Xu hướng vận động của đầu tư quốc tế

Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rất khác nhau. Có người cho rằng đầu tư tức là phải bỏ ra một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người quan niệm rằng đầu tư là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này còn được sử dụng rộng rãi, như câu nói cửa miệng để nói lên sự chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.

doc13 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 3653 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xu hướng vận động của đầu tư quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
4.1. Khái niệm, đặc điểm và xu hướng vận động của đầu tư quốc tế hiện nay           4.1.1. Khái niệm đầu tư quốc tế a. Khái niệm Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rất khác nhau. Có người cho rằng đầu tư tức là phải bỏ ra một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người quan niệm rằng đầu tư là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này còn được sử dụng rộng rãi, như câu nói cửa miệng để nói lên sự chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống. Vậy đầu tư là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận là "Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai… vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận". Người bỏ ra một lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư. Đối tượng được bỏ tài sản vào đầu tư thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư hoặc chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước. Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: (i) tính sinh lãi, (ii) rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản vào một việc mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển. Chủ đầu tư tiến hành công cuộc đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau. Có thể bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập ra cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất hiện có và trực tiếp quản lý các tài sản đó. Hình thức này được gọi là đầu tư trực tiếp hay đầu tư phát triển. Thời gian đầu tư thường là trung và dài hạn. Trái lại, nếu chủ đầu tư bỏ ra tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái khoán… nhằm hưởng lợi tức, mà không trực tiếp quản lý tài sản của mình thì gọi là đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính. Thời gian đầu tư thường là ngắn hạn. Sự phân biệt giữa hai hình thức đầu tư nói trên có tính tương đối. Bởi vì, ngày nay do sự phát triển của thị trường tài chính nên tài sản của nhiều doanh nghiệp không phải chỉ thuộc sở hữu của một người mà thuộc về nhiều người. Vì thế, nếu người nào có giá trị cổ phiếu nhưng lại có tỷ phần cao hơn nhiều so với các cổ đông khác thì người đó có quyền được tham gia quản lý trực tiếp doanh nghiệp. Khi đó, họ từ những người đầu tư gián tiếp chuyển sang đầu tư trực tiếp. Ngược lại, những người đang trực tiếp quản lý tài sản của mình tại doanh nghiệp, nhưng khi bị người khác mua lại để mở rộng đầu tư với số vốn áp đảo làm cho giá trị tài sản của họ không đủ tỷ phần tham gia quản lý trực tiếp thì khi đó họ lại trở thành người đầu tư gián tiếp. Thực tế cho thấy, các hình thức đầu tư này luôn chuyển hóa, đan xen lẫn nhau và trong nhiều trường hợp rất khó phân biệt một cách rạch ròi giữa chúng. Trên cơ sở hiểu được khái niệm cơ bản về đầu tư và hình thức biểu hiện của nó, chúng ta tiếp tục xem xét thế nào là đầu tư quốc tế, và những đặc điểm riêng của nó. Cho đến nay, mặc dù có không ít khái niệm khác nhau về đầu tư quốc tế, nhưng khái niệm được nhiều người thừa nhận đó là " Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu". Nước nhận đầu tư được gọi là nước chủ nhà, nước đầu tư gọi là nước đầu tư. Như vậy, qua định nghĩa cho thấy bản chất của đầu tư quốc tế là đầu tư, tức là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ đầu tư. Bởi thế đầu tư quốc tế mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung. Tuy nhiên, nó có thêm một số đặc điểm riêng quan trọng khác so với đầu tư nội đia: - Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài. Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán…Nói chung, đây là yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước ngoài. - Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới. Đặc điểm này có liên quan chủ yếu đến các khía cạnh chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí vận chuyển. - Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ. Đặc điểm này có liên quan đến vấn đề tỷ giá hối đoái và các chính sách tài chính - tiền tệ của các nước tham gia đầu tư. Khi quyết định đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư phải xem xét rất kỹ các đặc điểm nói trên và chính từ các đặc điểm khác biệt này thường làm nảy sinh nhiều vấn đề cho các nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư ở nước ngoài. b. Đầu tư quốc tế và các nguồn vốn nước ngoài khác Cùng với đầu tư quốc tế, còn có một số dòng lưu chuyển vốn khác giữa các nước như viện trợ phát triển chính thức (ODA), tín dụng thương mại, vay nợ, dịch vụ…Các nguồn vốn này ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, của các nước và đặc biệt là đối với việc thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển. Viện trợ phát triển chính thức là tất cả các khoản trợ giúp không hoàn lại và có hoàn lại với lãi suất ưu đãi thấp, thời gian trả nợ dài của chính phủ, các tổ chức của Liên hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho chính phủ và nhân dân các nước nhận viện trợ. Mặc dù nguồn vốn viện trợ có mục đích giúp đỡ, không thu lợi nhuận như đầu tư quốc tế, nhưng nó thường đi kèm theo một số điều kiện nhất định đối với những nước nhận viện trợ và có thể gây ra những gánh nặng nợ nần cho các nước này. Tuy nhiên, nguồn vốn này lại có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của các nước nhận viện trợ. Thông thường, nguồn vốn ODA được sử dụng như những biện pháp cần thiết hỗ trơ thúc đẩy đầu tư quốc tế ở các nước nhận viện trợ thông qua các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, xúc tiến đầu tư và các trợ giúp kỹ thuật khác. Mặ khác, chiến lược đầu tư của các nước phát triển vào các nước đang phát triển là cơ sở quan trọng thúc đẩy các nhà tài trợ cung cấp viện trợ cho nước đang phát triển. Bởi thế, giữa nguồn vốn ODA và đầu tư quốc tế có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và nguồn vốn này có vai trò to lớn trong thúc đẩy đầu tư quốc tế vào các nước đang phát triển. Tín dụng thương mại là các khoản tiền vay với lãi suất mềm từ các nước phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế để trợ giúp các hoạt động xuất nhập khẩu của các nước đang phát triển và các bạn hàng của các nước này. Nguồn vốn này thường tác động trực tiếp đến thúc đẩy thương mại. Tuy nhiên, các hoạt động đầu tư thường đi kèm với các hoạt động thương mại, nên nguồn vốn này cũng tác động hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động đầu tư quốc tế. Các khoản tiền vay giữa các nước, trong đó nhất là nợ tư nhân cũng là nguồn lưu chuyển vốn quốc tế quan trọng. Thông qua hệ thống ngân hàng, các chính phủ và công ty ở các nước vay tiền lẫn nhau để bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán, trả lãi suất vay đến kỳ hạn thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất… Nguồn vốn này không những thúc đẩy đầu tư quốc tế, mà còn gián tiếp góp phần quan trọng làm ổn định tình hình kinh tế vĩ mô ở nước nhận đầu tư có mức thâm hụt cán cân, nhờ đó, góp phần tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. c. Đầu tư quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế Nền kinh tế thế giới được hình thành và phát triển thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó trước hết là thương mại quốc tế. Chính nhờ thương mại quốc tế mà các yếu tố sản xuất có tính lợi thế so sánh giữa các nước được khai thác có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, hình thức quan  hệ kinh tế quốc tế này cũng có những hạn chế của nó, trong đó nhất là chưa khai thác một cách trực tiếp tiềm năng về lợi thế của các yếu tố đầu tư ở các nước. Hơn nữa, thương mại quốc tế còn bị ngáng trở bởi hàng rào thuế quan ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước đang phát triển. Bởi vậy, hình thức đầu tư quốc tế đã ra đời từ nhu cầu vượt qua những hạn chế và ngáng trở này. Đầu tư và thương mại là các khâu của quá trình tái sản xuất. Thương mại hoạt động trong khâu lưu thông, còn đầu tư hoạt động trong khâu sản xuất. Chúng là các khâu nối tiếp nhau trong một quá trình tái sản xuất. Ở phạm vi ngoài quốc gia, các hoạt động này có mối quan hệ bổ sung hơn là thay thế lẫn nhau. Bởi thế, khi xem xét các hoạt động đầu tư quốc tế thì không thể không đặt trong mối quan hệ với thương mại quốc tế. Đặc điểm này càng được biểu hiện rõ khi xem xét tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ở các nước đang phát triển. Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay, rất khó tách bạch giữa chức năng của các nhà đầu tư và nhà xuất nhập khẩu. Thông thường, các nhà đầu tư đồng thời cũng là các nhà xuất nhập khẩu và phần lớn các nhà xuất nhập khẩu đều có liên quan trực tiếp đến các hoạt động đầu tư thông qua các mô hình công ty thương mại tổng hợp. Do đó, việc tách đầu tư ra khỏi thương mại để nghiên cứu có ý nghĩa ở trạng thái tĩnh với mục đích làm rõ bản chất của đầu tư. Còn trong thế giới hiện thực, ở trạng thái động, muốn hiểu rõ được các hoạt động đầu tư thì cần phải xem xét trong mối quan hệ với thương mại và các hoạt động kinh tế quốc tế khác. Cũng như quan hệ với thương mại quốc tế, các hoạt động đầu tư không thể tách rời với các định chế tài chính và thị trường vốn quốc tế. Mỗi sự thay đổi định chế về quản lý ngoại  hối, lãi suất… của các nước. đặc biệt ở các nước đang phát triển, sẽ ảnh hưởng đến động thái dòng vốn đầu tư quốc tế. Chẳng hạn, cuối thập kỷ 80, Nhật Bản và các nước phát triển tăng giá đồng bản tệ và nới lỏng các chính sách quản lý thị trường vốn của họ đã thúc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của các nước này. Mặt khác, thông qua thị trường tài chính quốc tế mà các chủ đầu tư huy động được vốn đầu tư và nhận biết được tín hiệu của thị trường để quyết định đầu tư. Đặc điểm này được biểu hiện rất rõ trước tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực. Đầu tư quốc tế có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động dịch vụ quốc tế thu ngoại tệ. Cũng giống như thương mại quốc tế, các hoạt động đầu tư luôn đòi hỏi phải có các dịch vụ hỗ trỡ, trong đó nổi bật nhất là các dịch vụ về ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, viễn thông, điện nước, cung ứng lao động.. Nhờ có sự phát triển của các dịch vụ này mà quá trình đầu tư được tiến hành thông suốt. Ngược lại, đầu tư quốc tế luôn tạo cầu cho sự ra đời và phát triển của các hoạt động dịch vụ. Chất lượng dịch vụ là yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với thúc đẩy phát triển của đầu tư quốc tế. Điều này được phản ánh rất rõ tại sao đầu tư quốc tế chỉ hình thành và phát triển khi lực lượng sản xuất của nền kinh tế thế giới phải phát triển đến một trình độ phát triển nhất định và nó hình thành muộn hơn thương mại quốc tế. Đầu tư quốc tế là xuất khẩu trực tiếp các yếu tố sản xuất, trong khi thương mại quốc tế chỉ xuất khẩu gián tiếp các yếu tố này. Bởi vậy sự phát triển đầu tư quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và chất lượng dịch vụ đi kèm. Như vậy, trên đây chúng ta có thể nhận thấy được một cách rõ ràng là đầu tư quốc tế có mối quan hệ rất chặt chẽ với các hình thức quan hệ kinh tế quốc tế khác và mối quan hệ giữa chúng có tính chất bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau.           4.1.2. Đặc điểm của đầu tư quốc tế           4.1.3. Các xu hướng vận động của đầu tư quốc tế hiện nay a. Nguồn gốc và lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế * Động thái dòng đầu tư FDI Từ cuối thế kỷ XIX đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Anh và một số nước tư bản phát triển khác mở rộng hệ thống thuộc địa của họ ở các nước đang phát triển. Các chính sách khai thác thuộc địa của các nước này đã thúc đẩy các công ty của họ mở rộng đầu tư vào các nước thuộc địa. Từ thời gian này, hình thức FDI được hình thành chủ yếu nhằm khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên dồi dào và giá nhân công rẻ ở các nước thuộc địa. Có thể nói rằng, mặc dù sự hình thành FDI không có quan hệ trực tiếp đến việc mở rộng hệ thống thuộc địa của các nước, nhưng cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, sự phát triển của FDI luôn gắn liền với các chính sách khai thác thuộc địa của các nước. Trong giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, nguồn gốc của đầu tư quốc tế không còn tập trung từ các nước tư bản Châu Âu, mà bắt đầu có sự tham gia đáng kể của mỹ và Nhật Bản. Trong giai đoạn này, dòng vốn đầu tư quốc tế chủ yếu dưới hình thức FDI và bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc phân chia thuộc địa giữa các nước đế quốc. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, chương trình phục hồi kinh tế  Châu Âu và Nhật Bản của Mỹ đã thúc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của nước này. Đến cuối thập kỷ 60, dòng vốn đầu tư quốc tế vẫn chủ yếu lưu chuyển giữa các nước tư bản phát triển, dưới hình thức FDI và tập trung vào khu vực chế tạo. Từ cuối thập kỷ 70 đến giữa những năm 80, dòng vốn FDI có sự biến động không ổn định và ở mức bình quân khoảng 50 tỷ USD. Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90, dòng vốn này tăng mạnh trong các nước phát triển và đang phát triển. Tổng dòng vốn FDI trên thế giới đạt khoảng 400 tỷ USD vào năm 1997. Tuy nhiên, tỷ trọng FDI trong tổng dòng lưu chuyển này vào các nước đang phát triển đã tăng dần lên và chiếm khoảng 30% trong những năm gần đây. Trong các nước phát triển, dòng vốn FDI tập trung chủ yếu vào khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ. Các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á và Châu mỹ latinh chiếm phần lớn tổng dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển, trong đó, đặc biệt là các nước NICs Châu Á.. Cũng từ giữa thập kỷ 80 lại đây, một đặc điểm nổi bật trong dòng lưu chuyển FDI trên thế giới là xuất hiện ngày càng tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển, trong đó nổi bật là từ các nước mới công nghiệp hóa NICs. Theo báo cáo đầu tư quốc tế năm 1998 cho thấy, nếu trong các năm 1986 - 1991 FDI ra nước ngoài của các nước đang phát triển chỉ ở mức bình quân 11.131 triệu USD thì đến những năm đầu thập kỷ 90 dòng vốn này đã tăng nhanh chóng đạt tới mức 61.138 triệu USD vào năm 1997. Như vậy, qua các số liệu thống kê cho thấy động thái FDI tuy có biến động không ổn định nhưng có xu hướng gia tăng nhanh, đặc biệt là từ cuối thập kỷ 80. Hiện tượng này phản ánh rõ tác động tích cực của những sự thay đổi trong môi trường đầu tư quốc tế trong từ thời gian này. * Động thái của dòng đầu tư PFI Có thể nói, đầu tư quốc tế bắt đầu được hình thành từ nước Anh vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Do nhu cầu vốn lớn của cuộc cách mạng công nghiệp, nước Anh đã phát hành các trái phiếu chính phủ để huy động vốn từ các nước phát triển Tây Âu. Bởi thế, hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế. Mặc dù có lịch sử hình thành sớm hơn hình thức FDI, nhưng hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp chỉ thực sự phát triển từ đầu thập kỷ 90 và tập trung vào các thị trường mới nổi. Nếu năm 1986 dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các nước này khoảng 706 triệu USD thì đến năm 1990 đạt 3.390 triệu USD và năm 1995 lên đến 34.537 triệu USD, tính bình quân giai đoạn 1986 - 1995, dòng vốn này vào các nước có thị trường mới nổi khoảng 15.253 triệu USD/năm. Dòng vốn đầu tư gián tiếp tập trung nhiều vào hai khu vực là Châu Á và Châu Mỹ latinh. Giữa các năm 1992 - 1993, dòng vốn này đã tăng 560% vào Châu Á và 230% vào Châu Mỹ latinh. Nhưng sau đó, động thái của nó biến động thất thường, giảm 2% vào năm 1994 và tăng 4% năm 1995 ở Châu Á, trong khi đó dòng vốn này liên tục giảm khoảng 50% ở Châu Mỹ latinh vào các năm tương ứng. Dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Châu Phi không đáng kể. b. Các xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay Cho tới nay, đầu tư quốc tế đã trải qua nhiều xu hướng phát triển: đầu tư truyền thống (các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính một chiều); đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển và đầu tư vào các nước đang phát triển của các nước phát triển. Xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay là sự đan xen giữa các xu hướng này. Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triển ngày càng gia tăng. Hiện tượng này phản ánh tốc độ hòa nhập nhanh chóng của các nước đang phát triển vào quá trình toàn cầu hóa. Một đặc điểm nổi bật khác là xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới. Hơn một thập kỷ qua, các qui chế về FDI của các nước có sự thay đổi nhanh chóng, từ bảo hộ đến giới hạn hoặc kiểm soát và gần đây chuyển sang thúc đẩy theo chiều hướng tự do hóa FDI ở phạm vi khu vực và từng nhóm nước. Xu hướng đầu tư theo hình thức M&A tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo báo cáo đầu tư quốc tế năm 1998, tổng giá trị các vụ mua lại và sáp nhập giữa các nước này lên tới 342 tỷ USD, chiếm 70% tổng giá trị các vụ mua lại và sáp nhập giữa các TNCs của các nước trên thế giới. Hình thức M&A diễn ra phổ biến trong các TNCs lớn ở các ngành công nghiệp ôtô, dược phẩm, viễn thông và tài chính. 600 4.2. Các lý thuyết về đầu tư quốc tế Tại sao xuất hiện dòng đầu tư quốc tế? Theo Ủy ban thương mại  và phát triển của Liên hiệp quốc UNCTAD, căn cứ vào mục đích của đầu tư, chia đầu tư quốc tế thành các hình thức sau: 1. Đầu tư tìm kiếm nguồn tài nguyên Đây là hình thức đầu tư nguyên thủy của các công ty xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển. Hình thức này có tác dụng thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất  từ nước đầu tư đến nước nhận đầu tư và xuất khẩu thành phẩm/bán thành phẩm từ nước nhận đầu tư ra nước ngoài. 2. Đầu tư tìm kiếm thị trường Là hình thức đầu tư sản xuất cùng loại sản phẩm với nước đầu tư và tiêu thụ sản phẩm tại nước nhận đầu tư, được gọi là đầu tư theo chiều ngang. Hình thức này là động cơ chính đối với hoạt động đầu tư vào lĩnh vực sản xuất của các nước đang phát triển trong các thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ XX. Đây là thời kỳ thịnh vượng của công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu ở các nền kinh tế mới công nghiệp hóa. Hình thức này xuất hiện do các các rào cản thương mại và chi phí vận chuyển cao. 3. Đầu tư tìm kiếm hiệu quả Là hình thức trong đó nhà đầu tư phân bổ một số công đoạn sản xuất ở nước ngoài để tận dụng chi phí thấp nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất. Hình thức này được gọi là đầu tư theo chiều dọc, chủ yếu áp dụng cho các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu. Hình thức cổ điển nhất của nó là đầu tư sang các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm các nguồn lao động chi phí thấp. 4. Đầu tư tìm kiếm tài sản chiến lược Là hình thức xuất hiện ở giai đoạn cao của toàn cầu hóa sản xuất, khi các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng hợp tác nghiên cứu và triển khai (R&D) 4.2.1. Lý thuyết vĩ mô -  Mô hình MacDougall – Kemp Trên cơ sở mô hình lý thuyết thương mại quốc tế H – O, Richard S Eckaus đã loại bỏ giả định không có sự di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, công nghệ...) giữa các nước để mở rộng phân tích nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế. Theo tác giả, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện dòng di chuyển vốn đầu tư quốc tế. Richard cho rằng, nước đầu tư thường có hiệu quả sử dụng vốn thấp (thừa vốn), trong khi nước nhận đầu tư lại có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn (thiếu vốn). Vì vậy, chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn giữa các nước đã làm xuất hiện lưu chuyển dòng vốn đầu tư giữa các nước. Cùng với quan điểm trên, A MacDougall đã giải thích hiện tương đầu tư quốc tế từ phân tích so sánh giữa chi phí và lợi ích của việc di chuyển vốn quốc tế. Tác giả cho rằng, chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước là nguyên nhân dẫn đến lưu chuyển vốn quốc tế. Quan điểm này được M Kemp phát triển thành mô hình MacDougall – Kemp. Theo đó, những nước phát triển (dư thừa vốn) có năng suất cận biên của vốn thấp (Marginal productivity of capital) hơn năng suất cận biên của vốn ở các nước đang phát triển. Vì thế xuất hiện dòng lưu chuyển vốn giữa hai nhóm nước này. Hình 4.1 Lợi ích kinh tế của di chuyển tư bản quốc tế Lợi ích kinh tế của việc di chuyển vốn quốc tế có thể được minh họa qua hình 4.1. Giả định ta xét một thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia (Quốc gia 1 và Quốc gia 2). Tổng số vốn đầu tư vào sản xuất  của hai quốc gia là OO’, trong đó lượng vốn đầu tư vào Quốc gia 1 là OA, Quốc gia 2 là O’A. Đầu tư vốn sẽ kéo theo đầu tư các yếu tố khác (lao động, đất đai...) và tạo ra giá trị sản phẩm. Đường VMPK1, VMPK2 là đường biểu diễn giá trị sản phẩm  biên tăng thêm của vốn đầu tư tại quốc gia 1 và quốc gia 2. Xét riêng từng quốc gia ta có kết quả như sau: Quốc gia 1: Lượng vốn đầu tư là OA với giá vốn (lợi tức của vốn) là OC. Tổng sản phẩm nội địa trên cơ sở lượng vốn ban đầu OA là diện tích tứ giác OFGA. Trong đó: + Diện tích hình chữ nhật OCGA là chi phí về vốn + Diện tích CFG là chi phí các yếu tố phối hợp khác Quốc gia 2: Lượng vốn đầu tư là O’A với giá vốn (lợi tức của vốn) là O’H. Tổng sản phẩm nội địa trên cơ sở vốn đầu tư O’A là diện tích tứ giác O’JMA, trong đó: + Diện tích hình chữ nhật O’AMH là chi phí về vốn + Diện tích tam giác MHJ là chi phí các yếu tố phối hợp khác Giả thiết cho thấy lượng vốn OA của quốc gia 1 lớn hơn lượng vốn O’A của quốc gia 2; có nghĩa là so với quốc gia 2, quốc gia 1 dư thừa vốn, ngược lại quốc gia 2 là quốc gia khan hiếm vốn nên giá vốn của quốc gia 1 thấp hơn giá vốn của quốc gia 2. Giả sử vốn được di chuyển tự do thì lượng vốn của quốc gia 1 sẽ dịch chuyển sang quốc gia 2 là AB và chính sự di chuyển vốn từ quốc gia 1 sang quốc gia 2 làm cho giá vốn tại hai quốc gia không còn chênh lệch và cân bằng tại điểm E. Khi đó tại hai quốc gia sẽ xảy ra những biến động sau: - Tại quốc gia 1: Do cắt giảm một lượng vốn AB nên tổng sản phẩm nội địa giảm đi bằng diện tích hình tứ giác ABEG; giá vốn OC tăng lên đến ON. Quốc gia 1 nhận được nguồn lợi đầu tư từ quốc gia 2 là diện tích hình chữ nhật ABER. So với tổng sản phẩm nội địa giảm đi thì lượng tăng thuần tổng sản phẩm của quốc gia 1 là diện tích hình tam giác  ERG. Diện tích tam giác ERG biểu hiện GNP của quốc gia 1 tăng lên phản ánh lợi ích kinh tế của việc di chuyển vốn tại quốc gia 1 – quốc gia đi đầu tư. - Tại quốc gia 2: Do tiếp nhận một lượng vốn đầu tư từ quốc gia 1 là AB làm cho tổng sản phẩm quốc nội tăng bằng diện tích hình tứ giác ABEM. Giá vốn giảm xuống còn OT. Do sử dụng vốn của quốc gia 1 nên quốc gia 2 phải cắt trả quốc gia 1  phần lợi tức của vốn là diện tích hình chữ nhật ABER. Lợi ích kinh tế của quốc gia 2 - quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư là phần tăng thuần tổng sản phẩm quốc nội bằng diện tích tam giác EMR. Từ sự phân tích biểu đồ 4.1 cho phép chúng ta kết luận: nếu giả thuyết thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia; có quốc gia dư thừa, quốc gia khan hiếm vốn thì hiệu quả kinh tế của di chuyển vốn giữa hai quốc gia là diện tích hình tam giác EMG. Như vậy, sự di chuyển vốn quốc tế đã nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 4.2.2. Các lý thuyết vi mô Hầu hết các lý thuyết kinh tế vi mô về đầu tư quốc tế đều xoay quanh trả lời câu hỏi là tại sao các công ty lại đầu tư ra nước ngoài? Vì thế thực chất của các lý thuyết này là những giải thích khác nhau về nguyên nhân hình thành các TNCs và đánh giá tác động của chúng đối với nước nhận đầu tư, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển. Các lý thuyết tổ chức công nghiệp ra đời từ giữa thập niên 60 đã giải thích đầu tư quốc tế như là kết quả tự nhiên của sự tăng trưởng và phát triển của các công ty lớn độc quyền ở Mỹ. Trong đó nổi bật là mô hình lý thuyết của Stephen Hymer. Theo tác giả, do kết cấu của thị trường độc quyền đã thúc đẩy các công ty của Mỹ mở rộng ra thị trường quốc tế để khai thác lợi thế độc quyền nhằm khai thác các lợi thế của mình về công nghệ, kỹ thuật quản lý.... mà các công ty trong cùng ngành ở nước tiếp nhận đầu tư không có được. Charles Kindleberger và Richard Caves cũng cho rằng những sản phẩm mới thường có xu hướng độc quyền và có giá thành hạ. Vì thế, các công ty có sản phẩm mới tích cực mở rộng phạm vi sản xuất của mình ra thị trường quốc tế để khai thác lợi thế độc quyền nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Như vậy, theo lý thuyết  tổ chức công nghiệp, nguyên nhân hình thành FDI là do sự mở rộng thị trường ra nước ngoài của các công ty lớn nhằm khai thác lợi thế độc quyền. Một cách tiếp cận khác của Robert Aliber đã giải thích hiện tượng FDI trên cơ sở phân tích nguyên nhân đầu tư ra quốc tế của các công ty độc quyền từ hàng rào thuế quan và quy mô thị trường. Theo lý thuyết này, vì thuế quan làm tăng giá nhập khẩu nên các công ty phải di chuyển sản xuất ra quốc tế để giảm chi phí giá thành. Mặt khác, do hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào quy mô của thị trường nên các công ty độc quyền không ngừng mở rộng thị trường ra quốc tế. Tuy nhiên, việc quyết định khai thác lợi thế độc quyền của công ty để sản xuất hàng xuất khẩu  hay cho các công ty quốc tế thuê (giấy phép sản xuất, bí quyết công nghệ...) hoặc trực tiếp khai thác những lợi thế này (FDI) ở quốc tế còn phụ thuộc vào so sánh hiệu quả khai thác những lợi thế độc quyền. Hình 4.2 Chi phí sản xuất trung bình ở nước nhận đầu tư Q Hình trên cho thấy OQ là sản lượng được tạo ra từ công ty của nước đầu tư và OP là giá cả của các sản phẩm đó. Hàm C là chi phí trung bình trên đơn vị sản phẩm phát sinh do đầu tư ở nước ngoài. Hàm ACD là chi phí sản xuất trung bình của công ty nước đầu tư (Không kể ở trong hoặc ngoài nước). Hàm ACF là tổng chi phí sản xuất  của công ty của nước đầu tư kinh doanh ở nước ngoài và bằng tổng của C + ACD. Đường MM là hàm giá nhập khẩu sau thuế. Nếu sản lượng ở nước chủ nhà nhỏ hơn OA, công ty sẽ khai thác lợi thế độc quyền để sản xuất  hàng xuất khẩu. Nếu sản lượng lớn hơn OA và nhỏ hơn OC công ty sẽ cho thuê lợi thế độc quyền. Nếu sản lượng lớn hơn OC, công ty sẽ trực tiếp khai thác lợi thế độc quyền ở nước ngoài và chỉ trong trường hợp này mới xuất hiện FDI. Theo cách giải thích trên cho thấy, sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các nước là nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế. Như vậy, về bản chất, các quan điểm lý thuyết này cũng dựa vào mô hình phân tích lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế để giải thích hiện tượng di chuyển vốn giữa các nước. Tuy nhiên, khác với cách giải thích của các quan điểm kinh tế vĩ mô, cách giải thích này đã tiếp cận cụ thể với các yếu tố quyết định TNCs đầu tư ra nước ngoài, vì thế có sức thuyết phục hơn. Theo cách tiếp cận từ chu kỳ sản phẩm, Vernon đã lý giải hiện tượng FDI trên cơ sở phân tích  các giai đoạn phát triển của sản phẩm từ đổi mới đến tăng trưởng, đạt mức bão hòa và bước vào giai đoạn suy thoái. Theo tác giả, giai đoạn đổi mới chỉ diễn ra ở những nước phát triển như Mỹ, vì ở đó mới có điều kiện để nghiên cứu và phát triển và có khả năng triển khai sản xuất với khối lượng lớn. Đồng thời, cũng chỉ ở những nước này thì kỹ thuật sản xuất tiên tiến với đặc trưng sử dụng nhiều vốn mới phát huy được hiệu quả sử dụng cao. Do vậy, sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt với giá thành hạ và đã nhanh chóng đạt tới điểm bão hòa. Để tránh lâm vào suy thoái và khai thác hiệu quả sản xuất theo quy mô, công ty phải mở rộng thị trường tiêu thụ ra quốc tế, nhưng các hoạt động xuất khẩu gặp trở ngại bởi hàng rào thuế quan và cước phí vận chuyển. Vì thế, công ty di chuyển sản xuất ra quốc tế để vượt qua những trở ngại này. Như vậy, theo cách giải thích của Vernon thì FDI là kết quả tự nhiên từ quá trình phát triển của sản phẩm theo chu kỳ. Phát triển lý thuyết chu kỳ sản phẩm, Akamatsu đã xây dựng lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp để giải thích nguyên nhân của FDI. Theo lý thuyết này, sản phẩm mới được phát minh và ra đời ở nước đầu tư, sau đó được xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tại nước nhập khẩu, do ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu thị trường nội địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển hướng sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn và công nghệ quốc tế. Đến khi nhu cầu thị trường của sản phẩm sản xuất ở trong nước đạt tới mức bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và cứ theo chu kỳ như vậy mà dẫn đến hình thành FDI. Theo lý thuyết trên, chu kỳ của sản phẩm được bắt đầu từ nhập khẩu sản phẩm mới với chất lượng tốt hơn. Sau đó, những sản phẩm này làm cho nhu cầu nội địa tăng lên và dẫn đến quy mô thị trường được mở rộng. Vì thế, đã xuất hiện nhu cầu sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu với sự trợ giúp về kỹ thuật và tiền vốn của các nước phát triển. Thông qua con đường trên, nước nhập khẩu học được kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cải tiến kỹ thuật... và mở rộng sản xuất. Nhờ đó, đã đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Do đó làm xuất hiện nhu cầu xuất khẩu. Như vậy, lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp đã giải thích FDI qua quá trình phát triển liên tục của sản phẩm đi từ nhập khẩu đến sản xuất nội địa và chuyển sang xuất khẩu. 524 4.3. Các hình thức đầu tư quốc tế           4.3.1. Các hình thức cơ bản của đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế cũng được biểu hiện qua hai hình thức cơ bản: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) - Đầu tư nước ngoài gián tiếp (PFI - Porfolio Foreign Investment) Về cơ bản, đặc điểm của hai hình thức này cũng giống như hai hình thức của đầu tư nói chung. Tuy nhiên, khác với hình thưc đầu tư PFI và các nguồn vốn nước ngoài, hình thức FDI không chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lưới phân phối rộng lớn trên phạm vi toàn cầu. Vì thế, đối với các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển thì hình thức đầu tư này tỏ ra có nhiều ưu thế hơn. FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: - Đầu tư mới (greenfield investment - GI) - Mua lại và sáp nhập ( Mergers and Acquisitions _ M&A) Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển vào đầu tư ở các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này chủ yếu thực hiện ở các nước phát triển và các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI vẫn chủ yếu được thực hiện theo kênh GI. Kiểu đầu tư này có vai trò rất quan trọng đối với quá trình tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nếu chỉ thu hút FDI theo kênh GI thì không thể đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào nước ta. Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân thành hai loại: - Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal integration) - Đầu tư theo chiều dọc (Vertical integration) Hình thức đầu tư HI là chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý…) trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó. Với lợi thế này, họ có thể kiếm được lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài. Mục đích chính của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền. Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Mỹ và được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển. Khác với hình thức HI, hình thức VI là đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai…). Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế. Do đó, các sản phẩm thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở nước nhận đầu tư. Sau đó, các sản phẩm này có thể lại được nhập về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang các nước khác. Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Nhật Bản và được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển. Xét về tính chất sở hữu (tỷ lệ sở hữu của nước ngoài trong các dự án đầu tư), hình thức FDI thường được thực hiện dưới các dạng như: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, BOT (Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao)… Hình thức FDI chủ yếu được thực hiện từ khu vực tư nhân và do các TNCs thực hiện. Ở Việt Nam luật đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư theo các hình thức này. Hình thức doanh nghiệp liên doanh thường khá phổ biến, nhất là giai đoạn đầu tiếp nhận FDI ở các nước đang phát triển. Nguyên nhân chính là: Khác với các hình thức đầu tư khác, thông qua hình thức này, nước nhận đầu tư sẽ kiểm soát và học được trực tiếp kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thới họ còn được chia sẻ lợi nhuận với các chủ đầu tư nước ngoài. Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài cũng muốn bên nhận đầu tư có trách nhiệm cao hơn với họ bằng cách chia sẻ những rủi ro trong đầu tư. Ngoài ra, thông qua liên doanh họ có nhiều thuận lợi trong tiếp cận thị trường và các nhà hoạch định chính sách của nước nhận đầu tư. Chính vì thế mà hình thức liên doanh thường chiếm tỷ trọng cao trong các hình thức đầu tư ở nước chủ nhà. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, hình thức liên doanh không phải luôn có những ưu điểm. Trong một số trường hợp, nếu khả năng góp vốn của bên đối tác nước chủ nhà thấp, chủ yếu bằng tiền thuê đất, năng lực quản lý hạn chế, tình trạng tham nhũng ít được kiểm soát chặt chẽ thì hình thức liên doanh lại bộc lộ nhiều hạn chế, kém hiệu quả. Đây là hiện tượng khá phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây. Vì thế, cần phải xem xét kỹ lưỡng tính hiệu quả của dự án trước khi lựa chọn hoặc cho phép hình thức liên doanh. 4.3.2. Các đặc trưng chủ yếu của các hình thức FDI Như chúng ta đã biết, do FDI có nhiều ưu điểm so với PFI và các nguồn vốn nước ngoài khác nên dòng vốn FDI đã chiếm vị trí quan trọng ở nhiều nước. Các hình thức phổ biến của FDI là : Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, BOT và các biến thể của nó. Dưới đây là những đặc trưng chủ yếu của từng hình thức đầu tư này. * Hợp đồng hợp tác kinh doanh Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh) qui định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà mà không thành lập pháp nhân. Hình thức này có các đặc trưng sau: - Các bên cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng - Không thành lập pháp nhân mới - Mỗi bên làm nghĩa vụ tài chính đối với nước chủ nhà theo những quy định riêng Hình thức này khá phổ biến ở các nước đang phát triển và cũng được áp dụng ở nước ta. * Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa bên hoặc các bên chủ nhà với bên hoặc các bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà. Hình thức này có các đặc trưng: - Dạng công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà - Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình vào vốn pháp định. Hình thức liên doanh có nhiều ưu điểm hơn các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài khác. * Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Hình thức này có các đặc trưng: - Dạng công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà - Sở hữu hoàn toàn của nước ngoài - Chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh * BOT và các dạng thức khác Trong những năm gần đây, do nhu cầu cần đa dạng hóa các hình thức đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều nước đã áp dụng hình thức BOT và các dạng thức của nó để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp, khai thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định (thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý), sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà. Đặc trưng quan trọng của hình thức này là: - Cơ sở pháp lý là hợp đồng - Vốn đầu tư của nước ngoài - Hoạt động dưới hình thức là các doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài - Chuyển giao không bồi hoàn cho nước chủ nhà - Đối tượng là các công trình cơ sở hạ tầng Hình thức BOT ra đời vào năm 1987, do ba nước Úc, Anh và Mỹ ký kết hợp đồng giúp Thổ Nhĩ Kỳ xây dựng nhà máy điện nguyên tử nhằm giải quyết vấn đề năng lượng, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế của nước này. Ở Việt Nam, dự án BOT đầu tiên được cấp phép 3/1995 là hợp đồng triển khai nhà máy nước Bình An được ký kết giữa UBND Tp Hồ Chí Minh ký với tập đoàn Emas Utilities Sadec Malaysia với công suất 100.000 m3/ngày. Tập đoàn malaysia đầu tư 100% vốn (30 triệu USD), sau 25 hoạt động toàn bộ nhà máy sẽ chuyển giao cho Việt Nam với giá tượng trưng 1 USD. Các dạng thức khác của BOT là: - Hợp đồng xây dựng - chuyển giao -kinh doanh (BTO) được hình thành tương tự như BOT, nhưng sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài giao lại cho nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. - Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) được hình thành cũng tương tự như BOT, nhưng sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài bàn giao lại công trình cho nước chủ nhà, chính phủ nước chủ nhà trả cho nhà đầu tư nước ngoài chi phí liên quan tới công trình và một tỷ lệ thu nhập hợp lý.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXu hướng vận động của đầu tư quốc tế.doc