonesia thông minh biến căn bệnh thành thần dược, phụ thuộc vào hành động của chúng ta ngay từ bây giờ. D. DANH MỤC THAM KHẢO www.moi.gov.vn/ Báo cáo Kinh tế xã hội 2007- ĐH Kinh tế Quốc dân HN Kinh tế học của các nước đang phát triển – Awaney Nafziger

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận - Căn bệnh Hà Lan –Thực trạng ở Việt Nam và giải pháp.doc