Biểu hện lâm sàng, bệnh tích ở dạ múi khế và ruột non của trâu bò mắc bệnh giun xoăn dạ múi khế tỉnh Thái Nguyên

- 67,23% số trâu và 67,96% số bò bị tiêu chảy nhiễm giun xoăn dạ múi khế, trong đó có 33,33% (trâu) và 43,35% (bò) nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò bị tiêu chảy cao và nặng hơn rõ rệt so với trâu, bò bình thường. - 7,72% số trâu và 10,01% số bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế có triệu chứng: Ăn kém, gầy, da khô, lông xù dễ rụng, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy nhiều ngày, phân lỏng, thủy thũng ngực, bụng. - Giun xoăn dạ múi khế gây tổn thương, viêm và xuất huyết ở cả dạ múi khế và ruột non, song tập trung ở dạ múi khế là chủ yếu, với các biến đổi bệnh lý như: Tổn thương niên mạc, tăng sinh tế bào vùng hạ niêm mạc, hoại tử tế bào biểu mô, hạ niêm mạc thấm dịch phù.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 25/03/2022 | Lượt xem: 104 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biểu hện lâm sàng, bệnh tích ở dạ múi khế và ruột non của trâu bò mắc bệnh giun xoăn dạ múi khế tỉnh Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 183 BIỂU HỆN LÂM SÀNG, BỆNH TÍCH Ở DẠ MÚI KHẾ VÀ RUỘT NON CỦA TRÂU BÒ MẮC BỆNH GIUN XOĂN DẠ MÚI KHẾ TỈNH THÁI NGUYÊN Phan Thị Hồng Phúc*, Nguyễn Thị Kim Lan Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Xét nghiệm phân của 1726 trâu, 1760 bò bình thường và 357 trâu, 387 bò tiêu chảy tại 4 huyện thành của tỉnh Thái Nguyên, kết quả cho thấy: Có 67,23% số trâu và 67,96% số bò bị tiêu chảy nhiễm giun xoăn dạ múi khế, trong đó có 33,33% (trâu), 43,35% (bò) nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng. Trong khi tỷ lệ nhiễm ở Trâu, bò bình thường là 46,12% và 49,77%, đồng thời chỉ nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình. Trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế có triệu chứng: Ăn kém, gầy, da khô, lông xù dễ rụng, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy nhiều ngày, phân lỏng, thủy thũng ngực, bụng. Mổ khám 197 trâu và 261 bò thấy: Giun xoăn dạ múi khế gây tổn thương, viêm và xuất huyết ở cả dạ múi khế và ruột non, song tập trung ở dạ múi khế là chủ yếu, với các biến đổi bệnh lý như: Tổn thương niên mạc, tăng sinh tế bào vùng hạ niêm mạc, hoại tử tế bào biểu mô, hạ niêm mạc thấm dịch phù (tổn thương, viêm và xuất huyết khi có từ 867 – 1732 giun ký sinh). Từ khóa: Trâu bò, tỷ lệ nhiễm, giun xoăn dạ múi khế, tiêu chảy, triệu chứng, bệnh tích. ĐẶT VẤN ĐỂ* Bệnh giun xoăn dạ múi khế là bệnh phổ biến trên đàn trâu, bò của nước ta cũng như đàn trâu, bò của nhiều nước trên thế giới. Bệnh do nhiều loài giun tròn ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của trâu, bò và các gia súc nhai lại khác gây nên. Ở tỉnh Thái Nguyên trâu, bò bị nhiễm giun xoăn dạ múi khế khá nhiều, ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi và gây thiệt hại về kinh tế. Để thấy rõ tác động gây bệnh của giun xoăn dạ múi khế, chúng tôi đã nghiên cứu về biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh ở tỉnh Thái Nguyên, từ đó có sơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh bằng phương pháp chẩn đoán lâm sàng, mổ khám và có khuyến cáo hợp lý đối với cán bộ thú y, người chăn nuôi trâu, bò ở các địa phương. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Vật liệu - Mẫu phân trâu, bò ở các lứa tuổi tại 4 huyện thành của tỉnh Thái Nguyên - Trâu, bò mắc bệnh giun xoăn dạ múi khế. - Dạ múi hế và ruột non của trâu, bò bị bệnh. * Tel: 0988706238; Email: phucnamcnty@gmail.com - Máy cắt tiêu bản tế bào Microtom, kính hiển vi quang học, buồng đếm Mc.Master, thuốc nhuộm Hematoxylin – Eosin, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác. Nội dung nghiên cứu - Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò bình thường và tiêu chảy - Biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh giun xoăn dạ múi khế. - Bệnh tích ở dạ múi khế và ruột non của trâu, bò mắc bệnh. Phương pháp nghiên cứu - Lấy mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (Nguyễn Như Thanh, 2001) [8]. - Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp Fulleborn, đếm trứng giun xoăn dạ múi khế trên buồng đếm Mc. Master (Jorgen Hansen và cs, 1994) [9]. - Quan sát biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh theo phương pháp của Hồ Văn Nam (1982)[5]. - Mổ khám trâu, bò bị bệnh bằng phương pháp mổ khám phi toàn diện (Skrjabin K.I., 1963) [7]. - Làm tiêu bản tổ chức học theo phương pháp của Cao Xuân Ngọc (1997) [6]. Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 184 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò bình thường và trâu, bò tiêu chảy Bảng 1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò bình thường và tiêu chảy Địa phương Trạng thái phân Loại gia súc Số trâu, bò kiểm tra (con) Số trâu, bò nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (số trứng/gam phân) ≤ 500 > 500 - 800 >800 - 1000 >1000 n % n % n % n % TP. Thái Nguyên Bình thường Trâu 528 207 39,20 163 78,74 44 21,26 0 0,00 0 0,00 Bò 495 195 39,39 136 69,74 59 30,26 0 0,00 0 0,00 Tiêu chảy Trâu 44 27 61,36 13 48,15 1 3,70 9 33,33 4 14,81 Bò 60 28 46,67 7 25,00 1 3,57 15 53,57 5 17,86 H. Phổ Yên Bình thường Trâu 417 175 41,97 130 74,29 45 25,71 0 0,00 0 0,00 Bò 425 176 41,41 115 65,34 61 34,66 0 0,00 0 0,00 Tiêu chảy Trâu 54 36 66,67 16 44,44 2 5,56 13 36,11 5 13,89 Bò 82 42 51,22 11 26,19 4 9,52 21 50,00 6 14,29 H. Phú Bình Bình thường Trâu 437 191 43,71 114 59,69 77 40,31 0 0,00 0 0,00 Bò 586 352 60,07 191 54,26 161 45,74 0 0,00 0 0,00 Tiêu chảy Trâu 132 88 66,67 27 30,68 38 43,18 18 20,45 5 5,68 Bò 149 122 81,88 31 25,41 49 40,16 28 22,95 14 11,48 H. Đồng Hỷ Bình thường Trâu 344 223 64,83 159 71,30 64 28,70 0 0,00 0 0,00 Bò 254 153 60,24 102 66,67 51 33,33 0 0,00 0 0,00 Tiêu chảy Trâu 127 89 70,08 40 44,94 23 25,84 17 19,10 9 10,11 Bò 96 71 73,96 26 36,62 20 28,17 14 19,72 11 15,49 Tính chung Bình thường Trâu 1726 796 46,12 566 71,11 230 28,89 0 0,00 0 0,00 Bò 1760 876 49,77 544 62,10 332 37,90 0 0,00 0 0,00 Tiêu chảy Trâu 357 240 67,23 96 40,00 64 26,67 57 23,75 23 9,58 Bò 387 263 67,96 75 28,52 74 28,14 78 29,66 36 13,69 Kiểm tra 1726 trâu và 1760 bò có trạng thái phân bình thường, 357 trâu và 387 bò phân lỏng, tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò bình thường và trâu, bò bị tiêu chảy có sự khác nhau.. Có 67,23% số trâu và 67,96% số bò bị tiêu chảy nhiễm giun xoăn dạ múi khế, trong đó có 33,33% trâu và 43,35% bò nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng. Tất cả những trâu, bò nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng đều bị tiêu chảy, phân lỏng, dính ở đuôi và khoeo. Trong khi trâu, bò phân bình thường nhiễm giun xoăn dạ múi khế với tỷ lệ thấp hơn (46,12 và 49,77%), 100% nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình. Sự khác nhau này là rõ rệt (P< 0,01). Như vậy, trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế cường độ nặng và rất nặng đều bị tiêu chảy. Đây là một triệu chứng lâm sàng quan trọng trong bệnh giun xoăn dạ múi khế. Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 185 Biểu hiện lâm sàng của trâu, bò bị bệnh giun xoăn dạ múi khế ở một số địa phương của tỉnh Thái Nguyên Bảng 2. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của trâu, bò bị bệnh giun xoăn dạ múi khế Địa phương Loại gia súc Số trâu, bò nhiễm (con) Số trâu, bò có biểu hiện lâm sàng (con) Tỷ lệ (%) Những biểu hiện lâm sàng chủ yếu Thái Nguyên Trâu 234 13 5,56 - Gầy, da khô, lông xù - Phân nát, chuyển dần sang lỏng - Niêm mạc nhợt nhạt - Một số con có hiện tượng thủy thũng ở vùng thấp của cơ thể. Bò 223 20 8,97 Phổ Yên Trâu 211 18 8,53 Bò 218 27 12,39 Phú Bình Trâu 279 23 8,24 Bò 474 42 8,86 Đồng Hỷ Trâu 312 26 8,33 Bò 224 25 11,16 Tính chung Trâu 1036 80 7,72 Bò 1139 114 10,01 Kết quả bảng 2 cho thấy: Tất cả những trâu bò nhiễm ở cường độ nặng, rất nặng và một số trâu, bò nhiễm ở cường độ trung bình có triệu chứng lâm sàng. Tất cả những trâu, bò nhiễm ở cường độ nhẹ và phần lớn số trâu, bò nhiễm ở cường độ trung bình đều không thấy xuất hiện bất cứ một dấu hiệu nào của bệnh. Từ kết quả trên, chúng tôi nhận thấy: Tỷ lệ trâu, bò có triệu chứng lâm sàng thấp trong tổng số trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế (7,72% - 10,01%). Điều đó chứng tỏ, trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế phần lớn ở tình trạng mang trùng (khoảng 90%). Mặc dù không có biểu hiện lâm sàng, nhưng những trâu, bò mang trùng là nguồn gieo rắc trứng giun xoăn ra ngoại cảnh, làm cho những trâu, bò khác nhiễm bệnh. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với mô tả về triệu chứng bệnh ở của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1997) [3] (2008) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [4]. Những biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh giun xoăn dạ múi khế không có gì đặc biệt so với các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá khác, tuy nhiên qua kết quả nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ (đã được chúng tôi công bố trên Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y số trước) thì trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế rất phổ biến. Vì vậy, các biểu hiện lâm sàng trên vẫn là những dấu hiệu quan trọng để nhận định khả năng đó là bệnh do giun xoăn dạ múi khế gây nên, từ đó có biện pháp phòng trị kịp thời và hiệu quả. Bệnh tích ở dạ múi khế và ruột non ở cơ quan tiêu hoá trâu, bò do giun xoăn dạ múi khế gây ra * Bệnh tích đại thể: Bảng 3 cho thấy: - Đối với trâu, bò nhiễm loài H. contortus: Tỷ lệ có bệnh tích là 20,93% (ở trâu), và 16,92% (ở bò). Số giun biến động từ 1009 - 1219 con/trâu và 867 - 1201 con/bò. - Đối với trâu, bò nhiễm loài H. similis: Không có trâu, bò nào có biểu hiện bệnh tích, số lượng giun nhiễm ít: 26 - 69 con/ trâu, (bò). - Đối với trâu, bò nhiễm loài M. digitatus: Tỷ lệ có bệnh tích là 14,29% (ở trâu), và 10,14% (ở bò). Số giun biến động từ 972 - 1732 con/trâu và từ 1028 - 1249 con/bò. - Đối với trâu, bò nhiễm hỗn hợp cả 3 loài : Tỷ lệ có bệnh tích là 18,52% (ở trâu), và 24,32% (ở bò). Số giun biến động từ 981 - 1580 con/trâu và từ 976 - 1697con/bò. Trâu, bò mắc bệnh do loài H.contortus gây nên có biểu hiện bệnh tích: Niêm mạc dạ múi Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 186 khế tổn thương và xuất huyết từng đám, niêm mạc ruột non viêm cata. Trong khi đó loài M. digitatus chỉ gây bệnh tích ở dạ múi khế. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi số lượng giun có từ 867 con trở lên mới gây bệnh tích rõ rệt cho trâu, bò. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1998) [3]. Bảng 3. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá trâu, bò do giun xoăn dạ múi khế Số trâu, bò mổ khám (con) Số trâu, bò nhiễm (con) Loài GXDMK Số trâu bò nhiễm (con) Số trâu, bò có bệnh tích (con) Tỷ lệ có bệnh tích (%) Bệnh tích chủ yếu Số giun/ trâu, bò có bệnh tích (con) Trâu (197) 93 H. contortus 43 9 20,93 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương và xuất huyết từng đám - Niêm mạc ruột non viêm cata 1009- 1219 H. similis 2 0 0,00 0 26 - 43 M. digitatus 21 3 14,29 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương và có nhiều điểm xuất huyết 972 - 1732 Nhiễm hỗn hợp 27 5 18,52 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương và có nhiều điểm xuất huyết - Niêm mạc ruột non viêm cata, có nhiều điểm xuất huyết 981 - 1580 Bò (261) 175 H. contortus 65 11 16,92 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương, có nhiều điểm xuất huyết - Niêm mạc ruột non viêm cata. 867 - 1201 H. similis 4 0 0,00 0 37 - 69 M. digitatus 69 7 10,14 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương và có nhiều điểm xuất huyết 1028 - 1249 Nhiễm hỗn hợp 37 9 24,32 - Niêm mạc dạ múi khế tổn thương, có nhiều điểm xuất huyết - Niêm mạc ruột non viêm cata. 976 - 1697 * Bệnh tích vi thể: Kết quả bảng 4 cho thấy: Tiêu bản dạ múi khế có bệnh tích vi thể chiếm tỷ lệ cao (79,49 – 83,33%), tiêu bản ruột non có tỷ lệ bệnh tích vi thể thấp (4,76 – 7,69%). Từ kết quả nghiên cứu ở trên, chúng tôi thấy, giun xoăn dạ múi khế chủ yếu ký sinh ở dạ múi khế và gây nên những biến đổi vi thể như: Tổn thương niên mạc, tăng sinh tế bào vùng hạ niêm mạc, hoại tử tế bào biểu mô, hạ niêm mạc thấm dịch phù. Bảng 4. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể Loại gia súc Nguồn gốc tiêu bản Số tiêu bản nghiên cứu Số tiêu bản có biến đổi vi thể Tỷ lệ (%) Trâu Dạ múi khế 42 35 83,33 Ruột non 42 2 4,76 Bò Dạ múi khế 39 31 79,49 Ruột non 39 3 7,69 Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 187 Tăng sinh tế bào viêm vùng hạ niêm mạc Ảnh 1. Tế bào niêm mạc dạ múi khế tổn thương. (x 150) Ảnh 2. Tế bào biểu mô thoái hoá hạt. Tăng sinh tế bào viêm vùng hạ niêm mạc. Hạ niêm mạc thấm dịch phù. (x 150) KẾT LUẬN - 67,23% số trâu và 67,96% số bò bị tiêu chảy nhiễm giun xoăn dạ múi khế, trong đó có 33,33% (trâu) và 43,35% (bò) nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của trâu, bò bị tiêu chảy cao và nặng hơn rõ rệt so với trâu, bò bình thường. - 7,72% số trâu và 10,01% số bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế có triệu chứng: Ăn kém, gầy, da khô, lông xù dễ rụng, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy nhiều ngày, phân lỏng, thủy thũng ngực, bụng. - Giun xoăn dạ múi khế gây tổn thương, viêm và xuất huyết ở cả dạ múi khế và ruột non, song tập trung ở dạ múi khế là chủ yếu, với các biến đổi bệnh lý như: Tổn thương niên mạc, tăng sinh tế bào vùng hạ niêm mạc, hoại tử tế bào biểu mô, hạ niêm mạc thấm dịch phù. TÀI LIỆU THAM KHẢO [11]. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Phan Địch Lân (1997), “Kết quả nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở dê cỏ nuôi tại tỉnh Thái Nguyên – Bắc Kạn và hiệu lực của các thuốc Synanthic, Levamisol và Mebenvet”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên. Tr 72 – 75. [12]. Nguyễn Thị Kim Lan, Phan Địch Lân, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Văn Quang (1998), “Nhận xét về bệnh tích đại thể và một số chỉ tiêu huyết học của dê nhiễm giun sán đường tiêu hóa”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập V, số 3, Tr 94 – 98. [13]. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học Thú y, (Giáo trình dùng cho bậc cao học), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. [14]. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh thường gặp ở bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị, (Tập I – Bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng), Nhà xuất bản Nông nghiệp,Hà Nội. [15]. Hồ Văn Nam (1982), Giáo trình chẩn đoán bệnh không lây ở gia súc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. [16]. Cao Xuân Ngọc (1997), Giải phẫu bệnh đại cương thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. [17]. Skrjabin K.I. Petrov A.M (1963), Nguyên lý môn giun tròn thú y. Do Bùi Lập, Đoàn Thị Băng Tâm, Tạ Thị Vinh, dịch từ tiếng Nga, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1977. [18]. Nguyễn Như Thanh (2001), Dịch tễ học Thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. [19]. Jorgen Hansen, Brian Perry (1994), The Epidemiology, Diagnosis and Control of helminth parasites of ruminants, Intenational Livestock Centre for Africa Addis Ababa, Ethiopia, Ilrad, P 17 – 18, 113. Tế bào biểu mô thoái hoá hạt Hạ niêm mạc thấm dịch phù Phan Thị Hồng Phúc và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/2: 183 - 188 188 SUMMARY A STUDY ON SYMPTOMS AND LESIONS OF TRICHOSTRONGYLIDAE WORM DISEASE OF CATTLE IN THAI NGUYEN PROVINCE Phan Thi Hong Phuc*, Nguyen Thi Kim Lan College of Agriculture & Forestry - TNU The research was conducted to test feces of 1726 nomal buffaloes, 1760 normal cows and 357 diarrhea buffaloes, 387 diarrhea cows in 4 districts in Thai Nguyen provice. The results showed that: there were 67.23% of diarrhea buffalos and 67.96% of diarrhea cows infected Trichostrongylidosys in abomasum, in which 33.33% buffaloes and 43.35% cows were infectious with heavy and very heavy intensity. While the infectious intensity of normal buffaloes and normal cows were 46.12% and 49.77% respectively, and the most of them were infected with moderate intensity. The results of surgery examination on 197 buffaloes and 261 cows showed that: symtoms of buffaloes and cows infected Trichostrongylidosys in abomasum were anorexia, thin, dry skin, feathers ruffled and easy loss, pale mucous membranes, diarrhea for several days, loose, water barrels chest, abdomen. Trichostrongylidosys in abomasum caused damage, inflammation and hemorrhage in both the abomasum and small intestine, but it concentrated mainly in the abomasum with pathological changes such as lesions in mucous membranes, proliferation of cells in lower mucosal, damage of epithelial cells, lower mucosal with permeability oedema fluid (trauma, inflammation and hemorrhage will appear when the number of worms reach to 867-1732 individuals). Key words: Buffaloes, cows, intensity, infection rate, Trichostrongylidosys in abomasum, diarrhea, symtoms, pathology. Phản biện khoa học: TS. Lê Minh – Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên * Tel: 0988706238; Email: phucnamcnty@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbieu_hen_lam_sang_benh_tich_o_da_mui_khe_va_ruot_non_cua_tra.pdf
Tài liệu liên quan