Một số ý kiến về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới góc độ hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Để có thể phát triển nền kinh tế Việt Nam nhanh và bền vững đáp ứng được yêu cầu của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển toàn diện. Tuy nhiên, trước mắt cần tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng, tạo đà cho nền kinh tế để có thể cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế. Thực hiện một số giải pháp cơ bản ở trên sẽ là tiền đề cho nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 12/03/2022 | Lượt xem: 73 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số ý kiến về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới góc độ hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đỗ Đức Bình và ĐTG Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 79(03): 45 - 49 45 MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VIỆT NAM DƢỚI GÓC ĐỘ HIỆU QUẢ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ Đỗ Đức Bình1, Nguyễn Tiến Long2* 1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 2Trường ĐH Kinh tế & QTKD - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Qua 25 năm đổi mới, nhờ có đổi mới cơ chế chính sách và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học công nghệ, mặc dù trong bối cảnh chịu ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nhƣng nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đƣợc tốc độ tăng trƣởng dƣơng. Cụ thể, thời kỳ 2006 - 2010 bình quân tăng trƣởng 7%/năm (trong đó 2008: 6,23%; 2009: 5,32% và năm 2010: 6,78%). Tuy nhiên, số lƣợng tăng trƣởng của nền kinh tế tăng lên nhƣng chƣa chú trọng đến chất lƣợng và hiệu quả của tăng trƣởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế chƣa cao. Bài viết trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chất lƣợng tăng trƣởng, phân tích thực trạng chất lƣợng tăng trƣởng nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế theo hƣớng hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Từ khoá: Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, nền kinh tế QUAN NIỆM VỀ CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ* Cho đến nay, đã có nhiều quan điểm khác nhau về chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế. Chẳng hạn, nếu tiếp cận từ “cơ cấu ngành kinh tế”, thì chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế là cơ cấu kinh tế tối ƣu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng nâng cao hiệu quả. Nếu từ góc độ “hiệu quả”, chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế đƣợc hiểu là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp hoặc của hàng hóa sản xuất trong nƣớc. Tổng quát hơn, theo quan điểm một số nhà kinh tế học nhƣ G. Beckeer, R.Lucas, J.Stiglitz,... thì cùng với quá trình tăng trƣởng, chất lƣợng tăng trƣởng đƣợc biểu hiện tập trung ở 04 tiêu chuẩn chủ yếu, đó là: 1) Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao bảo đảm cho việc duy trì tốc độ tăng trƣởng dài hạn và tránh đƣợc những biến động kinh tế từ bên ngoài; 2) Tăng trƣởng đi kèm với phát triển môi trƣờng bền vững; 3) Tăng trƣởng hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nƣớc, đồng thời quản lý Nhà nƣớc hiệu quả sẽ thúc đẩy tăng trƣởng ở tỷ lệ cao hơn; 4) Tăng trƣởng phải đạt mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và giảm đƣợc số ngƣời đói nghèo. * Tel: 0912485659, Email: nguyentienlong@tueba.edu.vn Tuy nhiên, trên thực tế, tùy thuộc vào điều kiện và gắn với từng thời kỳ phát triển nhất định của mình, mà từng quốc gia đã có những cách tiếp cận khái niệm về chất lƣợng tăng trƣởng khác nhau. Dù lựa chọn cách tiếp cận khái niệm về tăng trƣởng nhƣ thế nào, nhƣng theo chúng tôi, việc lựa chọn mô hình phát triển là hết sức quan trọng, phải xem xét đồng thời cả hai nhóm chỉ tiêu số lƣợng và chất lƣợng tăng trƣởng, nhưng trong đó phải thực sự coi trọng các chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng (04 yếu tố với tư cách là 04 tiêu chuẩn nêu ở trên). Nói một cách khác, chất lƣợng tăng trƣởng phải đƣợc thể hiện ở năng suất, hiệu quả của các yếu tố đầu tƣ, phải đi liền với tính hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, bao gồm cả các yếu tố đầu vào nhƣ việc quản lý và phân bổ các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất, lẫn các kết quả đầu ra của quá trình sản xuất với chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện, các sản phẩm đầu ra đƣợc phân phối đảm bảo tính công bằng và góp phần bảo vệ và ổn định môi trƣờng sinh thái. KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG TĂNG TRƢỞNG VÀ CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM Nhƣ chúng ta đều biết, ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới (từ nửa cuối của những năm 80 của thế kỷ trƣớc), đất nƣớc ta đã có những thay đổi khá ngoạn mục từ một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Đỗ Đức Bình và ĐTG Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 79(03): 45 - 49 46 nƣớc nhiều năm nông nghiệp tăng trƣởng âm (phải nhập khẩu một lƣợng lƣơng thực không nhỏ hàng năm) đã chuyển sang một nƣớc xuất khẩu lƣơng thực lớn đứng thứ hai thế giới. Trong 25 năm đổi mới, mặc dù thế giới đã trải qua hai cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính trầm trọng (bắt đầu vào năm 1997 và năm 2008) gây suy thoái, suy giảm cao nền kinh tế trên toàn cầu, nhƣng nền kinh tế Việt Nam liên tục trong các năm đạt tăng trƣởng dƣơng. Cụ thể là: - Thời kỳ 1986 -1990 bình quân tăng trƣởng 3,9%/năm; - Thời kỳ 1991 -1995 bình quân tăng trƣởng 8,2%/năm; - Thời kỳ 1996 - 2000 bình quân tăng trƣởng 6,7%/năm; - Thời kỳ 2001 - 2005 bình quân tăng trƣởng 7,5%/năm; - Thời kỳ 2006 - 2010 bình quân tăng trƣởng 7%/năm (trong đó 2008:6,23%; 2009: 5,32% và năm 2010: 6,78%). Có đƣợc thành tích trên là do nhiều nguyên nhân, nhƣng trong đó phải kể đến sự tác động tích cực của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá toàn diện và vững chắc. Chính chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế, chuyển dịch hàng triệu ngƣời từ khu vực nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ (trƣớc đổi mới cơ cấu kinh tế phải xây dựng là công – nông nghiệp – hiện đại, nay cơ cấu kinh tế phải hƣớng tới là công – nông nghiệp – dịch vụ, trong đó, công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, còn nông nghiệp ngày càng giảm). Mặc dù đạt đƣợc những thành tựu tăng trƣởng đƣợc phản ánh qua các con số kể trên, nhƣng có thể khẳng định rằng thời gian qua Việt Nam mới chỉ chú ý nhiều đến tăng trƣởng về lƣợng (theo chiều rộng), mà chƣa chú trọng đến chất lƣợng tăng trƣởng, hiệu quả tăng trƣởng (tức tăng trƣởng kinh tế theo chiều sâu). Trên thực tế, tăng trƣởng của ta đã bộc lộ không ít bất cập làm chất lƣợng tăng trƣởng thấp, không hiệu quả. Cụ thể là tăng trƣởng chủ yếu dựa vào thâm dụng vốn, tài nguyên và lao động. Tăng trƣởng không đi liền với hiệu quả, gây nhiều bất ổn trong xã hội và hủy hoại môi trƣờng sinh thái. Chính các vụ việc gây hủy hoại môi trƣờng của một số công ty đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và những “kẽ hở lớn”, sự buông lỏng trong quy trình kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc các cấp đang tiếp tục đặt ra vấn đề cấp thiết phải coi trong tiêu chí đảm bảo môi trƣờng là yếu tố quan trọng nhất của chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế ở Việt Nam hiện tại và tƣơng lai. Trong năm 2010, mặc dù tình hình quốc tế và trong nƣớc có nhiều khó khăn và bất ổn, nhƣng Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tích quan trọng và không đƣợc phép quá say mê, thổi phồng các thành tích đã đạt đƣợc. Theo báo cáo của Chính Phủ, có 16/21 chỉ tiêu đã hoàn thành và hoàn thành vƣợt mức so với Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, chất lƣợng tăng trƣởng vẫn chƣa cao, còn thiếu tính bền vững; tăng trƣởng kinh tế nhƣng chƣa gắn chặt với nâng cao đời sống nhân dân – đây là một thực tế chƣa mấy đƣợc cải thiện. Lạm phát cả năm ở mức gần 12%. Tăng trƣởng kinh tế nhƣng chỉ số ICOR rất cao. Điều đó có nghĩa là, đầu tƣ kém hiệu quả (trung bình phải bỏ ra 10 đồng vốn mới đƣợc 1 đồng tăng trƣởng. Có lẽ ít nƣớc trên thế giới có chỉ số ICOR cao nhƣ Việt Nam – theo Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 14/01/2011). Từ thực tế này, chúng tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta phải có sự thay đổi mang tính “đột phá”, “cách mạng” về tƣ duy, nhận thức đối với tăng trƣởng kinh tế và chất lƣợng tăng trƣởng kinh tế; phải thay đổi mô hình tăng trƣởng để đảm bảo tính bền vững trong phát triển. Kiên quyết chấm dứt tƣ duy, quan điểm muốn GDP tăng cao thì cứ khai thác và bán tài nguyên đi; phải thực sự nghiêm túc và khoa học trong việc cân nhắc, lựa chọn giữa ra sức triển khai các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản hay giữ lại đất rừng, đất ruộng để ngƣời dân sinh sống. Hoặc phải chặt phá hàng nghìn hecta rừng để làm thủy điện hơn là giữ rừng bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Theo chúng tôi, đã đến lúc không đƣợc phép đề cao “tốc độ” tăng trƣởng mà phải là coi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Đỗ Đức Bình và ĐTG Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 79(03): 45 - 49 47 trọng chất lƣợng tăng trƣởng (hiệu quả tăng trƣởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế). Muốn vậy, không đƣợc phép chấp nhận sự phát triển bằng mọi giá; phải “giảm nhiệt” đối với sự đam mê thành tích; hạn chế và sớm chấm dứt triệt để tình trạng đẩy mạnh khai thác khoáng sản, dầu thô, và khẩn trƣơng đem bán đi. Mọi tƣ tƣởng và hành động trái ngƣợc với xu thế này chỉ là xu hƣớng chạy theo tốc độ tăng trƣởng, vẫn ham tốc độ tăng trƣởng nhiều hơn chất lƣợng tăng trƣởng. NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ THEO HƢỚNG HIỆU QUẢ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ Từ thực trạng bất cập của mô hình tăng trƣởng dẫn đến chất lƣợng tăng trƣởng thấp nhƣ đã khái quát ở trên, chúng tôi cho rằng cần phải nhất quán quan điểm đổi mới chuyển đổi mô hình tăng trƣởng cho thích ứng với điều kiện và bối cảnh mới nhằm đảm bảo tính bền vững và ổn định trong phát triển. Cụ thể là phải chuyển mô hình tăng trƣởng dựa trên lao động rẻ, đầu tƣ vốn và tài nguyên lớn sang mô hình tăng trƣởng mới là dựa trên năng suất lao động, hiệu quả các yếu tố đầu tƣ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam trên thƣơng trƣờng. Để thực hiện thành công sự chuyển đổi này, trƣớc hết cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Nâng cao trình độ nhận thức, đổi mới tƣ duy, quan điểm của các cấp lãnh đạo từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, ngành về chất lƣợng tăng trƣởng Đề cao chất lƣợng tăng trƣởng và không ngừng nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng không phải chỉ là “khẩu hiệu”, mà quan trọng hơn là phải đƣợc quán triệt về tƣ duy, nâng cao nhận thức và có quan điểm đúng đắn và nhất quán ngay từ khâu xây dựng đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, trong hoạch định chiến lƣợc, trong kế hoạch dài, trung và ngắn hạn và đặc biệt là trong thực thi ở các cấp, ngành, các địa phƣơng, Về tƣ duy, nhận thức và quan điểm cần phải thống nhất và nhất quán rằng một khi định hƣớng chính sách, mô hình chất lƣợng tăng trƣởng đúng, biện pháp thực thi và tổ chức thực thi tốt, tất yếu sẽ đƣa lại kết quả, mục tiêu nhƣ mong muốn. Trƣờng hợp mô hình, chính sách nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng đúng, nhƣng biện pháp thực thi, cũng nhƣ tổ chức thực hiện không phù hợp hoặc mô hình, chính sách về chất lƣợng tăng trƣởng không đúng, nhƣng chậm điều chỉnh một cách khoa học, thậm chí bảo thủ không điều chỉnh, thì cả hai trƣờng hợp đều dẫn đến ách tắc và rốt cuộc là chất lƣợng tăng trƣởng không nhƣ mong muốn (hiệu quả tăng trƣởng thấp). Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tƣ theo hƣớng nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng Để tạo đà tăng trƣởng và nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng, không quốc gia nào không có nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp từ ngân sách Nhà nƣớc. Bên cạnh tính tích cực và tính hiệu quả xã hội của nguồn vốn đầu tƣ này (cần cho quốc kế dân sinh mặc dù có thể kém hiệu quả, dù phải lỗ, ), trong nhiều năm qua hệ số ICOR của khu vực Nhà nƣớc đã tăng lên nhanh chóng. Đầu tƣ Nhà nƣớc (gồm đầu tƣ NSNN, đầu tƣ bằng vốn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tƣ Nhà nƣớc và đầu tƣ của các DNNN) đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tƣ xã hội, nhƣng hiệu quả không cao, đang phân tán và bao trùm ở hầu hết các ngành kinh tế, kể cả các ngành mà khu vực tƣ nhân có khả năng đầu tƣ phát triển. Để thực hiện tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả đầu tƣ công, phải xã hội hoá đầu tƣ công. Theo đó, không nên phân bổ đầu tƣ Nhà nƣớc vào các ngành, các lĩnh vực mà tƣ nhân trong nƣớc có thể kinh doanh nhƣ các loại dịch vụ thƣơng mại, nhà hàng khách sạn, phải lấy hiệu quả kinh tế làm thƣớc đo và tiêu chí để quyết định các dự án đầu tƣ. Đối với việc thu hút FDI: không nên chỉ chú trọng thu hút FDI, mà phải chú ý đặc biệt đến vốn thực hiện và hiệu quả giải ngân vốn. Đã đến lúc phải loại bỏ việc “trải thảm đỏ” trong thu hút FDI, mà việc thu hút FDI phải gắn với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Đỗ Đức Bình và ĐTG Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 79(03): 45 - 49 48 những điều kiện nhƣ “công nghệ xanh”, công nghệ ít tiêu tốn năng lƣợng, nhiên liệu, kiên quyết loại bỏ công nghệ gây ô nhiễm môi trƣờng, hạn chế sử dụng công nghệ bậc trung, mà phải coi trọng công nghệ tiên tiến, hiện đại (công nghệ nguồn) ở những quốc gia công nghiệp. Tối ƣu là hƣớng vào thu hút các Công ty xuyên quốc gia - TNC thuộc Top 500 TNC mẹ từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Chỉ có nhƣ vậy, Việt Nam mới thực sự trở thành nƣớc công nghiệp vào năm 2020 và mới có điều kiện đảm bảo hơn cho việc tham gia vào mạng sản xuất, mạng phân phối và chuỗi giá trị toàn cầu - điều kiện đủ để phát triển bền vững trong tƣơng lai. Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên cho tăng trƣởng Đối với mỗi quốc gia nguồn tài nguyên hữu hình và vô hình đang sở hữu không phải là vô hạn. Do đó, nếu càng sử dụng và sử dụng kém hiệu quả, lãng phí thì tất yếu sẽ sớm cạn kiệt và nhiều khi phải trả giá đắt hơn nhiều so với lợi ích mang lại. Thực tế đã chứng minh nếu ra sức khai thác và sử dụng không có chiến lƣợc và không theo quy hoạch đồng bộ, khoa học chỉ vì mục tiêu đạt tốc độ tăng trƣởng thì chất lƣợng tăng trƣởng thấp và phải trả giá cho vấn đề xã hội và môi trƣờng. Chính vì vậy, để phát triển bền vững về cả kinh tế, xã hội và môi trƣờng, cần phải có chiến lƣợc, quy hoạch một cách khoa học để khai thác và sử dụng một cách hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta - đây là một lợi thế mà nhiều quốc gia (nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, ) không có, hoặc nếu có nhƣng không dồi dào và đa dạng. Tăng số lƣợng và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Đất nƣớc sẽ vƣơn cao và hội nhập có hiệu quả, vững chắc bƣớc vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, nếu có chiến lƣợc đúng về con ngƣời. Đây là nhân tố quyết định nhất đến nâng cao năng suất lao động và tăng năng suất lao động một cách bền vững. C.Mác đã từng nhấn mạnh máy móc, thiết bị dù có hiện đại đến đâu, nhƣng nếu không có con ngƣời thì chúng chỉ là những vật chết. Tuy nhiên, không bất cứ ai, mà phải là những con ngƣời với những kiến thức, trình độ ngày càng cao và ngày càng sản sinh ra công nghệ tiên tiến, hiện đại và đƣa những thành tựu này vào cuộc sống vì chính con ngƣời. Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bƣớc vào nền kinh tế tri thức, nơi “tri thức đang trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định mức sống - quan trọng hơn đất đai, hơn công cụ sản xuất, hơn lao động”. Đội ngũ trí thức (nguồn nhân lực có chất lƣợng) - những ngƣời sản sinh ra tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức sẽ có đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, của quốc gia. Đáp ứng yêu cầu này, trong những năm tới ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục phải có những điều chỉnh và đổi mới có tính đột phá một cách toàn diện và đồng bộ, nhƣng không đƣợc phép nóng vội, chủ quan, mà phải có lộ trình và bƣớc đi “bài bản” để góp phần cùng đất nƣớc sớm tạo ra một đội ngũ nhân lực đủ về số lƣợng, đặc biệt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lƣợng của sự nghiệp CNH, HĐH, của hội nhập, cạnh tranh và phát triển. Đội ngũ này không chỉ có tay nghề, học vấn, trình độ khoa học công nghệ, mà còn phải có tính chuyên biệt cao, tính năng động và tính quyết đoán khoa học. Muốn vậy, đi liền với việc tiếp tục thực hiện chủ trƣơng xã hội hoá giáo dục và đào tạo, đa dạng hoá loại hình, phƣơng thức đào tạo, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý và phải kiên quyết “thổi còi” đối với các đơn vị, cơ sở vi phạm để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng và hiệu quả. Bên cạnh đó, phải tạo ra môi trƣờng thuận lợi, thực sự hấp dẫn nhằm tạo điều kiện cho mọi ngƣời phát huy sức sáng tạo của mình cho đất nƣớc. Cụ thể là phải có cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ “nhân tài” một cách rõ ràng, minh bạch và hấp dẫn nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực có chất lƣợng của đất nƣớc. KẾT KUẬN Để có thể phát triển nền kinh tế Việt Nam nhanh và bền vững đáp ứng đƣợc yêu cầu của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Đỗ Đức Bình và ĐTG Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 79(03): 45 - 49 49 có chiến lƣợc phát triển toàn diện. Tuy nhiên, trƣớc mắt cần tập trung nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của tăng trƣởng, tạo đà cho nền kinh tế để có thể cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trƣờng quốc tế. Thực hiện một số giải pháp cơ bản ở trên sẽ là tiền đề cho nâng cao chất lƣợng tăng trƣởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam, năm 2010, Hà Nội. [2]. Kinh tế Việt Nam 2009. CIEM, Nxb Tài chính 2010, Hà Nội. [3]. Tạp chí kinh tế và phát triển, các số tháng 12/2010 và số tháng 01/2011, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. [4]. Thời báo kinh tế Việt Nam, ngày 28/12/2010; số ra các ngày 4, 14, 18 tháng 01 năm 2011, Hà Nội. SUMMARY THE QUALITY OF VIETNAM ECONOMIC GROWTH RATE UNDER THE VIEW POINT OF THE ECONOMIC EFFECTIVENESS AND COMPETITVE CAPABILITY OF THE ECONOMY Do Duc Binh 1 , Nguyen Tien Long 2 1National Economics University 2Thainguyen University of Economics and Business Administration – TNU Over 25 years of innovation, with the innovative mechanism and policies, the effectivene appliation of scientific and technical achivements, the Vietnam economy maintained positive growth rate even though it is affected by the word economic crisis. In the period of 2006 – 2010, the average growth rate was 7% per year (of which 6.23% in 2008, 5.32% in 2009 and 6.78% in 2010 in detail). However, the growth rate in quantity does not mean the high effetiveness, quality and competitve capability of the economy. This paper with the clarification of theoritical basis for economic growth quality analizes the current status of economic growth quality of Vietnam economy and proposes some solutions to improve the economic growth quality in the direction of high effectiveness and competitive capability for the economy of Vietnam Key words: growth quality, effectiveness, competitive capability, economy  Tel: 0912485659, Email: nguyentienlong@tueba.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmot_so_y_kien_ve_chat_luong_tang_truong_kinh_te_viet_nam_duo.pdf
Tài liệu liên quan