Thực trạng quản lý rừng tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

+ Tăng cường hoạt động khuyến nông, khuyến lâm: Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cần hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cụ thể: Có tổ chức khuyến nông, khuyến lâm đủ năng lực hoạt động thường xuyên tại các thôn để hướng dẫn đồng bào kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây trồng, vật nuôi mới, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng, vật nuôi. Ngoài việc phổ biến, chuyển giao kỹ thuật công nghệ, cần chú ý các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế cho các hộ gia đình, cung cấp thông tin về thị trường giá cả để cho các hộ có quyết định chính xác trong sản xuất kinh doanh.

pdf7 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 119 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng quản lý rừng tại huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN Phương Hữu Khiêm1,*, Đỗ Anh Tài1, Trần Văn Nguyện2, Đinh Hồng Linh2, Nguyễn Đắc Dũng2 1Đại học Thái Nguyên, 2Trường ĐH Kinh tế & QTKD-ĐHTN TÓM TẮT Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, căn cứ địa cách mạng năm xưa, nơi mà diện tích rừng được đánh giá là nhiều nhất tỉnh Thái Nguyên, đất lâm nghiệp có rừng của huyện là 27.438ha; Hiện nay toàn bộ đất rừng cơ bản đã có chủ, được huyện, tỉnh giao. Đặc biệt là giao tới hộ đạt 22.850ha/39.061ha, giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng được 10.059ha/39.061ha; giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ được 2.064ha/39.061ha; còn lại UBND xã tự quản được 4.088ha/39.061ha, tỷ trọng giao đến hộ gia đình đạt gần 60%. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân nơi đây, hàng năm việc khai thác các sản phẩm từ rừng góp phần khá lớn vào thu nhập của nhân dân, những lâm sản hàng đầu là gỗ, củi,..và các lâm sản phụ khác. Tuy nhiên việc quản lý rừng của địa phương vẫn còn những tồn tại, bất cập, tỷ lệ đói nghèo cao. Vì vậy bài viết này nhằm đi sâu phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng cho mục tiêu bảo tồn cũng như sinh kế của người dân. Từ khóa: Bền vững, Định Hóa, Lâm sản, Quản lý rừng, Thực trạng. ĐẶT VẤN ĐỀ* Với trên 70% tổng diện tích tự nhiên và là nơi cư trú của ít nhất 1/3 dân số toàn quốc gia, vùng rừng núi Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, nơi đã và đang thuộc diện quan tâm của chính phủ Việt Nam. Đây cũng là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số với nguồn lợi và sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên trong đó chủ yếu là tài nguyên rừng và đất rừng. Định Hóa là một huyện miền núi nằm về phía Tây-Bắc của tỉnh Thái Nguyên, với dân số năm 2010 là 87.722 người, tổng diện tích đất tự nhiên là 51.351 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 27.438 ha chiếm 53,68%, diện tích đất nông nghiệp chiếm một phần nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện (21%). Tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp đã và đang là nguồn sống quan trọng của người dân trong huyện do bởi diện tích đất nông nghiệp hạn chế. Do vậy hiểu được thực trạng quản lý rừng t ại huyện Định Hóa và đánh giá được những mặt tích cực và tồn tại, yếu kém trong công tác * Tel: 0945855085; Email: phuonghuukhiem@gmail.com quản lý, là cơ sở khoa học đối với việc phát triển các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp cho mục tiêu bảo tồn cũng như sinh kế của người dân. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỪNG TẠI ĐỊNH HOÁ Huyện Định Hóa có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, trong tổng số diện tích đất tự nhiên của huyện, thì đất lâm nghiệp có rừng là 27.438ha tương đương 53,68% tổng diện tích; đất nông nghiệp bằng 2/5 của đất lâm nghiệp (20,79% hay 10.625ha). Ngoài ra, huyện còn có một diện tích lớn đất chưa sử dụng (bao gồm cả sông suối và đất núi đá vôi) có tiềm năng mở rộng diện tích sản xuất nông, lâm nghiệp. Định hóa có hệ thực vật, đa dạng tuy nhiên số lượng cá thể giảm đáng kể trên 65% so với tài liệu năm 1990. Công tác quản lý rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp: + Thống kê theo chủ quản lý tại bảng 1 Đánh giá thực trạng lâm nghiệp của huyện Về công tác lãnh đạo của cấp ủy: Đã chấp hành chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo về việc quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, quản lý lâm sản. Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 Bảng 1 Loại đất Tổng DT Chủ quản lý Hộ GĐ UBND xã BQLRĐR BQLRPH Tổng cộng 36.938 21.608 3.790 9.512 1.952 Đất có rừng 27.438 13.758 3.909 8.421 1.350 Đất chưa có rừng 9.500 6.865 366 1.614 556 (Nguồn theo dõi diễn biến Tài nguyên rừng - Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên) Hiện trạng 3 loại rừng: Cho đến nay tại Định Hóa đã quy hoạch, phân loại quản lý được: Loại đất, loại rừng Tổng cộng Rừng đặc dụng Rừng phòng hộ Rừng sản xuất Tổng diện tích đất lâm nghiệp (ha) 36.938 9.009 7.277 20.653 1. Đất có rừng (ha) 27.438 6.692 5.405 15.341 Rừng tự nhiên 19.020 3.404 4.070 11.546 Rừng trồng 8.418 1.626 1.609 5.183 2. Đất chưa có rừng (ha) 9.500 3.642 1.613 4.245 -Đất trống (IA) 639 146 33 18 -Đất trống cây bụi (IB) 3131 243 322 2566 -Đất trồng cây rải rác (IC) 4169 1.694 1.145 1.331 - Núi đá cây bụi 1560 1.560 0 0 (Nguồn viện điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ) Thể hiện sự thống nhất cao trong cấp ủy là đã có Nghị quyết chuyên đề của BCH huyện và tất cả các BCH Đảng ủy các xã, thị trấn. Đây là một điểm nổi bật thể hiện tính quyết tâm cao, coi việc quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, quản lý lâm sản là một trong những thế mạnh hàng đầu của huyện trong phát triển ngành nông lâm nghiệp, là một trong những mũi nhọn trong phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. Về công tác quản lý của chính quyền: Toàn bộ đất rừng và đất rừng cơ bản đã có chủ, được huyện, tỉnh giao. Đặc biệt là giao tới hộ đạt 22.850ha/39.061ha, giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng được 10.059ha/39.061ha; giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ được 2.064ha/39.061ha; còn lại UBND xã tự quản được 4.088ha/39.061ha. Tỷ trọng giao đến hộ gia đình đạt gần 60%, trong đó đa số rừng tự nhiên ở dạng "vườn rừng" là loại rừng đã được truyền từ đời này qua đời khác, một phần được giao theo chính sách giao đất giao rừng của nhà nước trong những năm qua (nghị định 02/1992/NĐ-CP). Về kết quả sản xuất, khai thác lâm sản: Khai thác các sản phẩm từ rừng là truyền thống của người dân nơi đây, đã góp phần khá lớn vào thu nhập của nhân dân trong khu vực, lâm sản hàng đầu là gỗ, củi. Ngoài khai thác để trao đổi hàng hóa, củi đốt còn làm nhà ở, theo số liệu thống kê: đã bán hàng năm trên 10.000m 3 gỗ, 5.000ste củi, để làm nhà mỗi năm 140 -150 hộ tu sửa, làm mới nhà ở, bình quân 15m 3/hộ ≈ 2.300m3/năm. Những loại lâm sản phụ được khai thác như: song, mây, vàu, tre, mai, hóp, ghẹ, cây thuốc là rất lớn. Theo kết quả điều tra sản xuất lâm nghiệp năm 1995, 2000, 2005 cho thấy tổng thu nhập (GDP) từ rừng của người dân đem lại chiếm 5,7% - 6,0% - 6,2% và những số liệu trên cũng cho thấy việc khai thác quá mức đã làm cho tài nguyên suy giảm. Hiện huyện còn 24.792ha diện tích đất có rừng, có sản lượng trong đó rừng tự nhiên là 18.957ha, hầu hết là rừng nghèo kiệt, không còn rừng giàu, không còn rừng trung bình. Rừng trồng tăng lên 5.835ha trong đó rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là 3.442ha, rừng sản xuất là 2.383ha. Từ thực tế giai đoạn từ năm 2006-2009 toàn huyện trồng được 3.880ha rừng, khai thác gỗ tròn đem bán 36.271m3; 15.500ste củi; 20.500.000 tấn, cốt tre, nứa, giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá thực tế) 46.000 triệu đồng. Đây rõ ràng là đời Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 sống của người dân phụ thuộc rất nhiều vào rừng, vì vậy giải quyết nhu cầu lâm sản cho người dân địa phương khi quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là vấn đề rất khó khăn và phức tạp, có tính đặc thù cao, song lại rất quan trọng; có tính chất quyết định tới nhiệm vụ khôi phục bảo tồn, tôn tạo cảnh quan sau này. Đánh giá chung về thành tựu đạt được trong những năm qua (giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây) Đã cơ bản thoát khỏi tình trạng suy thoái rừng và bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi, rừng đã được bảo vệ, môi trường sinh thái được cải thiện. Độ che phủ rừng từ năm 2000 đã tăng liên tục và đã đạt được ≈ 55% (theo tiêu chí mới). Thông qua công tác tuyên truyền vận động mà nhận thức của người dân về nghề rừng đã được nâng lên rõ rệt. Các chương trình trồng rừng , bảo vệ rừng đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động , góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân. Trình độ lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền, cơ quan chuyên quản đã từng bước nâng lên, có hiệu quả. Về tồn tại, yếu kém Công tác quy hoạch chậm, đã xác định quy mô rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quá lớn so với rừng sản xuất, hạn chế khả năng cung cấp nông sản, chưa khai thác được khả năng hiệu quả của rừng. Mặc dù diện tích rừng tăng lên, nhưng chất lượng rừng vẫn suy giảm, cho thấy rừng tự nhiên chủ yếu là rừng phục hồi, rừng giàu và rừng trung bình không còn do khai thác quá mức, phát triển không bền vững. Hiện tượng khai thác rừng trái phép vẫn còn xảy ra tuy đã giảm nhiều. Kỹ năng canh tác kinh doanh, sử dụng rừng và đất rừng hiệu quả thấp. Chưa phát triển công nghiệp chế biến thành hàng hóa có giá trị cao, mới ở dạng bán sản phẩm hoàn chỉnh, nên chưa thu hút được người dân tự đầu tư cho trồng rừng sản xuất, còn ỷ lại hoặc chờ Nhà nước hỗ trợ. Trên cùng một địa bàn huyện tồn tại 03 đơn vị: Kiểm lâm, Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ cùng hoạt động trên một địa bàn, cùng một nhiệm vụ chính là: quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, quản lý lâm sản, dịch vụ phát triển rừng và quản lý lâm sản (vừa qua ngày 07/05/2010, đã sát nhập 03 đơn vị). Việc quy hoạch, giao đất giao rừng chưa cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa căm mốc phân rõ 3 loại rừng giao cho các chủ rừng quản lý. Nguyên nhân: Do sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế mà nhu cầu lâm sản phục vụ cho sản xuất, cho đời sống ngày càng tăng. Chưa phân định được ranh giới các loại rừng, giữa thực địa và bản đồ gây khó khăn rất lớn cho công tác quản lý và người dân không chủ động trong việc sử dụng đất rừng. Chính sách hiện hành chưa thu hút được người dân làm rừng, suất đầu tư hỗ trợ thấp, người làm nghề rừng có thu nhập thấp hơn nhiều so với nghề khác. Nhà nước quy hoạch được rừng đặc dụng, rừng phòng hộ chưa có hỗ trợ đền bù nên không thể hướng dẫn người dân sử dụng, quản lý bảo vệ rừng đúng theo quy hoạch và quy chế quản lý rừng chung của Nhà nước, đã có một số vấn đề về chia sẻ lợi ích giữa chủ rừng và Nhà nước không hợp lý dẫn đến mất ổn định. Vốn đầu tư hàng năm cho lâm nghiệp còn ít, không tương xứng với yêu cầu phát triển. Công tác quản lý còn có sự chồng chéo, không rõ ràng nhiệm vụ giữa các cơ quan chức năng, giữa cấp và ngành. Địa bàn quản lý rộng , dân có tỷ lệ nghèo quá cao , trình độ dân trí thấp. Trình độ năng lực của cán bộ quản lý còn ở mức độ thấp, mặt khác điều kiện về vật chất , kỹ thuật chưa đáp ứng để thi hành, thừa hành. Xu hướng sử dụng đất được chuyển đổi một cách tự nhiên biến động khá mạnh , chuyển từ đất rừng sang đất nông nghiệp không ngừng tăng, điều này ban đầu có thể thấy góp phần tăng thu nhập , đảm bảo được an ninh lương thực , nhưng hậu quả đã và đang cho thấy sự mất cân bằng sinh thái , nguy cơ thoái hóa đất trở nên trầm trọng , hạn hán , lũ lụt, xói mòn , lở đất trở nên khốc liệt hơn . Vì Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 vậy với điều kiện tự nhiên vùng núi của Định Hóa, diện tích trồng cây lương thực ít nên hạn chế phát triển ở mức như hiện nay , không nên mở rộng, nên ưu tiên đất chưa sử dụng vào t rồng rừng, trồng cây công nghiệp là hướng sử dụng đất đảm bảo bền vững của môi trường sinh thái và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Một số bài học được rút ra: Về quy hoạch 3 loại rừng phải căn cứ từ thực tế cân đối: Quỹ đất và rừng , bảo đảm nhu cầu lâm sản cho đời sống kinh tế khu vực ; Địa hình , địa chất, lưu vực, tính đặc thù riêng biệt của khu vực ; Quy hoạch phải có sự tham gia của lãnh đạo , các nhà quản lý của địa phương sở tại ; Quy hoạch phải căn cứ từ quy hoạch tổng quan của tỉnh , của huyện, chiến lược phát triển kinh tế xã hội , an ninh quốc phòng của vùng , miền, địa phương sở tại; Quy hoạch xong phải cắm mốc , phân định ranh giới rõ ràng giữa b ản đồ và thực địa , giao quyền sử dụng đất và rừng cụ thể ; Quy hoạch xong phải có quy chế quản lý , tổ chức thực hiện theo quy hoạch , xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy chế theo luật định. Về chính sách và áp dụng ch ính sách: Ngân sách lâm nghiệp ở đây chủ yếu từ nguồn ngân sách trung ương và số ít tài trợ của một số tổ chức phi chính phủ, nói chung suất đầu tư thấp, chưa tương xứng, khó thu hút thành phong trào , chưa tạo được cơ bản cho đời sống của người làm nghề rừng. Ở đây bài học sử dụng để có hiệu quả nguồn vốn đầu tư , hỗ trợ là quan trọng hơn cả , đó là các quy định chi tiết cụ thể quản lý phải phân định hợp lý , cơ chế điều hành quản lý kh oa học , tổ chức nuôi trồng phải kịp thời vụ , đối với vật nuôi trồng ưu tiên nơi khó khăn , xung yếu trước . Bộ máy quản lý và trình độ chuyên môn của từng cán bộ, bảo đảm đúng vị trí , quan hệ chặt chẽ , thống nhất, tập trung cao. Khi xây dựng dự án , thiết kế kỹ thuật phải chi tiết, chính xác, thi công đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng ; thực hiện với ngồn vốn điều hành tập trung, khoa học, hợp lý thực tế , có người dân tham gia . Mọi chế độ chính sách dự án phải được công bố , công khai , hướng dẫn áp dụng, hướng dẫn sử dụng rõ ràng, mạch lạc, thanh quyết toán kịp thời. Về tổ chức bộ máy quản lý lâm nghiệp thống nhất trên cùng một địa bàn nhằm tập trung lực lượng, tập trung lãnh đạo , tránh chồng chéo , gây bất cập, đông người nhưng vẫn yếu (kiểm lâm và 2 ban QLR trước đây): Ban Quản lý rừng ATK mới chính thức hợp nhất ngày 07/05/2010 là khởi đầu của sự cải cách hành chính trong ngành ở một huyện miền núi Định Hóa. Là mô hình đầu tiên ở Việt Nam có sự ứng dụng học hỏi ở một số nước đã thành công . Ban quản lý mới muốn thành công được , việc cốt lõi phải xây dựng một Chi bộ Đảng thực sự đoàn kết có tính chiến đấu cao, lãnh đạo cấp ủy thực sự hội tụ được trình độ lãnh đạo , quản lý, vững vàng tay lái cả trong nghiệp vụ với kinh nghiệm thực tiễn , phát huy được năng lực của mọi cán bộ , đảng viên, CBCC, viên chức và cán bộ hợp đồng lao động. Phải huy động được trí tuệ tập thể cao nhất , xây dựng được Quy chế hoạt động cơ quan mới , sát thực, khả thi cao nhất , điều hành nhịp nhàng , nghiêm túc nhất , có hiệu quả bằng các biện p háp kiểm tra tích cực. Tập trung khẩn trương nhanh nhất , trình UBND tỉnh được Quy chế , quản lý rừng ATK Định Hóa , một chính sách , chế độ quản lý đặc thù hợp lý nhất, có hiệu quả nhất. Đẩy nhanh, đẩy mạnh tốc độ điều tr a, nghiên cứu xây dựng các dự án thành phần trong lĩnh vực và định kỳ phải kiểm điểm, đánh giá, kiểm tra tiến độ xây dựng, tổ chức thực hiện dự án, giải quyết phát sinh kịp thời. Xây dựng các mô hình quản lý ở cơ sở , xây dựng mô hình bảo vệ rừng , sử dụng rừng , nuôi trồng , phục hồi, tôn tạo cảnh quan từ các nhóm hộ , cộng đồng làng (bản) làm nghề rừng, nông lâm kết hợp gắn liền với công tác khuyến nông, khuyến lâm để đúc rút kinh nghiệm và phát triển bền vững. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, đơn vị, tổ chức cấp ủy chính quyền cơ sở , tổ chức chính trị xã hội ở địa phương tham gia vào công tác quản lý , chỉ đạo , tuyên truyền chế độ chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước đến từng nhà và từng người dân , từng đối tượng quản lý , trên các kênh hiện có , bằng những phương pháp lồng ghép đa dạng phong phú ; Tranh thủ mọi sự Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 lãnh đạo, quản lý của các cơ qu an cấp trên và sự giúp đỡ về tri thức quản lý của các chuyên gia trong và ngoài nước về cả vật chất và tinh thần để nâng cao năng lực quản lý cho toàn thể can bộ , nhân viên trong đơn vị để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự vận động và phát triển của kinh tế và xã hội. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HOÁ Quan điểm bảo vệ và phát triển rừng tại Định Hóa Giải quyết tốt mâu thuẫn giữa bảo tồn , tôn tạo , phục hồi rừng đặc rụng, cảnh quan di tích lịch sử. Khai thác tiềm năng, nhân lực và nguồn lực khác tại chỗ, nhưng phải có sự đầu tư của Nhà nước thông qua cơ chế chính sách đặc thù về đất đai, hỗ trợ vốn ban đầu là khâu quyết định. Đảm bảo bình đẳng về lợi ích của các chủ rừng, người quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được sự đầu tư của Nhà nước, hạn chế khai thác lâm sản, tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành của một cơ quan có trách nhiệm. Mục tiêu Phục hồi, tôn tạo cảnh quan rừng, cây xanh vùng ATK Định Hoá góp phần quan trọng vào việc bảo vệ cảnh quan quần thể di tích lịch sử quốc gia Việt bắc. Bảo vệ sự đa dạng sinh học tài nguyên rừng, tăng cường tác dụng phòng hộ môi trường, đồng thời tăng khả năng cung cấp lâm sản cho nhu cầu tại chỗ và nguyên liệu cho công nghiệp, xây dựng. Đề xuất được chính sách ưu đãi để phát triển lâm nghiệp góp phần cùng với các ngành đầu tư phát triển toàn diện kinh tế, xã hội. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong khu vực ATK Định Hoá. Giải pháp phát triển tài nguyên rừng Nhóm giải pháp về kinh tế + Hỗ trợ kinh tế: Với định mức hỗ trợ cho người dân tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng như hiện nay còn là quá thấp, theo như kết quả tính toán mức thu nhập/hộ của các hộ không tham gia quản lý rừng chênh lệch cao hơn so với các hộ có tham gia quản lý rừng gần 2 lần hộ. Trong khi diện tích đất lâm nghiệp của các hộ khu vực quản lý rừng gấp hơn 5 lần so với các hộ khác. Như vậy địnhmức hỗ trợ hiện nay cũng cần phải có nhữn tỷ lệ tương ứng tức là mức hỗ trợ phải gấp 10 lần như hiện nay tương đương với 1 triệu đồng/ha/năm mới có thể đáp ứng được một phần mong đợi và khuyến khích người dân tham gia chăm sóc, bảo vệ rừng. + Hỗ trợ vốn để phát triển ngành nghề, tăng thu nhập, giảm thời gian nông nhàn, giảm áp lực vào rừng: Hỗ trợ vốn để phát triển một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đang có tiềm năng ở địa phương như gây trồng và chế biến dược liệu, song mây, dệt thổ cẩm, nuôi ong, chế biến nông sản... Việc phát triển những ngành nghề phụ nhằm giúp người dân phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở địa phương nhưng không gâp sức ép lên các nguồn lực tự nhiên của khu vực. + Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Đặc biệt là hệ thống giao thông đến các bản, làng, hệ thống trường học và mạng lưới điện được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nâng cao dân trí, tăng cường trao đổi kinh tế, văn hóa, nhờ đó nâng cao được năng lực quản lý các nguồn tài nguyên, trong đó có quản lý bảo vệ và phát triển rừng. + Đầu tư cho phát triển kinh doanh tổng hợp nghề rừng với diện tích rừng sản xuất: Đầu tư để kinh doanh lâm nghiệp tổng hợp gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ cũng như phát triển chế biến lâm sản để nâng cao hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng, tạo ra sức hấp dẫn kinh tế cho cộng đồng tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng. + Đầu tư phát triển thêm những diện tích rừng có giá trị kinh tế và sinh thái cao ở đất chưa sử dụng: Theo quy hoạch phát triển rừng trên địa bàn huyện cần đầu tư để phục hồi rừng trên những diện tích chưa sử dụng đây là một trong những biện pháp vừa nâng cao thu nhập của người dân vừa phát triển rừng. + Trú trọng đầu tư cho phát triển các hoạt động lồng ghép được mục tiêu bảo tồn rừng với mục tiêu phát triển kinh tế: Cần đầu tư cho khai thác những tiềm năng du lịch sinh thái dựa vào các sinh cảnh của khu vực rừng ATK. Nếu quản lý tốt chúng sẽ tạo ra những nguồn thu đáng kể để cải Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 thiện đời sống người dân và đầu tư trở lại cho công tác phát triển thêm rừng. + Đầu tư phát triển thị trường lâm sản: Thị trường lâm sản địa phương hiện tại chưa phát triển, đặc biệt là các lâm sản ngoài gỗ như các loại dược liệu, song, mây, dầu, nhựa. Phần lớn những lâm sản có giá cả không ổn định, một phần do số lượng ít không hình thành được thị trường, một phần khác do thiếu thông tin về thị trường. Nhóm giải pháp xã hội + Tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức về giá trị kinh tế, sinh thái của rừng, khích lệ người dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng: Tăng cường tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân và để lôi cuốn người dân vào hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. + Thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp: Quy hoạch sử dụng đất ổn định kết hợp với giao đất, giao rừng triệt để sẽ làm cho mọi diện tích đất lâm nghiệp đều có chủ cụ thể. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho người dân cũng như cộng đồng tham gia vào bảo vệ và phát triển rừng. + Xây dựng tổ chức quản lý lâm nghiệp ở cấp xã: Hiện nay với thực tế mỗi xã có một cán bộ phụ trách nông lâm nghiệp và kinh tế là quá mỏng, cán bộ kiểm lâm của huyện và cán bộ nông nghiệp của huyện không thể hàng ngày sâu sát với thực tế các xã do vậy cần có chính sách và ngân sách cho việc tăng cường cán bộ cấp xã có thể triển khai dần để đảm bảo sao cho mỗi xã có ít nhất 01 cán bộ chuyên trách lâm nghiệp cho địa bàn huyện. + Củng cố và xây dựng các tổ chức cộng đồng liên quan đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở cấp xã: Các tổ chức xã hội như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên... có vai trò rất lớn trong việc vận động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất phát triển. + Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng quản lý bảo vệ rừng các Ban quản lý khu di tích, rừng đặc dụng và rừng bảo vệ: Một trong những nguyên nhân của hiệu quả quản lý bảo vệ rừng chưa cao là thiếu sự phối hợp tốt giữa các lực lượng kiểm lâm và lực lượng quản lý bảo vệ rừng trên cùng một địa bàn. Vì vậy, cần có sự phối hợp tốt hoạt động, để thực hiện hiệu quả những nhiệm vụ chung vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng và ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng . Nhóm giải pháp khoa học công nghệ + Nghiên cứu xây dựng những mô hình trình diễn về kinh doanh rừng có hiệu quả cao: Nội dung của việc xây dựng mô hình trình diễn phải bao gồm trồng mới hoặc trồng thêm những loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ có thể thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của người dân về sản phẩm rừng, và nhu cầu sản xuất hàng hóa, nhờ đó giảm được áp lực vào rừng. + Nghiên cứu phát triển hệ thống mô hình trình diễn nông lâm kết hợp có thu nhập cao: Cần nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi trong hệ canh tác nông nghiệp và coi đó như một nhân tố làm giảm sức ép của đời sống cộng đồng vào tài nguyên rừng. Những biện pháp kỹ thuật đó có thể phải hướng vào cải tiến kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực sang cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cải thiện tập đoàn vật nuôi mà trước hết là đại gia súc... + Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái trong vùng ATK: Kết hợp với các khu vực khác của tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc và Bắc Cạn, đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái làm cơ sở cho các hoạt động sản xuất và dịch vụ khác phát triển. Để làm được điều này cần có sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn và xây dựng đề án với sự hỗ trợ của tỉnh trong việc tạo ra tour du lịch và vận động người dân tham gia xây dựng tour du lịch đó cũng như tham gia vào các hoạt động của tour từ đó họ có thêm nguồn thu. + Tăng cường hoạt động khuyến nông, khuyến lâm: Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cần hỗ trợ kỹ thuật công nghệ cụ thể: Có tổ chức khuyến nông, khuyến lâm đủ năng lực hoạt động thường xuyên tại các thôn để hướng dẫn đồng bào kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây trồng, vật nuôi Phương Hữu Khiêm và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 88(12): 9 - 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 mới, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng, vật nuôi. Ngoài việc phổ biến, chuyển giao kỹ thuật công nghệ, cần chú ý các hoạt động bồi dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế cho các hộ gia đình, cung cấp thông tin về thị trường giá cả để cho các hộ có quyết định chính xác trong sản xuất kinh doanh. + Phát triển hệ thống phổ biến kiến thức bản địa liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng: Kiến thức bản địa do cha ông để lại là cẩm nang vô cùng quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc vốn rừng đặc biệt nó phù hợp với thực tế của địa phương do vậy cần phải phát huy và được xây dựng thành một hệ thống để phổ biến tại các bản, xã. Đây là một giải pháp đơn giản nhưng có hiệu quả trong quản lý và phát triển rừng. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Báo cáo Kinh tế xã hội huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên, năm 2009, 2010. [2].Báo cáo đánh gia công tác quy hoạch và quản lý rừng của Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. [3].Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010. [4].Các số liệu thống kê của Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa, Hạt kiểm lâm Định Hóa, phòng Tài nguyên Môi trường và Phòng NN&PTNT huyện Định Hóa, Viện điều điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ. [5].Niên giám thống kê huyện Định Hóa năm 2009- 2010. SUMMARY FOREST MANAGEMENT SITUATION IN DINH HOA DISTRICT OF THAI NGUYEN PROVICE Phuong Huu Khiem 1,* , Do Anh Tai 1 , Tran Van Nguyen 2 , Dinh Hong Linh 2 , Nguyen Dac Dung 2 1Thai Nguyen University, 2College of Economics and Business Administration - TNU In recent years, sustainable forest management has become a principle of forest management business and also a standard that forest management business has to be reached. Dinh Hoa district of Thai Nguyen provice, the old revolutionary base, where forest cover is considered as most Thai Nguyen, and forest land in the district is 27,438ha. Up to now, the entire forest land has been given the owners’ right by the district and provincial authorities. Especially, those assigned to households reach 22,850ha/39,061ha, assigned to special-use forest management boards are 10,059ha/39,061ha; assigned to the protection forest management are 2,064ha/39,061ha and the rest of 4.088ha/39.061ha belong to self-governing commune. The proportion allocated to households is nearly 60%. Forests play an important role in people’s living here; every year the extraction of forest products has a great contribution to people's income; the leading forest products include timber, firewood, and .. the other forest products. However, the management of local forests retains inadequacies, poverty rate is still high. So it is necessary to analyze deeply the situation, causes and propose solutions for the sustainable management of forest resources for conservation and people's livelihoods. Keywords: Forest management, Sustainable, Situation, Forest Products, Dinh Hoa. * Tel: 0945855085; Email: phuonghuukhiem@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthuc_trang_quan_ly_rung_tai_huyen_dinh_hoa_tinh_thai_nguyen.pdf
Tài liệu liên quan