Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột lá keo giậu trong khẩu phần đến sinh trưởng của lợn nuôi thịt

Phối hợp 5- 10% bột lá keo giậu vào khẩu phần ăn của lợn thịt đã làm tăng khối lượng cao hơn, tiêu thụ thức ăn nhiều hơn, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng so với lợn được ăn thức ăn hỗn hợp không có bột lá. Khi phối hợp bột lá keo giậu vào khẩu phần với tỷ lệ cao hơn (15, 20%) đều có ảnh hưởng xấu đến các chỉ tiêu nêu trên. Vì vậy, chỉ nên phối hợp bột lá keo giậu vào khẩu phần khoảng 10% trở xuống.

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 25/03/2022 | Lượt xem: 78 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột lá keo giậu trong khẩu phần đến sinh trưởng của lợn nuôi thịt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Từ Quang Hiển và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 123(09): 89-93 89 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT LÁ KEO GIẬU TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA LỢN NUÔI THỊT Từ Quang Hiển1*, Từ Trung Kiên2, Trần Thị Hoan2 1Đại học Thái Nguyên 2Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Thí nghiệm được thực hiện trên lợn Yorkshire nuôi thịt, gồm 5 lô, mỗi lô 10 con, khối lượng lợn lúc bắt đầu thí nghiệm từ 31,81- 32,23 kg/con, thời gian thí nghiệm 3 tháng, thí nghiệp được lặp lại 3 lần. Lô đối chứng (ĐC): lợn được cho ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) không có bột lá keo giậu (BLKG); Thức ăn của lô TN1 là 95% KPCS + 5% BLKG, lô TN2: 90% KPCS + 10% BLKG, lô TN3: 85% KPCS + 15% BLKG, lô TN4: 80% KPCS + 20% BLKG. Kết quả cho thấy: lợn được ăn khẩu phần có chứa 5 % và 10% BLKG (TN1 và TN2) có tăng khối lượng cao hơn và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng thấp hơn so với đối chứng; lợn của lô TN3 (khẩu phần chứa 15% BLKG) có các chỉ tiêu trên tương đương với đối chứng. Lợn của lô TN4 (khẩu phần chứa 20% BLKG) tăng khối lượng thấp hơn và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cao hơn so với đối chứng. Vì vậy, chỉ nên phối hợp 5- 10% BLKG vào khẩu phần ăn cho lợn thịt. Từ khóa: Bột lá keo giậu, lợn thịt, sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn MỞ ĐẦU* Nhiều nghiên cứu cho biết bột lá thực vật phối trộn vào khẩu phần ăn của lợn có tác dụng tốt như: Làm tăng khả năng ăn được, tăng khả năng tăng khối lượng đối với lợn thịt, tăng khả năng đậu thai ở lợn nái và tỷ lệ nuôi sống ở lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2013) [2]. Vì vậy, một số nước đã bổ sung bột lá cỏ họ đậu vào thức ăn hỗn hợp của lợn thịt và lợn nái. Ở Việt Nam, keo giậu mọc ở khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt là ở các vùng đất trung tính, hơi kiềm, vùng núi đá vôi. Năng suất vật chất khô có thể lên tới 12- 20 tấn/ha/năm (NAS, 1984) [6]. Lá keo giậu dễ chế biến thành bột lá. Cắt cả cành keo giậu, phơi 1-2 ngày nắng, đập cành lá xuống sân, lá sẽ rụng xuống, nghiền lá thành bột sẽ được bột lá keo giậu. Bột lá keo giậu cũng giống như bột cỏ họ đậu, vừa giàu protein, vừa giàu sắc tố (Wood và cs, 1983 [7]; Nguyễn Ngọc Hà, 1996 [1]). Vì vậy, chúng tôi tiến hành thí nghiệm "Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột lá keo giậu khác nhau trong khẩu phần đến sinh trưởng của lợn nuôi thịt" nhằm xác định được tỷ lệ bột lá keo giậu thích hợp trong khẩu phần. * Tel:0913286190 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thí nghiệm trên lợn Yorkshire gồm 5 lô, mỗi lô 10 con, khối lượng bắt đầu thí nghiệm từ 31,81- 32,23 kg, kết thúc khoảng trên dưới 80 kg, thí nghiệm kéo dài 3 tháng, thí nghiệp được lặp lại 3 lần. Lô đối chứng (ĐC): lợn được cho ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) không có bột lá keo giậu (BLKG); Thức ăn của lô TN1 là 95% KPCS + 5% BLKG, lô TN2: 90% KPCS + 10% BLKG, lô TN3: 85% KPCS + 15% BLKG, lô TN4: 80% KPCS + 20% BLKG. Năng lượng trao đổi (Kcal)/1 kg thức ăn và tỷ lệ protein (%) trong thức ăn của lô đối chứng là 3100 và 16,5; lô TN1: 3068 và 16,8; lô TN2: 3036 và 17,1; lô TN3: 3004 và 17,4; lô TN4: 2973 và 17,7. Năng lượng trao đổi và tỷ lệ protein trong BLKG dựa theo tài liệu của Viện Chăn nuôi quốc gia [5]. Các lô đều được cho ăn tự do bằng máng ăn tự động. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, khả năng tiêu thụ thức ăn, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng và so sánh chi phí thức ăn/1 kg tăng khối lượng giữa các lô. Các chỉ tiêu được theo dõi bằng các phương pháp thường quy trong nghiên cứu về chăn nuôi. Từ Quang Hiển và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 123(09): 89-93 90 Phương pháp xử lý số liệu: Theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) [4], xử lý thống kê ANOVA-GLM bằng phần mềm Minitab phiên bản 14. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm Chúng tôi đã tiến hành cân khối lượng lợn theo định kỳ 30 ngày/lần. Kết quả được trình bày tại bảng 1. Bảng 1: Khối lượng của lợn thí nghiệm (kg) Thời gian (tháng) Đối chứng (0 % BLKG) Lô TN1 (5 % BLKG) Lô TN2 (10 % BLKG) Lô TN3 (15 % BLKG) Lô TN4 (20 % BLKG) Bắt đầu 31,89 31,81 31,92 32,07 32,23 Sau 1 tháng 45,04 45,40 44,94 44,38 43,39 Sau 2 tháng 61,11 63,20 62,62 60,39 58,64 Sau 3 tháng 79,13a 83,03b 83,25b 78,26ac 76,20c Ghi chú: Theo hàng ngang, các số trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Bảng 2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) Tháng thí nghiệm Đối chứng (0 % BLKG) Lô TN1 (5 % BLKG) Lô TN2 (10 % BLKG) Lô TN3 (15 % BLKG) Lô TN4 (20 % BLKG) Tháng thứ 1 438,33 452,67 434,00 410,33 372,00 Tháng thứ 2 535,67 593,33 589,33 522,67 508,33 Tháng thứ 3 600,67 694,33 687,67 596,67 585,33 Trung bình 524,89a 580,11b 570,33a 509,89ac 488,56c Ghi chú: Theo hàng ngang, các số trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Sau tháng thứ nhất, khối lượng lợn của lô thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 tương đương với lô đối chứng, nhưng sau tháng thứ 2, đặc biệt là tháng thứ 3, khối lượng lợn của 2 lô này cao hơn so với lô đối chứng lần lượt là 3,9 và 4,12 kg. Khối lượng trung bình của lô TN1 và TN2 có sự sai khác rõ rệt so với lô đối chứng (P <0,01). Khối lượng trung bình của lợn lô thí nghiệm 3 gần tương đương với lô đối chứng ở các kỳ cân. Khối lượng trung bình của lợn lô thí nghiệm 4 thấp hơn so với lô đối chứng ở tất cả các kỳ cân và kém lô đối chứng là 2,93 kg ở kỳ cân cuối cùng. Khối lượng trung bình của hai lô này có sự sai khác rõ rệt (P <0,05). Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm Kết quả về tăng khối lượng của lợn qua các tháng được trình bày tại bảng 2. Tăng khối lượng của lô TN1 và TN2 ở tháng thứ nhất tương đương với lô đối chứng, nhưng ở tháng thư hai và ba đã vượt lên đáng kể so với lô đối chứng. Tăng khối lượng của lô thí nghiệm 3 ở tháng đầu tiên kém hơn lô đối chứng khá lớn (28 g/con/ngày), nhưng ở tháng thứ 2 thì chênh lệch giảm xuống còn 13 g/con/ngày, còn ở tháng thứ 3 thì gần tương đương. Hình 1: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn Từ Quang Hiển và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 123(09): 89-93 91 Tăng khối lượng của lô thí nghiệm 4 thấp hơn rõ rệt so với đối chứng. Tuy nhiên, sự chênh lệch này giảm dần khi tháng tuổi và khối lượng của lợn tăng lên. Cụ thể: khoảng cách chênh lệch ở tháng thứ nhất là 66,33 g/con/ngày; ở tháng thứ 2 đã giảm xuống còn 27,33 g/con/ngày và ở tháng thứ 3 chỉ còn 15,33 g/con/ngày. Kết quả trên cho thấy: phối hợp 5 – 10 % BLKG trong thức ăn hỗn hợp có ảnh hưởng tốt nhưng không lớn đến tăng khối lượng của lợn ở tháng thứ nhất (giai đoạn lợn từ 30 – 45 kg), sang tháng thứ hai và ba (giai đoạn lợn từ 45 – 80 kg) thì có ảnh hưởng tốt rõ rệt. Phối hợp vào khẩu phần 15 % BLKG đã gây ảnh hưởng xấu đến tăng khối lượng của lợn ở giai đoạn 30 – 45 kg (tăng khối lượng giảm 6,4 % so với lô đối chứng), nhưng không có ảnh hưởng xấu đến tăng khối lượng của lợn giai đoạn từ 45 – 80 kg. Phối hợp vào khẩu phần 20 % BLKG có ảnh hưởng xấu rõ rệt đến tăng khối lượng của lợn ở giai đoạn 30 – 45 kg (giảm tăng khối lượng 15,1 % so với đối chứng), nhưng ở giai đoạn lợn từ 45 – 80 kg thì ảnh hưởng xấu này đã giảm đi (tăng khối lượng chỉ kém lô đối chứng 5,1 % ở tháng thứ 2 và 2,6 % ở tháng thứ 3), do ở giai đoạn này lợn đã thích ứng với thức ăn có tỷ lệ xơ cao, năng lượng thấp và với cả độc tố mimosine. Tiêu thụ thức ăn của lợn thí nghiệm Khi gia tăng lượng bột lá keo giậu trong khẩu phần thì đồng nghĩa với tỷ lệ các vật chất dinh dưỡng trong khẩu phần cũng biến đổi và làm cho tính hấp dẫn của thức ăn có thể tăng hoặc giảm theo. Do đó, khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn cũng biến đổi. Để thấy được ảnh hưởng của tỷ lệ bột lá keo giậu khác nhau đến khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn, chúng tôi đã tiến hành theo dõi chỉ tiêu này và kết quả được trình bày tại bảng 3. Phối hợp 5 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã làm tăng khả năng ăn của lợn so với lô đối chứng 4,8 % ở tháng thứ nhất; 5,2 % ở tháng thứ hai; 10,6 % ở tháng thứ ba; trung bình toàn kỳ là 7,5 % và có sự sai khác rõ rệt với ĐC, TN2, TN3 (P < 0,05). Phối hợp 10 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã làm tăng khả năng ăn của lợn 2,9 % ở tháng thứ nhất; 8,4 % ở tháng thứ hai; 11,0 % ở tháng thứ ba; trung bình toàn kỳ là 8,2 % so với lô đối chứng và có sự sai khác rõ rệt với ĐC, TN2, TN3 (P < 0,05). Phối hợp 15 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã không làm tăng khả năng ăn của lợn ở các giai đoạn và toàn kỳ thí nghiệm so với đối chứng. Phối hợp 20 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã làm giảm khả năng ăn của lợn 10,6 % ở tháng thứ nhất và 1,3% ở tháng thứ 2; không làm giảm ở tháng thứ ba so với lô đối chứng; trung bình toàn kỳ thấp hơn 2,5 % so với đối chứng. Kết quả trên cho thấy có thể phối hợp từ 5 – 10 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp trong suốt giai đoạn lợn từ 30 – 80 kg mà không gây ảnh hưởng xấu đến khả năng ăn của lợn, trái lại còn có ảnh hưởng tốt đến khả năng tiêu thụ thức ăn của chúng. Có thể phối hợp 15 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp của lợn thịt giai đoạn 30 – 80 kg mà không gây ảnh hưởng xấu đến khả năng ăn của lợn. Không nên phối hợp 20% BLKG vào thức ăn hỗn hợp của lợn ở giai đoạn 30 – 60 kg, nhưng có thể phối hợp tỷ lệ này ở giai đoạn lợn từ 60 – 80 kg. Bảng 3: Tiêu thụ thức ăn của lợn thí nghiệm (kg/con/ngày) Tháng thí nghiệm Đối chứng (0 % BLKG) Lô TN1 (5 % BLKG) Lô TN2 (10 % BLKG) Lô TN3 (15 % BLKG) Lô TN4 (20 % BLKG) Tháng thứ 1 1,04 1,09 1,07 1,02 0,93 Tháng thứ 2 1,54 1,62 1,67 1,55 1,52 Tháng thứ 3 2,18 2,41 2,42 2,17 2,18 Trung bình 1,59a 1,71b 1,72b 1,58a 1,55a Ghi chú: Theo hàng ngang, các số trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Từ Quang Hiển và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 123(09): 89-93 92 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng Bảng 4. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm (kg) Tháng thí nghiệm Đối chứng (0 % BLKG) Lô TN1 (5 % BLKG) Lô TN2 (10 % BLKG) Lô TN3 (15 % BLKG) Lô TN4 (20 % BLKG) Tháng thứ 1 2,38 2,40 2,47 2,53 2,60 Tháng thứ 2 2,88 2,73 2,84 2,97 3,08 Tháng thứ 3 3,63 3,42 3,52 3,68 3,78 Trung bình 3,03ab 2,94a 3,02ab 3,13bc 3,24c Ghi chú: Theo hàng ngang, các số trung bình mang các chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng qua các kỳ cân là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thương phẩm nói riêng. Chỉ tiêu này quyết định hiệu quả kinh tế, bởi thức ăn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Trong nghiên cứu về thức ăn, chỉ tiêu này còn phản ánh hiệu quả của thức ăn thí nghiệm đối với vật nuôi. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ở từng tháng thí nghiệm và toàn kỳ (3 tháng) của các lô thí nghiệm được trình bày tại bảng 4. Như vậy, mặc dù phối hợp 5 - 10 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã làm giảm năng lượng trao đổi trong thức ăn từ 32 – 64 Kcal, nhưng tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn lô thí nghiệm 1 và 2 vẫn thấp hơn so với lô đối chứng từ 0,01 – 0,09 kg thức ăn. Điều đó chứng tỏ phối hợp BLKG vào thức ăn hỗn hợp với tỷ lệ 5 - 10 % đã nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn cho lợn. Phối hợp 15 - 20 % BLKG vào thức ăn hỗn hợp đã làm giảm 96 – 127 Kcal năng lượng trao đổi/1 kg thức ăn, đồng thời tỷ lệ xơ và độc tố mimosine tăng cao hơn, dẫn tới tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lô thí nghiệm 3 và thí nghiệm 4 cao hơn so với lô đối chứng từ 0,15 – 0,22 kg ở tháng thứ nhất; từ 0,09 – 0,20 kg ở tháng thứ 2; từ 0,05 – 0,15 kg ở tháng thứ 3 và trung bình toàn kỳ là 0,10- 0,21 kg. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lô thí nghiệm 4 có sự sai khác rõ rệt so với lô ĐC, TN1 và TN2 (P < 0,05). Theo Phùng Thăng Long (2005) [3] khi cho lợn ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh thì tiêu tốn thức ăn của lợn ngoại từ 3,18- 3,52 kg/kg tăng khối lượng. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của các lô trong thí nghiệm của chúng tôi thấp hơn hoặc tương đương với thông báo nêu trên. Hình 2: Tiêu tốn thức ăn của lợn thí nghiệm So sánh chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng giữa các lô Giá 1 kg BLKG chỉ bằng trên 50% giá của 1 kg thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Do đó, khi phối hợp 5 % đến 20% bột lá vào khẩu phần thì giá của 1 kg thức ăn đã giảm đi theo tuyến tính. Lô TN1 và TN2 có tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng thấp hơn lô đối chứng, bên cạnh đó giá 1 kg thức ăn của 2 lô này cũng thấp hơn đối chứng. Vì vậy, chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lô TN1 và TN2 thấp hơn so với đối chứng là điều tất nhiên. Nếu quy ước chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lô đối chứng là 100%, thì của lô TN1 là 94,7%, giảm 5,3%, còn của lô TN2 là 89,4%, giảm 10,6%. Lô TN3 và TN4 có tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cao hơn lô đối chứng. Tuy nhiên, tỷ lệ bột lá trong khẩu phần của 2 lô này khá lớn (15- 20%), nên giá 1 kg thức ăn giảm đáng kể so với đối chứng. Kết quả là chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lô Từ Quang Hiển và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 123(09): 89-93 93 TN3 bằng 95,9% và giảm 4,1% so với đối chứng, còn lô TN3 bằng 96,7% và giảm 3,3% so với đối chứng. Như vậy, chỉ xét riêng về chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng thì phối hợp BLKG vào khẩu phần với tỷ lệ 10% sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất. KẾT LUẬN Phối hợp 5- 10% bột lá keo giậu vào khẩu phần ăn của lợn thịt đã làm tăng khối lượng cao hơn, tiêu thụ thức ăn nhiều hơn, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng so với lợn được ăn thức ăn hỗn hợp không có bột lá. Khi phối hợp bột lá keo giậu vào khẩu phần với tỷ lệ cao hơn (15, 20%) đều có ảnh hưởng xấu đến các chỉ tiêu nêu trên. Vì vậy, chỉ nên phối hợp bột lá keo giậu vào khẩu phần khoảng 10% trở xuống. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Nguyễn Ngọc Hà (1996), Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo giậu (Leucaena) làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi. Luận án PTS khoa học Nông nghiệp Hà Nội. [2] Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thành Vân, Từ Trung Kiên (2013) Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp. [3]. Phùng Thăng Long, Trần Văn Hạnh (2005) Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của một số tổ hợp lợn lai Ngoại x Ngoại ở Miền Trung, Tạp chí NN&PTNT, số 60/kỳ 2, tháng 5/2005 tr. 29- 30 và 36. [4]. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội. [5]. Viện chăn nuôi quốc gia (2001), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc- gia cầm Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. [6]. NAS (1984), Leucaena: promising forage and tree for the tropics. Second edition. Washington, DC: NAS, P31-32; 100. [7]. Wood J. F, Carter P. M and Savory R (1983), Investigations into the effects of processing on the retention of carotenoid fractions of Leucaena leucocephala during storage, and the effects on mimosine concentration. Anim. Feed Sci, Technol, 9: 307-317. SUMMARY THE EFFECT OF LEUCAENA LEAF MEAL LEVELS IN THE DIET ON PERFORMANCE OF GROWING PIG Tu Quang Hien1*, Tu Trung Kien2, Tran Thi Hoan2 1Thai Nguyen University 2College of Agriculture and Forestry- TNU The study was conducted on Yorkshire growing pig, consist of 5 groups, 10 pigs per each group, pig have 31.81 to 32.23 kg in body weight at starting time, experimental duration in 3 months, repeat 3 times. Control group (CG): pigs were fed by base diet (BD) without Leucaena leaf meal (LLM); Feed of group 1 have 95% BD + 5% LLM, group 2 have 90% BD + 10% LLM; group 3 have 85% BD + 15% LLM; group 4 have 80% BD + 20% LLM. The result show that: pig was feed by the ration have 5% and 10% of LLM (group 1 and group 2) the body weight gain higher and less feed consumption/1 kg body weight gain than that of control group; pig at group 3 (15% LLM in the diet) have above index the same in comperision with control group. Pig of group 4 (20% LLM in the diet) have less body weight gain and higher feed consumption/1 kg body weight gain than that of control group. So that, we should mixing at 5 and 10 % of LLM in the diet for growing pig. Key words: Leucaena leaf meal, pig, growing, feed consumption. Ngày nhận bài:16/7/2014; Ngày phản biện:07/8/2014; Ngày duyệt đăng: 20/8/2014 Phản biện khoa học: PGS.TS. Trần Văn Phùng – Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên * Tel:0913286190

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfanh_huong_cua_cac_ty_le_bot_la_keo_giau_trong_khau_phan_den.pdf