Nghi thức lời nói trong hoạt động giao tiếp và rèn luyện nghi thức lời nói cho học sinh Tiểu học

Không phải ngẫu nhiên từ xa xưa cha ông ta đã quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ngày nay, con người hiện đại cần có nhiều phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại như tự tin, có cá tính, năng động, sáng tạo Nhưng không phải vì thế mà ta xem nhẹ việc giáo dục nhân cách cho học sinh. Thái độ lễ phép, giao tiếp, ứng xử bằng lời nói lễ phép là những yêu cầu không thể thiếu đối với nhân cách của đứa trẻ. Sự lễ phép trong giao tiếp là thể hiện đạo đức, quan điểm của trẻ với con người, với cuộc sống. Sự lễ phép được hình thành từ nhiều con đường khác nhau. Một trong những con đường ấy là ngôn ngữ. Vì “ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Các Mác). Ngôn ngữ cũng góp phần hình thành, củng cố những nhận thức, quan điểm của con người. Hơn nữa, theo lý thuyết hành động thì nhận thức của con người được hình thành qua hành động, nó tác động tới tình cảm, nhận thức của con người. Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp. Việc sử dụng đúng NTLN, kèm theo là phép lịch sự trong từng tình huống phải trở thành bài học vỡ lòng của mọi người.

pdf7 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 22/03/2022 | Lượt xem: 327 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghi thức lời nói trong hoạt động giao tiếp và rèn luyện nghi thức lời nói cho học sinh Tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 NGHI THỨC LỜI NÓI TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀ RÈN LUYỆN NGHI THỨC LỜI NÓI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Đặng Thị Lệ Tâm* Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Nghi thức lời nói (NTLN) là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói. NTLN là dùng tiếng nói để phục vụ cho nghi thức ứng xử. Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp để phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội. Dạy học NTLN là một nội dung mới của chương trình Tiếng Việt tiểu học. Các NTLN trong chương trình sẽ giúp học sinh biết cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống của cuộc sống, giúp các em phát triển được tất cả các dạng lời nói mà cuộc sống đang đòi hỏi ở các em, hướng các em trở thành những con người năng động, sáng tạo, hoàn thiện trong xã hội mới. Từ khoá: nghi thức lời nói, hoạt động giao tiếp, tiếng Việt, tiểu học, tình huống... NTLN TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP  Nói tới giao tiếp của xã hội loài người là nói tới giao tiếp bằng ngôn ngữ vì chỉ con người mới có ngôn ngữ. Ngôn ngữ ra đời đã gắn kết con người lại với nhau chặt chẽ hơn, và xã hội loài người thì được “xã hội hoá” mạnh mẽ hơn bởi tính quy ước chặt chẽ của nó. Xã hội càng phát triển, tính quy ước của ngôn ngữ càng cao, với những nghi thức ngày càng tinh tế và phức tạp. Ngôn ngữ học hiện đại đã ngày càng chú ý hơn tới ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố văn hoá, xã hội hay phong tục tập quán của cộng đồng sử dụng nó. Ở nước ta, NTLN là một thuật ngữ mới xuất hiện trong thời gian gần đây, khi ngôn ngữ học chuyển dần sang hướng nghiên cứu lời nói. NTLN là dùng tiếng nói để phục vụ cho nghi thức ứng xử. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về NTLN: Trong cuốn “Nghi thức lời nói Nga”, Akisina A.A và N.I.Formanovskaija đã nêu lên một định nghĩa khá đầy đủ về NTLN. NTLN là “Những quy tắc ứng xử lời nói đặc trưng của từng dân tộc được dùng trong các tình huống có những người đối thoại đang tiếp xúc và giao tiếp với giọng điệu được lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, với các dấu hiệu xã hội của những người đối thoại và các mối  Tel: 0912454828; Email: letamsptn79@gmail.com quan hệ giữa họ với nhau, và được biến thành các động hình giao tiếp”. Từ điển tiếng Việt của Viện Nghiên cứu ngôn ngữ học 2005 có định nghĩa: “NTLN là những điều quy định theo quy ước xã hội hoặc thói quen cần phải làm đúng để đảm bảo tính nghiêm túc của sự giao tiếp”. Như vậy, NTLN là hệ thống những công thức tương đối vững bền mang tính đặc thù của dân tộc được thừa nhận nhằm thiết lập mối quan hệ giữa các thành viên tham gia giao tiếp trong một tổng thể ước lệ. Xã hội đặt ra những hình thức nghi lễ ứng xử (trong đó có cả những ứng xử lời nói) mỗi khi thiết lập và duy trì sự tiếp xúc với người đối thoại và đòi hỏi những người bản ngữ phải tuân thủ các quy tắc ấy. Ngay lúc còn nhỏ, người ta đã được dạy cách dùng các nghi thức, các thể thức chào hỏi, cảm ơn, xin lỗivà có những phản ứng với sự không tuân thủ quy tắc ấy. Các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và các thao tác của nó chịu sự kiểm tra ngặt nghèo cũng như chịu ảnh hưởng từ các nguyên tắc thẩm mỹ và các quy ước xã hội. Để giao tiếp được với nhau, con người phải tuân theo những nghi thức nhất định theo quy ước của xã hội, chẳng hạn như trước khi vào câu chuyện thì phải có chào hỏi, khi nhận ân huệ từ người khác thì phải cám ơn, khi mắc lỗi thì phải xin lỗi... NTLN chính là nơi bộc lộ rõ rệt nhất tính riêng biệt của văn hoá, tâm lý dân Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 tộc, bởi tính quy ước chặt chẽ, nghiêm ngặt của nó. NTLN có thể hiểu là những hành vi dùng tiếng nói để phục vụ nghi thức ứng xử. NTLN với tư cách hành vi giao tiếp xã hội,“thực hiện các hành vi nói năng dưới các hình thức đối thoại, độc thoại với những tham số về ngôn ngữ học, tâm lý. Quan hệ xã hội, tôn ti về chức nghiệp và tuổi tác của các thành viên tham gia bối cảnh, ngữ cảnh cụ thể” [9,50]. Nó cũng được coi là “những quy định bắt buộc về hành vi nói năng” [11,143]; là “những quy ước xã hội về lễ nghi trong lời ăn tiếng nói” [6,7]. Hơn ở đâu hết, trong NTLN, “tính xã hội” của ngôn ngữ vô cùng đậm nét, bởi người giao tiếp không hành động cho riêng mình, mà cho quan hệ của họ với người xung quanh. Có thể nhìn thấy ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đối với việc sản sinh ra NTLN qua sơ đồ quy trình giao tiếp sau: NTLN gắn chặt với lý thuyết hành vi ngôn ngữ, còn gọi là lý thuyết hoạt động lời nói, mà người mở đầu là J.L.Austin và sau đó là J.Searle. Theo Austin khi thực hiện một hành động ngôn ngữ, người ta thực hiện 3 hành vi đồng thời: 1. Hành vi tạo lời (acte locutoire) 2. Hành vi mượn lời (acte perlocutoire) 3. Hành vi ở lời (acte illocutoire) Theo chúng tôi, cái đáng chú ý xét trên bình diện dụng học là hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Bởi lẽ trong hai loại hình này đều nhất thiết phải có hoạt động tạo lời, là cái ngoại biên cho nội dung ở lời và mượn lời. Các nội dung này nhiều khi tác động trở lại quy định cho kiểu kết hợp ngữ âm, cú pháp của phát ngôn. Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, các kiểu kết hợp từ thành câuđể tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Một bộ phận của hành vi tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tiền dụng học. Hành vi mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó của người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Ví dụ về hành vi ở lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo, cảm ơn, xin lỗi Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích- intentionnel), có quy ước (conventionnel) và có thể chế (institutionnel) dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Chính ở chỗ này, chúng ta càng dễ dàng phân biệt được những hành vi nào đã trở thành NTLN, còn hành vi nào vẫn còn nằm ở dạng nguyên, mà mỗi cá nhân có thể thực hiện theo cách riêng của mình. Hay nói cách khác, NTLN nằm ở khu vực ở lời. Khi các hành vi ở lời này được lặp đi lặp lại ở nhiều người đến mức trở thành tập quán ngôn từ theo một quy ước sử dụng chung của một cộng đồng ngôn ngữ thì các hành vi đó trở thành NTLN. Những NTLN này phục vụ cho việc thiết lập, duy trì và phát triển đối thoại. Xa hơn nữa, nó làm cho mối quan hệ giữa người với người mang tính người hơn, phù hợp với xã hội văn minh, thể hiện những nét tế nhị trong tâm lý của con người hiện đại. RÈN LUYỆN NGHI THỨC LỜI NÓI CHO HỌC SINH TIỂU HỌC NTLN chủ yếu tồn tại trong khẩu ngữ tự nhiên, khẩu ngữ sinh hoạt thường ngày. Tuy nhiên, phong cách khẩu ngữ tự nhiên của chúng ta cũng cần phải phát triển theo hướng văn hoá, nghĩa là việc sử dụng nó và bản thân nó phải gắn với những hành vi văn minh xã hội, phải loại bỏ những kiểu nói năng thô tục, Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 kém văn hoá. Ngôn ngữ là một mặt của văn hoá, là nơi tàng trữ văn hoá và biểu hiện văn hoá của cá nhân, gia đình và của toàn xã hội. Ngôn ngữ và văn hoá không thể tách rời nhau. Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp. Ý thức về nhiệm vụ không ngừng trau dồi NTLN văn minh, hiện đại, hợp với bản sắc dân tộc là góp phần trực tiếp đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, là một phẩm chất không thể thiếu được đối với con người mới ở thời đại của chúng ta. Đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Tiếng Việt ta giàu và đẹp. Nó sẽ giàu và đẹp hơn nữa nếu chúng ta biết giữ nó, dùng nó và phát triển nóGiữ gìn nó và phát triển nó như thế nào? Đây là vấn đề cần suy nghĩ”. [4, 93] Thực vậy, công việc này không đơn thuần là nhiệm vụ của ngành ngôn ngữ học mà là công việc của toàn dân. Làm tốt việc kế thừa và cách tân NTLN của dân tộc phải đặt trên phạm vi toàn xã hội, nhưng quan trọng và nòng cốt nhất là nhà trường phổ thông, đặc biệt là nhà trường tiểu học - nơi đặt những “viên gạch” nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông và quan trọng hơn là sự hình thành và phát triển nhân cách con người sau này. “Thế hệ trẻ phải nói và viết tốt hơn chúng ta” và nhiệm vụ của nhà trường là “phải làm sao cho học sinh dần dần có ý thức, có trình độ rồi đi đến có thói quen viết và nói đúng tiếng Việt” [4, 93]. Muốn thực hiện được lời dạy đó, trường tiểu học cần phải có cách thức tổ chức, phương pháp dạy học hợp lý và tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Việt, giúp học sinh sử dụng thành thạo tiếng Việt. Dạy học NTLN là một nội dung mới của chương trình tiếng Việt tiểu học. Lần đầu tiên, chương trình môn Tiếng Việt năm 2001 và năm 2006 đưa NTLN thành một nội dung học tập. Các NTLN trong chương trình hầu hết là các nghi thức được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày, gần gũi, phù hợp với nhu cầu nói năng của học sinh. Việc đưa thêm nội dung dạy học này vào sẽ giúp học sinh biết cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống của cuộc sống và giúp các em phát triển được tất cả các dạng lời nói mà cuộc sống đang đòi hỏi ở các em, hướng các em trở thành những con người năng động, sáng tạo, hoàn thiện trong xã hội mới. Qua khảo sát, chúng tôi thấy không nhiều tài liệu nghiên cứu về việc rèn luyện NTLN cho học sinh tiểu học. Phan Phương Dung trong bài viết “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt” [2] đã bàn về một số mẫu bài tập dạy lời nói văn hoá cho học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở. Cũng tác giả này, trong bài viết “Các phương tiện từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và khả năng ứng dụng trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học”[3] đã đề cập một cách cụ thể các phương tiện từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp và việc ứng dụng từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học. Nguyễn Thị Thu Hương trong “Dạy học NTLN cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn”[5] mới chỉ đề cập đến nội dung và phương pháp dạy học NTLN cho học sinh lớp 2 và trong một phân môn Tập làm văn; Nguyễn Trí với “Một số vấn đề về dạy hội thoại cho học sinh tiểu học” [10] đã giới thiệu các kiểu bài tập dạy học NTLN trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, Trần Thị Hiền Lương trong công trình “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt”[7] đã xác định được các biện pháp dạy học rèn kĩ năng nói cho học sinh xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học Có thể nói, nghiên cứu về NTLN nói chung và NTLN cho học sinh tiểu học nói riêng đã và đang được các nhà giáo dục trên thế giới và trong nước quan tâm ở những bình diện khác nhau: tầm quan trọng của việc dạy học NTLN, các tiêu chí xây dựng NTLN và cách tiếp cận, phân loại và miêu tả NTLN tiếng Việt, một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học NTLNTuy nhiên, để giải quyết toàn diện vấn đề dạy học NTLN cho học sinh ở bậc tiểu học nhằm thực hiện tốt yêu cầu nguyên tắc giao tiếp trong dạy học tiếng Việt gắn với chương trình và sách giáo khoa mới hiện nay thì vẫn chưa có công trình hay một chuyên luận nào có tính hệ thống. Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 Khả năng ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp của mỗi người phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết xã hội. Với đối tượng học sinh, việc học tập, tích luỹ vốn sống, vốn hiểu biết về văn hoá giao tiếp và cách thể hiện các thái độ ứng xử đó bằng phương tiện ngôn ngữ tương ứng chủ yếu diễn ra ở môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, giáo dục nhà trường, mà cơ bản là môn Tiếng Việt giữ một vai trò đáng kể. Ở trường Tiểu học, qua các giờ tập đọc, giờ kể chuyện, học sinh được tiếp xúc với nhiều mẫu lời nói thể hiện sự ứng xử mang màu sắc văn hoá của cộng đồng người Việt. Với những mẫu lời nói này, nếu người dạy chú ý khai thác sẽ có tác dụng rất lớn đến việc dạy sử dụng NTLN trong giao tiếp cho học sinh. Cách ứng xử giao tiếp có văn hoá học sinh được tiếp xúc hàng ngày qua các mẫu lời nói trong các bài tập đọc, kể chuyện cứ thấm vào đứa trẻ một cách tự nhiên và khi cần, các em sẽ học tập theo mẫu. Để học sinh có năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để học tập và giao tiếp, cùng với nội dung dạy các kiến thức về tiếng Việt, cần chú ý hơn nữa đến việc hướng dẫn cho học sinh những “quy tắc xã hội”, những chuẩn mực của xã hội khi sử dụng ngôn ngữ. Khi đến trường, học sinh lần đầu biết đến “chuẩn ngôn ngữ” không phải ở dạng thuật ngữ mà các em cần có ý thức rằng không phải ai muốn nói thế nào cũng được mà phải phân biệt cái gì là“có thể”, cái gì là “không thể” khi sử dụng ngôn ngữ. Các em cần ý thức được rằng mọi người trong xã hội đã thoả thuận, quy ước nói thế này thì được (hợp chuẩn) mà nói thế khác thì không được (không hợp chuẩn) dẫu cho điều đó là hợp logic. Ví dụ có thể nói áo cộc tay mà không thể nói áo cộc cổ, có thể nói què chân mà không thể nói què mắt, có thể nói mặc áo mà không thể nói mặc tất (dẫn theo [8,39] )Đồng thời với ý thức về chuẩn mực ngôn ngữ, học sinh cần phải được giáo dục về “chuẩn văn hoá” của lời nói. Các em không những cần biết cái gì là có thể, không thể khi nói năng mà cần hiểu rằng có những lời hay ý đẹp và có những lời nói không hay, không đẹp. Các em cần có ý thức về những điều “nên” và “không nên”, “tốt” và “không tốt” trên bình diện sử dụng ngôn ngữ. Đồng thời, khi đến trường, các em cũng bắt đầu tham gia vào một môi trường giao tiếp mới có tính chất xã hội - giao tiếp trong lớp học - với những đòi hỏi riêng khác với môi trường giao tiếp của gia đình mà các em đã quen thuộc. Sản phẩm lời nói của các em được hình thành trong quá trình giao tiếp. Các em đã học được những câu nói đúng dựa vào việc ghi nhớ một cách có ý thức những lời nói diễn ra xung quanh của ông bà, bố mẹ, anh chịCác em nắm quy tắc ấy một cách cụ thể, trực giác bằng những lời nói cụ thể trong những tình huống riêng biệt. Cách học như vậy thường chỉ là học gì biết đấy, nhớ gì nói đấy, cách diễn đạt, nói năng phần lớn là cứng nhắc, dập khuôn, không linh hoạt, sinh động. Các em chỉ có khả năng nói lại được lời người khác mà không thể sáng tạo ra cách nói mới, cách nói khác của riêng mình. Ở đây, việc nắm các NTLN chỉ là việc nắm cách nói đúng một số câu cụ thể, lời nói cụ thể gắn liền với những tình huống giao tiếp nhất định. Thoát khỏi tình huống giao tiếp, dường như các em khó có thể tạo ra lời nói đúng, hay. Với cách học ấy, việc hình thành kỹ năng tạo lời nói đúng NTLN thường mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả lại thấp. Dạy học NTLN cho học sinh tiểu học không phải là dạy “kỹ thuật” ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp mà là dạy “kỹ thuật” giao tiếp bằng ngôn ngữ. Vì vậy, để thúc đẩy việc hình thành kỹ năng kỹ xảo trong giao tiếp nói chung và sử dụng NTLN nói riêng ở các em một cách mau chóng, thuận lợi và lâu bền phải giúp học sinh thông hiểu các quy tắc ngôn ngữ bằng việc cho các em tiếp cận với các tình huống và xử lý các tình huống đó. Kết quả của việc tham gia xử lý tình huống sẽ được phản ánh vào quá trình tư duy của các em. Nhờ có cảm giác, tri giác, các tình huống của thực tế khách quan sẽ được lưu giữ trong trí nhớ của các em và sẽ giúp các em dần dần hình thành những khái niệm mới, từ ngữ mới có tính chất chuẩn mực, văn hoá. Chính vì Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 thế, ở các lớp tiểu học, việc hướng dẫn cho học sinh quan sát, xử lý, tích luỹ những sự vật, sự việc của các tình huống giao tiếp là một việc làm quan trọng.Để củng cố những biểu tượng có được ở các em thật đậm nét, giáo viên cần chú ý lặp đi lặp lại các tình huống giao tiếp (thật và giả định) để thông qua việc lặp đi lặp lại ấy, các NTLN được lưu giữ một cách tự nhiên và bền vững. Bởi lẽ đó, chương trình Tiếng Việt đã đưa ra rất nhiều bài tập phát triển lời nói trong đó có các bài tập luyện NTLN cho học sinh với nhiều hình thức khác nhau, rất gần gũi với đời sống của học sinh.Những bài tập này đều có nội dung rất cần thiết và rất thông dụng, hay gặp trong cuộc sống hàng ngày của các em. Chúng sẽ là những gợi ý để định hướng nguồn ngữ liệu cho học sinh trong quá trình giao tiếp. Ví dụ 1: Tập nói lời chào. - Của bé với mẹ trước khi bé vào lớp, - Của bé với cô trước khi bé ra về. (Tiếng Việt 1, tập 2, tr 74) Ví dụ 2: Nói lời cảm ơn của em trong những trường hợp sau: a. Bạn cùng lớp cho em đi chung áo mưa. b. Cô giáo cho em mượn quyển sách. c. Em bé nhặt hộ em chiếc bút rơi. (Tiếng Việt 2, tập 1, tr 38) Ví dụ 3 : Tự giới thiệu về em với mẹ của bạn em, khi em đến nhà bạn em lần đầu. Tự giới thiệu về em với bác hàng xóm, khi bố bảo em sang mượn bác cái kìm. Tự giới thiệu về em với cô Hiệu trưởng, khi em đến phòng cô mượn lọ hoa cho lớp (Tiếng Việt 2, tập 1, tr 147) Sự phong phú về nguồn ngữ liệu trong các bài tập này không chỉ giúp học sinh thông thạo các kĩ năng mà còn giúp các em có thể bắt đầu bước vào cuộc sống. Ví dụ, dạy học sinh lớp 1, lớp 2 biết giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, trường học, bạn bè, thầy cô giáo theo mục đích nhất định chính là dạy học sinh nói về các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau thể hiện văn hoá ứng xử của người Việt. Giới thiệu bản thân với những bạn bè cùng lứa tuổi khi mới gặp nhau lần đầu sẽ khác với việc giới thiệu bản thân với khách của bố mẹ. Sự khác nhau này không chỉ ở lời xưng hô, ở ngữ điệu nói mà ở trong thông tin, ở ngôn ngữ sử dụng, ở phong cách lời nói và còn thể hiện qua thái độ. Không phải ngẫu nhiên từ xa xưa cha ông ta đã quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ngày nay, con người hiện đại cần có nhiều phẩm chất để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại như tự tin, có cá tính, năng động, sáng tạoNhưng không phải vì thế mà ta xem nhẹ việc giáo dục nhân cách cho học sinh. Thái độ lễ phép, giao tiếp, ứng xử bằng lời nói lễ phép là những yêu cầu không thể thiếu đối với nhân cách của đứa trẻ. Sự lễ phép trong giao tiếp là thể hiện đạo đức, quan điểm của trẻ với con người, với cuộc sống. Sự lễ phép được hình thành từ nhiều con đường khác nhau. Một trong những con đường ấy là ngôn ngữ. Vì “ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Các Mác). Ngôn ngữ cũng góp phần hình thành, củng cố những nhận thức, quan điểm của con người. Hơn nữa, theo lý thuyết hành động thì nhận thức của con người được hình thành qua hành động, nó tác động tới tình cảm, nhận thức của con người. Do đó, cần phải nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt NTLN trong khẩu ngữ, trong giao tiếp. Việc sử dụng đúng NTLN, kèm theo là phép lịch sự trong từng tình huống phải trở thành bài học vỡ lòng của mọi người. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Đỗ Hữu Châu (2003) Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Nxb Giáo dục,Hà Nội. [2]. Phan Phương Dung(2001) “Về vấn đề dạy lời nói văn hoá trong giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh qua môn Tiếng Việt”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục [3]. Phan Phương Dung(2002) “Các phương tịên từ ngữ biểu đạt tính lễ phép trong giao tiếp Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 và khả năng ứng dụng trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học”,Tạp chí Ngôn ngữ, số 16. [4]. Phạm Văn Đồng, “Giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt”, Tạp chí Văn học, số 3, 1966. [5]. Nguyễn Thị Thu Hương, Dạy học nghi thức lời nói cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập làm văn, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành GDH, ĐHSPHN,2005. [6]. Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ- Tính quy luật của cơ chế ngôn ngữ, Nxb Khoa học Xã hội,Hà Nội. [7]. Trần Thị Hiền Lương (2009), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học ở môn Tiếng Việt, Đề tài NCKH - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. [1]. Lê Phương Nga (2009)(chủ biên), Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. [2]. Hoàng Trọng Phiến (1981) Đặc trưng ngôn ngữ nói tiếng Việt, Tập san ĐHNN Tokyo, Tokyo. [3]. Nguyễn Trí (2007), Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học, NXB Giáo dục. [4]. Nguyễn Như Ý (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. SUMMARY IN RITUAL SPEECH COMMUNICATION AND SPEECH TRAINING PROTOCOLS FOR PRIMARY STUDENTS Dang Thi Le Tam  College of Education - Thainguyen University Ritual speech is a term that appears in recent times, when language learning turns a speech research. Ceremonial speech voice is used for ritual behavior. Thus it needs to be aware of the importance of the use of ritual in the word of words, in communication to serve the establishment, maintenance and development of social relationships.Teaching the rituals of speech is a new part in teaching Vietnamese at primary school. The implementation of this program will help pupils to communicate and be have well in their real life and develop all the forms of their speech that they need, orienting them to become active, creative, and perfect in their new socity. Key words: ritual speech, communication, Vietnamese, primary, situation Đặng Thị Lệ Tâm Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 73(11): 3 - 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghi_thuc_loi_noi_trong_hoat_dong_giao_tiep_va_ren_luyen_ngh.pdf