So sánh viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản với ODA của một số đối tác khác tại Việt Nam

Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong nhóm nước đang phát triển, vì thế xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính phủ Nhật Bản đã có những đóng góp quan trọng trong chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Ngoài việc hỗ trợ cho các công trình hệ thống điện, thông tin liên lạc, nước sạch, trường học, vệ sinh môi trường cho các trường học, y tế ở nông thôn, thì thông qua việc tiếp cận các phương tiện kĩ thuật mới nhất nên trình độ của công nhân Việt Nam cũng đã được nâng cao. Bên cạnh đó, Nhật Bản còn giúp về kinh nghiệm đào tạo nhân lực, đặc biệt là cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo để đẩy nhanh tiến trình thực hiện các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Chính nhờ sự hỗ trợ đó mà đời sống dân cự nhiều vùng được cải thiện, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Tính đến đầu năm 2012 thì Nhật Bản vẫn là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam. Mục đích chung của các nước cung cấp viện trợ ODA cho nước ta là giúp Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó ODA của Nhật Bản nổi lên 4 điểm khác so với các nhà viện trợ khác. Chính sự khác nhau đó có thể thấy, ODA của Nhật Bản khá phù hợp với kinh tế-xã hội và dễ được chấp nhận ở Việt Nam hơn so với các nước viện trợ khác.

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 11/03/2022 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản với ODA của một số đối tác khác tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bùi Thị Kim Thu Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 94(06): 11 - 15 11 SO SÁNH VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) CỦA NHẬT BẢN VỚI ODA CỦA MỘT SỐ ĐỐI TÁC KHÁC TẠI VIỆT NAM Bùi Thị Kim Thu* Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi đói nghèo và chậm phát triển. Công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn thì không thể không kể đến vai trò của các nguồn viện trợ đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn này, các nhà viện trợ tiêu biểu là Nhật Bản, Mỹ, Canada, Anh, Pháp Trong đó, Nhật Bản được xem là nước viện trợ phát triển chính thức lớn nhất cho Việt Nam. Nhật Bản cũng như các nước viện trợ khác khi viện trợ ODA đều muốn giúp Việt Nam phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, bên cạnh sự giống nhau thì ODA của Nhật Bản cũng có sự khác biệt so với các nước khác về thứ bậc, các khoản cho vay, điều kiện cho vay và các ngành mà ODA đầu tư. Từ khóa: Viện trợ phát triển chính thức (ODA), Nhật Bản, Việt Nam, kinh tế, xã hội Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance (ODA)) là một hình thức đầu tư nước ngoài. Nó được gọi là viện trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, đôi khi còn gọi là hỗ trợ, gọi là phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư, gọi là chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay..* Theo định nghĩa của Nhật Bản, một loại viện trợ muốn là ODA phải đủ 3 yếu tố: (1) Do chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của chính phủ, (2) có mục đích góp phần tái thiết kinh tế hoặc nâng cao phúc lợi cho các nước nhận viện trợ, (3) tính ưu đãi phải trên 25% [5]. Hầu hết các nhà tài trợ song phương và đa phương cho Việt Nam đều chỉ bắt đầu hoặc khởi động lại những chương trình viện trợ của mình vào đầu thập kỷ 90 thế kỉ XX và đang trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Nhật Bản cũng không ngoại lệ, mặc dù cuối thập niên 80 thế kỉ XX Nhật Bản vẫn viện trợ nhân đạo cho Việt Nam với mục đích “giữ cầu”, nhưng phải đến tháng 11 năm 1992, Nhật Bản mới chính thức nối lại viện trợ chính thức cho Việt Nam. Có thể nói hình thức ODA là “chiếc chìa khoá” ngoại giao kinh tế để từ đó mà Nhật Bản có thể mở rộng hoạt động sang các lĩnh * Tel: 0976 198 586; Email: thubtk@tnu.edu.com vực kinh tế, thương mại và đầu tư phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ tại Việt Nam, thu được nhiều lợi nhuận lớn hơn nhiều lần so với số vốn ODA đã cho đó trong tương lai. Quyết định nối lại viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc khai thông mối quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính quốc tế chủ chốt khác cũng như việc khởi động trở lại quan hệ hợp tác kinh tế song phương giữa hai nước. Từ năm 1992 đến nay, trong các năm 1998, 1999 và 2009 khi kinh tế Nhật Bản gặp nhiều khó khăn thì Chính phủ Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam. Những điểm tương đồng Hiện nay, khoảng 50 nhà tài trợ quốc tế đa phương và song phương đang hoạt động ở Việt Nam, tuy mỗi đối tác có một đặc điểm riêng trong chính sách hỗ trợ Việt Nam tuỳ thuộc vào quan hệ nhiều mặt với Việt Nam và chính sách viện trợ phát triển quốc gia từng thời kì, nhưng tất cả đều có mục đích chung là hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển ưu tiên của Việt Nam trong kinh tế-xã hội và xoá đói giảm nghèo. Trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận trong công cuộc đổi mới, Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong việc đảm bảo đời sống cho nhân dân vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa. Do đó, Nhật Bản cũng như hầu hết các nhà tài trợ khác đã dành những ưu tiên trong chương trình viện trợ của mình vào việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bùi Thị Kim Thu Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 94(06): 11 - 15 12 hỗ trợ chính phủ Việt Nam tiến hành cải cách trong các lĩnh vực quản lí nhà nước, xây dựng các thể chế vững mạnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước, chú trọng hỗ trợ chuyển sang nền kinh tế thị trường; nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là ở những vùng nông thôn và miền núi, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao các dịch vụ y tế và giáo dục; hỗ trợ bảo vệ môi trường, đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường đô thị và môi trường công nghiệp. Đây cũng là ưu điểm của chính phủ Việt Nam trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển đất nước. Các nhà tài trợ khi triển khai các chương trình viện trợ phát triển của mình tại Việt Nam hầu hết đều triển khai qua hai kênh song phương (trực tiếp giữa hai chính phủ) và đa phương (thông qua các chương trình của các tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam). Qua kênh song phương, các nhà tài trợ đều mở rộng mối quan hệ đối tác của mình không chỉ với các quan chức Chính phủ ở các cấp Trung ương và địa phương mà còn với các tổ chức quần chúng xã hội, các cá nhân và các nhóm dân cư ở các cộng đồng. Qua đó, họ có thể hiểu biết hơn về nhu cầu của các đối tác nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình viện trợ. Với sự có mặt của nhiều nhà tài trợ song phương và đa phương hoạt động tại Việt Nam, việc tăng cường điều phối giữa các nhà tài trợ là một nhu cầu vô cùng cần thiết để nâng cao hiệu quả của viện trợ nước ngoài tại Việt Nam, để nó thực sự trở thành một động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội cho Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư giữ vai trò chính trong việc quản lí viện trợ phát triển chính thức và các thủ tục của nhà tài trợ, đặc biệt là Anh, Canada, Mỹ và Nhật Bản. Những điểm khác biệt Bên cạnh những điểm tương đồng trên, so với viện trợ của các quốc gia khác tại Việt Nam, ODA của Nhật Bản có một số điểm khác biệt. Trước hết về thứ bậc, Nhật Bản là nhà tài trợ ODA hàng đầu của Việt Nam, luôn giữ vững ở vị trí số 1. ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam luôn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số vốn cam kết ODA của các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam. Chẳng hạn, năm 2006 cam kết ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam là 3,7 tỷ USD thì riêng Nhật Bản là 835 triệu USD, chiếm khoảng 22%. Năm 2007, ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam là 890 triệu USD trong tổng số 4,4 tỷ USD chiếm khoảng 21%. Năm 2008 thì Nhật Bản vẫn chiếm 21% [5]. Với tư cách là một nhà tài trợ song phương, Mỹ được xem là quốc gia kém hào phóng nhất trong số các nước giàu cung cấp viện trợ cho Việt Nam. Viện trợ của Mỹ chỉ chiếm khoảng 0,1% GNP (Gross National Product - tức Tổng sản lượng quốc gia) so với 0,3% mức chung của các nước châu Âu. So với mối quan hệ chính trị và kinh tế thì viện trợ của Mỹ quá khiêm tốn, Mỹ chưa bao giờ đứng trong tốp 10 nhà tài trợ song phương lớn nhất của Việt Nam. Thứ hai, ODA của Nhật Bản đa phần là các khoản vay (chiếm khoảng 87,05%). Đây là điểm khác biệt lớn so với một số nhà tài trợ khác của Việt Nam, đặc biệt là Canada, bởi tất cả các viện trợ của Canada tại Việt Nam đều là viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kĩ thuật. Canada không cung cấp các khoản vay dưới bất kì hình thức nào cho Việt Nam. Viện trợ không hoàn lại cũng chiếm đa số trong ODA của Anh. Kể từ khi chính thức cung cấp ODA cho Việt Nam (1994) đến 2004, chính phủ Anh đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam hơn 200 triệu USD; trong đó, chỉ tính riêng từ 1999-2004 là 190 triệu USD. Năm tài khoá 2003-2004, ngân sách viện trợ dành cho Việt Nam đã tăng lên 26 triệu bảng Anh so với tài khóa năm trước với mức viện trợ khoảng 60 triệu bảng Anh [4]. Năm 2004, Bộ Phát triển quốc tế (DFID) cam kết viện trợ 59 triệu USD, sang tài khoá năm 2005-2006 đã tăng tới 60 triệu bảng Anh/năm; giai đoạn 2006-2010 bình quân 50 triệu bảng Anh/năm. Sau khi kí thoả thuận khung về quan hệ đối tác phát triển giữa hai giai đoạn 2006-2015, ngày 12/11/2007, Bộ Phát triển quốc tế của Anh đã thông báo việc chính phủ Anh viện trợ không hoàn lại 100 triệu bảng Anh giai đoạn 2007-2011[5] cho Chương trình tín dụng hỗ trợ xóa đói giảm nghèo với phương thức chuyển trực tiếp cho chính phủ Việt Nam không thông qua Ngân hàng thế giới để tiết kiệm chi phí quản lí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bùi Thị Kim Thu Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 94(06): 11 - 15 13 Tín dụng ưu đãi chiếm phần lớn trong ODA vì theo cách giải thích của người Nhật, họ có “triết lí” rằng vốn ODA là vốn hỗ trợ, giúp cho các nước đang phát triển, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo. Do đó, bên cạnh khoản cho vay không hoàn lại theo thông lệ, nước nhận viện trợ ODA phải tuân thủ nguyên tắc “có vay có trả”. Bởi lẽ, khi người đi vay có phải trả nợ thì mới chú ý thích đáng đến hiệu quả công trình, đến nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, bên cạnh việc cung cấp tín dụng ưu đãi, trong một số năm gần đây Nhật Bản cũng ưu tiên hơn trong việc tăng cường các khoản vay ODA không hoàn lại, đồng thời xem xét có các biện pháp nhằm giúp Việt Nam giảm gánh nặng nợ nần. Hơn nữa, hiệu quả viện trợ không phụ thuộc vào Nhật Bản mà phụ thuộc chủ yếu vào đường lối, chính sách và kỹ năng quản lí nhà nước tiếp nhận viện trợ. Trên thực tế, cho dù hiệu quả viện trợ của Nhật Bản đạt được ở mức độ nào thì Việt Nam cũng đã gia tăng đáng kể tích lũy trong nước để phục vụ cho đầu tư và phát triển những năm qua. Thứ ba, so với các nhà tài trợ khác, chính sách ODA của Nhật Bản cho Việt Nam có nhiều nét nổi trội: đó là hỗ trợ Việt Nam tự lực tự cường thông qua việc phát triển trên cơ sở hạ tầng; không kèm theo các điều kiện khắt khe, không gắn ODA với việc thực thi chính sách như Ngân hàng Thế giới (WB) và ngân hàng châu Á hoặc các vấn đề chính trị nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền như các nước châu Âu. Các tổ chức quốc tế như WB, Quỹ tiền tệ thế giới ưu tiên phát triển kinh tế trước rồi mới xoá đói giảm nghèo. Các ưu tiên trong chương trình viện trợ của Mỹ cũng không tập trung vào lĩnh vực xoá đói giảm nghèo mà dành chủ yếu cho việc hỗ trợ việc thực hiện Hiệp định Thương mại Mỹ-Việt. Khác với các nhà tài trợ nói trên, Nhật Bản coi việc xoá đói giảm nghèo cũng cần thiết như tăng trưởng kinh tế và cho rằng cải thiện môi trường sinh hoạt và xã hội là để hình thành nên những điều kiện căn bản cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Với nhận thức như vậy, bên cạnh việc hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng, chính phủ Nhật Bản coi trọng việc hỗ trợ cho các hoạt động xoá đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, phát triển các địa phương, phát triển đô thị và môi trường. Các lĩnh vực ưu tiên trong chính sách ODA của chính phủ Nhật Bản rất phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam và đáp ứng được các nhu cầu bức xúc Việt Nam xem xét về nhu cầu sử dụng vốn cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Việt Nam cũng như các nước tiếp nhận viện trợ của Nhật Bản khác cảm nhận thấy viện trợ của Nhật Bản thực sự phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu của Việt Nam trong việc tập trung khôi phục và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - tiền đề và điều kiện thiết yếu cho phát triển kinh tế-xã hội, và cho việc mở rộng, nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân [2]. Các dự án mà Nhật Bản triển khai tại Việt Nam chủ yếu là các dự án “phần cứng” tức là việc xây các cơ sở hạ tầng. Trong khi các dự án của Canada lại các dự án “phần mềm”, tập trung vào việc xây dựng, quản lí và thực hiện chính sách, nâng cao năng lực của đối tác thông qua đào tạo, tập huấn nghiên cứu thực địa. ODA của Anh tập trung vào việc đạt được ba mục tiêu nhằm hỗ trợ việc thực hiện chiến lược phát triển và giảm nghèo toàn diện của Việt Nam là: - Thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài chính công - Hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ trong quá trình phát triển và đảm bảo tính trách nhiệm đối với công dân của các cơ quan nhà nước - Hỗ trợ quá trình chuyển đổi về kinh tế và xã hội của Việt Nam [3, tr.5] Còn ODA của Mỹ thì tập trung chủ yếu và lĩnh vực cải cách kinh tế, hỗ trợ nhân đạo, phòng chống HIV/AIDS. Bình quân trong năm 2002-2003, 32% viện trợ của Mỹ dành cho việc hỗ trợ kinh tế phát triển, hỗ trợ nhân đạo cũng chiếm 32%, y tế chiếm 29% và môi trường chiếm 9% phần còn lại [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bùi Thị Kim Thu Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 94(06): 11 - 15 14 ODA của Nhật Bản xét chung trong tất cả các tiêu chí và khía cạnh là tương đối thuận lợi và hữu ích, phù hợp với nhu cầu sử dụng của Việt Nam, nói chung tương đối “dễ” hơn so với các nước khác. Nó không có các điều kiện ràng buộc quá khắt khe và lộ liễu. Có thể nói ODA của Nhật Bản nếu so sánh với viện trợ của các nhà tài trợ khác thì có rất ít các điều kiện đi kèm. Về nguyên tắc, chính phủ Nhật Bản tuyên bố viện trợ được cung cấp cho các nước tiếp nhận là những điều khoản viện trợ không điều kiện, ngoại trừ một số chương trình viện trợ có tính chất đặc biệt và không thường xuyên, mang tính bổ sung thì có điều kiện kèm theo về hạn chế trong đấu thầu. Xét về tổng thể thì Nhật Bản đã không đặt ra các điều kiện mang tính chất áp đặt gắn với chính trị. Trong khi đó, viện trợ của các nhà tài trợ khác, cho dù là các nước cung cấp viện trợ ở quy mô lớn hay nhỏ, cung cấp viện trợ trong các lĩnh vực ưu tiên nào đều ít hay nhiều áp đặt các điều kiện ràng buộc gắn với những lợi ích kinh tế và thương mại. Tuy nhiên, chính sách ODA của Nhật Bản cũng dựa trên những nguyên tắc nhất định và yêu cầu Việt Nam phải chấp nhận. Chẳng hạn, nguyên tắc không sử dụng sai mục đích viện trợ, hoặc không viện trợ cho các chương trình quân sự hoặc yêu cầu phải sử dụng viện trợ có hiệu quả nhất, chống tham nhũng [1, tr.307]. Việt Nam, cũng như các nước tiếp nhận viện trợ cũng đều phải tính đến những điều kiện “ẩn” phải tuân theo. Bởi viện trợ của Nhật Bản tuy không đòi hỏi có cam kết về chính sách, song trên thực tế nó gắn kết rất chặt với các mục tiêu kinh tế và chính trị của Nhật Bản, đặc biệt là hỗ trợ cho đầu tư và thương mại. So với các nhà tài trợ khác, viện trợ của Nhật Bản bị thắt chặt rất lớn, đặc biệt là các khoản cho vay, thường phải được sử dụng để các nhà thầu Nhật Bản triển khai. Hơn nữa, quá trình tiếp nhận và sử dụng vốn vay của Nhật còn khá rườm rà, phức tạp hơn so với các nhà đầu tư khác. Thứ tư, nếu như tài trợ của Anh không thực hiện riêng biệt, mà lồng ghép đồng tài trợ cho các chương trình quốc gia của Việt Nam cùng với các nhà tài trợ khác; còn Mỹ không tham gia tích cực vào các hoạt động phối hơp chung cùng với các nhà tài trợ khác trong khuôn khổ do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc hoặc WB [6] thì viện trợ của Nhật Bản tại Việt Nam với các dự án có quy mô khác nhau được triển khai tương đối đa dạng, ở nhiều cấp khác nhau từ Trung ương đến địa phương. Do đó, có rất nhiều đối tác tham gia vào việc thực hiện viện trợ của Nhật Bản, đặc biệt là sự tham gia của nhiều đối tác từ Nhật Bản. Điều này, một mặt giúp cho việc triển khai viện trợ thể hiện đúng các nhu cầu và khả năng của các bên liên quan, mặt khác là một cơ hội tốt để xây dựng và phát triển các mối quan hệ đối tác giữa các cá nhân và tổ chức của hai nước. Kết luận Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong nhóm nước đang phát triển, vì thế xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính phủ Nhật Bản đã có những đóng góp quan trọng trong chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Ngoài việc hỗ trợ cho các công trình hệ thống điện, thông tin liên lạc, nước sạch, trường học, vệ sinh môi trường cho các trường học, y tế ở nông thôn, thì thông qua việc tiếp cận các phương tiện kĩ thuật mới nhất nên trình độ của công nhân Việt Nam cũng đã được nâng cao. Bên cạnh đó, Nhật Bản còn giúp về kinh nghiệm đào tạo nhân lực, đặc biệt là cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo để đẩy nhanh tiến trình thực hiện các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo. Chính nhờ sự hỗ trợ đó mà đời sống dân cự nhiều vùng được cải thiện, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Tính đến đầu năm 2012 thì Nhật Bản vẫn là nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam. Mục đích chung của các nước cung cấp viện trợ ODA cho nước ta là giúp Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó ODA của Nhật Bản nổi lên 4 điểm khác so với các nhà viện trợ khác. Chính sự khác nhau đó có thể thấy, ODA của Nhật Bản khá phù hợp với kinh tế-xã hội và dễ được chấp nhận ở Việt Nam hơn so với các nước viện trợ khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Bùi Thị Kim Thu Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 94(06): 11 - 15 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Ngô Xuân Bình (1999), Quan hệ Nhật Bản- ASEAN, chính sách và tài trợ ODA, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. [2]. Judith Randel & Tony German (2000), Thực trạng của viện trợ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. [3]. Depratment for International Development (2004), What are we doing to help Vietnam achieve their development goals? [4]. http:// ODA.mpi.gov/ODAvn/Đối tác nước ngoài/các nhà tài trợ song phương. [5]. Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam: [6]. haid briefing 2003. SUMMARY COMPARISON OF JAPAN’S OFFICIAL DEVELOPMENT ASSISTANCE (ODA) WITH OTHER PARTNERS’ ODA TO VIETNAM Bui Thi Kim Thu* College of Sciences – TNU Since 1986, Vietnam has conducted reforms to take the country out of poverty and slow development. The great achievements the country has gained are partially contributed by investment from foreign countries such as Japan, America, Canada, England and France. Among these donor countries, Japan is considered the biggest official development assistant to Vietnam. Both Japan and other donors are providing ODA to Vietnam to help economic development and poverty reduction. However, apart from the similarity, Japanese ODA has some differences from other contries’ ODA in terms of the hierarchy, loans, loan conditions and investment sectors. Key words: Official development assistance (ODA), Japan, Vietnam, economic, social. Ngày nhận: 09/04/2012; Ngày phản biện:15/04/2012; Ngày duyệt đăng:12/06/2012 * Tel: 0976 198 586; Email: thubtk@tnu.edu.com Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfso_sanh_vien_tro_phat_trien_chinh_thuc_oda_cua_nhat_ban_voi.pdf
Tài liệu liên quan