Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa đen (Hipocampus kuda bleeker, 1952) nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước tại Cát Bà - Hải Phòng

Nghiên cứu này mới chỉ tiến hành thử nghiệm ở một mật độ nuôi là 100 cá thể/m3 và tỷ lệ lọc nước là 20% thể tích nước của các bể nuôi. Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống lọc sinh học, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của hệ thống, tối ưu hóa các thông số thiết kế và đặc biệt để xác định mật độ nuôi tối ưu, tỷ lệ lọc tối ưu cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra cần có các nghiên cứu khác để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của hình thức nuôi tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học so với các hình thức nuôi thay nước truyền thống khác. Từ đó đưa ra định hướng ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 24/03/2022 | Lượt xem: 112 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa đen (Hipocampus kuda bleeker, 1952) nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước tại Cát Bà - Hải Phòng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 185 KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ NGỰA ĐEN (Hipocampus kuda Bleeker, 1952) NUÔI TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN NƯỚC TẠI CÁT BÀ - HẢI PHÒNG GROWTH AND SURVIVAL OF BLACK SEAHORSE (Hipocampus kuda Bleeker, 1852) CULTURED IN THE RECIRCULATING SYSTEM IN CAT BA – HAI PHONG Đỗ Đức Thịnh1, Nguyễn Đình Mão2 Ngày nhận bài: 08/10/2013; Ngày phản biện thông qua: 11/12/2013; Ngày duyệt đăng: 13/8/2014 TÓM TẮT Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng ứng dụng của hệ thống lọc sinh học trong nuôi tuần hoàn nước đối với cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852). Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2010 tại Cát Bà - Hải Phòng. Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức là nuôi tuần hoàn nước có sử dụng hệ thống lọc sinh học và nuôi thay nước thông thường, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy các yếu tố môi trường của hai hệ thống nuôi đều nằm trong giới hạn cho phép cá ngựa đen sinh trưởng và phát triển. Sinh trưởng, phát triển của cá nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước tương đương với kết quả nuôi của hệ thống thay nước thông thường. Tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài của cá đạt 0,51 ± 0,006% so với 0,48 ± 0,035% trong hình thức nuôi thay nước. Tỷ lệ sống của cá nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước đạt 83 ± 2,2% so với 81 ± 3,3% trong hệ thống nuôi thay nước. Sinh khối nuôi đạt 145 g/m3 với mật độ nuôi 100 con/m3. Kết quả nghiên cứu này mở ra khả năng ứng dụng của hệ thống tuần hoàn nước thay cho hình thức nuôi thay nước thông thường, góp phần làm giảm áp lực về nhu cầu nước trong nuôi cá ngựa đen nói riêng cũng như thử thách chung của nghề nuôi trồng thủy sản. Từ khóa: cá ngựa đen, Hippocampus kuda, tỷ lệ sống, sinh trưởng, lọc sinh học, nuôi tuần hoàn ABSTRACT The aim of this study was to evaluate the ability of implementation of the recirculating system inblack seahorse (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) culture. This study was conducted in Cat Ba island – Hai Phong province from June to September, 2010. The seeds used in this study were collected from Nha Trang to Hai Phong and acclimatized for 5 - 10 days before running of the real experiment. The experiment included 2 treatments with three replicates (1): Fish were reared in the the recirculating system equipped with the biofi lter tanks; (2): Fish were reared in the tanks with water exchanged daily at 30% of culture volumn. The result showed that environmental factors are within the acceptable levels for growth and development of black seahorse. There were no differences in survival and growth of fi sh cultured in the two systems. Fish grown in the recirculating system obtained the specifi c growth rate in term of total length approximately at 0,51 ± 0,06% as compared to 0,048 ± 0,035% in the other. A survival of 83 ± 2,2% was achieved at the end of the experiment in the recirculating system while it was 81 ± 3,3% in the exchange water system. A biomass of 145 g/m3 was reached at the culture density of 100 pieces/m3. The out comes of this study promote the possibility of using recirculting system as a potential alternative for the conventional exchange water culture system particular in seahorse culture, and so far as a measure to deal with the challenges in the aquaculture industry like reducing water demand and environmental polution. Keywords: black seahorses, Hippocampus kuda, survival rate, growth, biofi lter, recirulating system 1 Đỗ Đức Thịnh: Cao học Nuôi trồng thủy sản 2009 - Trường Đại học Nha Trang 2 PGS. TS. Nguyễn Đình Mão: Viện Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2014 186 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG I. ĐẶT VẤN ĐỀ Từ lâu, cá ngựa được dân gian dùng như một vị thuốc quý trong y học cổ truyền ở khu vực Đông Á. Ngoài ra, với hình dáng đặc biệt nên cá ngựa được các nước phương Tây ưa chuộng làm cá cảnh. Khu vực biển Cát Bà là nơi thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham quan, nghỉ mát do vậy tiềm năng đưa cá ngựa thành một mặt hàng đặc sản phục vụ khách du lịch là rất lớn. Cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) đã sớm được Viện Hải dương học Nha Trang nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Tuy nhiên, cũng như các đối tượng nuôi khác, nghề nuôi cá ngựa đang gặp nhiều khó khăn như: con giống không đảm bảo chất lượng, cung không đủ cầu, chất lượng môi trường ngày một suy giảm và ô nhiễm do sự phát triển tự phát, thiếu các giải pháp bền vững. Vì vậy, để nghề nuôi cá ngựa nói riêng và các đối tượng thủy sản khác nói chung phát triển một cách ổn định và bền vững, việc tìm ra các giải pháp cho các vấn đề nói trên là vô cùng quan trọng, đặc biệt là vấn đề về chất lượng nước. Trong nghiên cứu này chúng tôi muốn đánh giá khả năng sử dụng hệ thống tuần hoàn nước thay cho hình thức nuôi thay nước như truyền thống trong nuôi cá ngựa đen, nhằm làm giảm thiểu nhu cầu về nước nuôi cũng như lượng nước thải ra môi trường. Trên thế giới mô hình nuôi tuần hoàn nước đã được ứng dụng như một giải pháp cho vấn đề thiếu nguồn nước nuôi hay nhằm giảm thiểu các tác động môi trường của nghề nuôi trong nhiều năm và khá thành công trong nuôi các đối tượng như cá hồi, cá chẽm Châu Âu, tôm thẻ chân trắng và các đối tượng khác. II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Từ 06/2010 đến 09/2010. Địa điểm nghiên cứu: Trại giống Đảo Xanh - Cát Bà - Hải Phòng. 2. Vật liệu nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) ở giai đoạn giống kích thước trung bình 52,6 ± 1,02 mm; 0,416 ± 0,0207 g. Cá giống được mua từ Nha Trang. Đàn cá được tuyển chọn đồng đều về kích cỡ, tình trạng sức khoẻ tốt. Cá được thuần hóa cho quen với điều kiện thí nghiệm từ 05 - 10 ngày. - Hệ thống bể nuôi: Bể nuôi được làm từ vật liệu composite có thể tích 1,5 m3/bể. - Hệ thống bể lọc gồm bể lọc thô 0,5 m3 và hệ thống các bể lọc sinh học dạng ngập bao gồm 3 bể, thể tích mỗi bể 4 m3. Vật liệu lọc trong các bể lọc sinh học được làm từ lưới cũ (100 kg/bể) được treo khắp thể tích của bể nhằm cung cấp giá thể cho sự phát triển của các nhóm vi sinh vật hoạt động chuyển hóa các chất hữu cơ hòa tan. Bể lọc thô làm bằng đá sỏi, mảnh vỡ vỏ động vật thân mềm, san hô chết. Nước sau sử dụng từ các bể nuôi được dẫn qua bể lọc thô để loại bỏ các chất lơ lửng, sau đó được dẫn tới hệ thống các bể lọc sinh học để làm giảm nồng độ các chất hữu cơ hòa tan nhờ hoạt động của các nhóm vi sinh vật có trong hệ thống lọc sinh học trước khi được cấp ngược trở lại vào các bể nuôi. 3. Phương pháp bố trí thí nghiệm - Thí nghiệm được tiến hành trong hai tháng, cá ngựa giống với kích thước trung bình 52,6 ± 1,02 mm, 0,416 ± 0,0207 g được thả nuôi với mật độ 100 con/m3 trong các bể nuôi bằng vật liệu composite. Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức: (1) Nuôi tuần hoàn - bể nuôi được kết nối với bể lọc thô và hệ thống lọc sinh học để xử lý nước từ các bể nuôi trước khi tái sử dụng; (2) Nuôi thay nước - nước được lọc qua hệ thống lọc thô trước khi cấp vào các bể nuôi, không qua hệ thống lọc sinh học. Mỗi nghiệm thức được bố trí lặp lại 3 lần. Đối với hệ thống nuôi tuần hoàn (1), mỗi ngày 20% thể tích nước nuôi được lọc và cấp trở lại các bể nuôi. Đối với hình thức nuôi thay nước (2), mỗi ngày 30% thể tích nước nuôi được thay mới và 100% hàng tuần. Cá được cho ăn 3 lần/ngày (7,11 và 15 giờ hàng ngày) tớ i mứ c bã o hò a. Thức ăn được sử dụng là Mysis và Acetes đông lạnh, với cá nhỏ khẩu phần ăn từ 10 - 15% trọng lượng cơ thể cá, đối với cá trưởng thành từ 5 - 8%. Hệ thống bể nuôi và bể lọc được sục khí 24/24. - Các chỉ tiêu theo dõi trong quá trình thí nghiệm + Chỉ tiêu về môi trường: Nhiệt độ, độ mặn, pH và oxy hòa tan (DO) được đo hai lần trên ngày vào lúc 6 - 7h sáng và 14 - 15h chiều. Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế rượu, độ mặn được đo bằng khúc xạ kế, pH và DO sử dụng máy đo chuyên dụng của hãng Hanna. Xác định NH4 + bằng phương pháp phenat (indophenol), NO2 - dựa trên sự tạo chất màu azo và so màu trên máy quang phổ kế ở bước sóng 543 nm; NO3 - bằng phương pháp khử Cadmium và so màu trên máy quang phổ kế ở bước sóng 543 nm; PO4 3- bằng cách sử dụng thuốc thử Molipdic và khử bằng axit ascobic rồi so màu trên máy quang phổ ở bước sóng 880 nm; COD bằng cách sử dụng KMnO4 trong môi trường kiềm; BOD5 bằng phương pháp trực tiếp sử dụng chuẩn độ Winkler, giới hạn Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 187 xác định các chỉ tiêu 0,01mgO2/l. Các chỉ tiêu này được theo dõi đị nh kỳ 10 ngà y/lầ n. + Các chỉ tiêu sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài toàn thân (% ngày) (SGRL): SGRL = (LnL2 – LnL1)*100/(t2-t1) Trong đó: L1,L2: chiều dài cá ở thời điểm t1, t2 (mm); t1: cá thời điểm ban đầu thí nghiệm; t2: cá thời điểm sau thí nghiệm. Tỷ lệ sống của cá S (%): S = Sc x 100 Sđ Trong đó: Sđ, Sc lần lượt là số lượng cá tại thời điểm thả và kết thúc thí nghiệm (con). 4. Xử lý số liệu Tất cả các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (SD). Số liệu được phân tích bằng phương pháp ANOVA một nhân tố. Sự sai khác về giá trị trung bình giữa các nghiệm thức được so sánh theo phương pháp Duncan’s multiple rang test (p < 0,05) III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Quan trắc các thông số môi trường Kết quả nghiên cứu ở bảng 1 cho thấy: Các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, pH trong quá trình thí nghiệm dao động trong khoảng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá ngựa đen. Nhiệt độ trung bình ở bể nuôi và bể lọc là 30 ± 10C, giới hạn cho phép là từ 26 - 320C. Độ mặn trong quá trình nuôi được duy trì ở mức 31‰. pH luôn dao động trong khoảng 8,03 - 8,12 [2], [3]. pH của nước khi đi vào cao hơn so với sau khi qua hệ thống lọc sinh học. Đây có thể là kết quả của hoạt động phân giải các chất hữu cơ hòa tan có trong nước nuôi bởi các nhóm vi sinh vật trong hệ thống lọc sinh học. Khi vi sinh vật phân giải các chất hữu cơ, lượng CO2 được giải phóng từ các phản ứng oxi hóa khử sẽ hòa tan vào nước góp phần làm giảm pH của nước. Bên cạnh đó, hoạt động của vi sinh vật trong bể lọc sinh học cần một lượng oxy hòa tan (DO) nhất định. Do đó, sau khi nước đi qua hệ thống lọc, DO sẽ thấp hơn trong nước ban đầu. Tuy nhiên, DO của nước sau lọc (trung bình 4,99 mg/l) vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cá ngựa. So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Cự [1], DO trong nước sau khi qua hệ thống lọc sinh học trong nghiên cứu này cao hơn so với DO trong ương nuôi giống cá giò trong hệ thống tuần hoàn nước. DO trong ương nuôi cá giò từ 1 - 40 ngày tuổi dao động trong khoảng 3,4 - 4,2 mg/l. Kết quả này có thể do lượng thức ăn sử dụng trong nuôi cá ngựa thấp hơn nhiều so với trong ương nuôi cá giò, do đó sản phẩm thải và thức ăn thừa trong nước nuôi thấp hơn so với nước nuôi cá giò. Bên cạnh đó, trong nghiên cứu này, các vòi sục khí đã được bố trí ở đáy các bể lọc sinh học để tăng hàm lượng oxy hòa tan trong nước sau khi lọc trước khi nước được cấp ngược trở lại bể nuôi. Bảng 1. Kết quả quan trắc các thông số môi trường của nước nuôi trước và sau khi qua hệ thống lọc sinh học Thông số Nước thải Nước sau lọc Giới hạn cho phép Nhiệt độ (0C) 30 ± 1 30 ± 1 26 - 32 pH 8,12 - 8,25 8,03 - 8,11 7,5 - 8,5 DO (mg/l) 5,50 ± 0,164 4,99 ± 0,129 ³ 2 S (‰) 31 31 5 - 35 BOD5 (mg/l) 2,26±0,505 1,07 ± 0,130 < 5,0 COD (mg/l) 3,66±0,647 2,65 ± 0,141 < 10,0 Các chỉ số BOD5, COD của nước nuôi sau khi qua hệ thống lọc sinh học đều giảm so với trước khi lọc. Kết quả này chứng tỏ hiệu quả hoạt động của hệ thống lọc. Đặc biệt sự suy giảm rõ rệt của BOD5. Nồng độ BOD5 trung bình ở nước thải là 2,26 ± 0,505 mg/l, sau khi lọc là 1,07 ± 0,13 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tiêu chuẩn cho phép (< 5mg/l) [5]. Tương tự, kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng môi trường khác như N-NH4 +, N-NO2 - cũng cho thấy có sự giảm xuống về nồng độ của các chỉ tiêu này trong nước nuôi sau khi được xử lý bởi hệ thống lọc sinh học. kết quả này có thể do hoạt động chuyển hóa Nitrogen của các vi khuẩn nitrogen hóa phát triển trong hệ thống lọc sinh học. Dưới tác dụng của vi khuẩn nitrit hóa nitrosomonas, một phần NH4 + được chuyển hóa thành NO2 - do đó góp phần làm giảm nồng độ NH4 + có trong nước. NO2 - sau đó được chuyển hóa một phần thành NO3 - bởi vi khuẩn nitrobacter trong điều kiện hiếu khí. Hàm lượng NO2 - trong nước nuôi dao động trong khoảng 0,09 - 0,32 mg/l. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2014 188 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Hàm lượng NO2 - trong nước sau lọc thấp hơn nước thải chứng tỏ sự chuyển hóa NO2 - thành NO3 - trong hệ thống lọc sinh học . Ngược lại nồng đó N-NO3 - trong nước sau khi xử lý bằng lọc sinh học có phần tăng lên (4,29 mg/l so với 3,98 mg/l). Nitrat NO3 - là sản phẩm cuối cùng của quá trình nitrogen hóa các hợp chất hữu cơ chứa nitơ, sản phẩm này hầu nhưkhông độc với thủy sinh vật trong một giới hạn tương đối rộng[6]. Hàm lượng cho phép của nitrat trong nước theo tiêu chuẩn là 100 mg/l. Theo tiêu chuẩn này, hàm lượng nitrat trong các bể nuôi vẫn được kiểm soát trong giới hạn thích hơp. Tương tự, hàm lượng P-PO4 3- của nước cũng dao động trong giới hạn cho phép (< 1mg/l), đảm bảo cho sự phát triển và sinh trưởng bình thường của cá. Hàm lượng PO4 3- của nước sau khi lọc cao hơn so với nước thải là do hợp chất này không chuyển thành khí trong hệ thống lọc thoáng khí và xảy ra quá trình kết tủa, lắng đọng trong môi trường lọc đệm cacbonat nên hàm lượng PO4 3- của nước sau khi lọc sẽ cao. Bảng 2. Kết quả quan trắc các muối dinh dưỡng của nước nuôi trước và sau khi qua hệ thống lọc sinh học Thông số Nước thải Nước sau khi lọc Ngưỡng cho phép N-NH4 + (mg/l) 0,35±0,081 0,26±0,047 < 0,5 N-NO2 - (mg/l) 0,22±0,065 0,17±0,069 < 0,5 N-NO3- (mg/l) 3,98±1,158 4,29±1,210 < 100 P-PO4 3- (mg/l) 0,24±0,077 0,26±0,078 < 1 2. Sinh trưởng và tỷ lệ sống Kết quả theo dõi sinh trưởng cả về chiều dài và khối lượng của cá ở hai hình thức nuôi (bảng 3) cho thấy, cá nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học sinh trưởng tốt hơn so với cá nuôi theo hình thức thay nước bình thường, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê. Cụ thể, tốc độ sinh trưởng tương đối về chiều dài của cá nuôi trong hệ thống nuôi thay nước bình thường và trong hệ thống tuần hoàn nước lần lượt là 0,48 và 0,51%/ngày. Tương tự, tỷ lệ sống của cá nuôi ở hai hình thức này cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa mặt dù cá nuôi trong mô hình tuần hoàn nước có tỷ lệ sống trung bình cao hơn. Với tỷ lệ sống trung bình thu được khi kết thúc thí nghiệm là 83% và khối lượng trung bình của cá khi kết thúc thí nghiệm là 1,744 g/con, sinh khối thu được trên một 1 m3 nước nuôi là 145 g, tương đương với 652,5 g/3 bể. Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy với mức lọc 20% thể tích nước nuôi của 3 bể mỗi ngày, tương đương với 900 l nước nuôi, hệ thống lọc sinh học hoạt động bình thường và cho kết quả tốt thể hiện qua các thông số chất lượng nước sau khi xử lý cũng như đảm bảo sự sinh trưởng phát triển bình thường của cá so với hình thức nuôi thay nước thông thường. Ngoài ra, tỷ lệ sống của cá ở nghiên cứu này cũng cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Từ Thị Tuyết Nga và ctv [4] khi ứng dụng chế phẩm men vi sinh trương ương nuôi cá ngựa đen. Bảng 3. Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa đen nuôi ở hai hình thức khác nhau Thông số Nuôi thay nước Nuôi tuần hoàn Chiều dài cuối 81,83±2.397a 83,63±1,097a SGRL(%/ngày) 0,48±0,035 a 0,51±0,006a Khối lượng cuối (g) 1,706±54,4a 1,744±58,3a Tỷ lệ sống 81±3,3a 83±2,2a Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn, số liệu trong cùng một hàng có các ký tự phụ phía trên khác nhau sai khác có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Với thể tích thiết kết là 10 m3/3 bể (thể tích hoạt động thực tế của hệ thống lọc), hệ thống lọc sinh học có thể lọc được 900 lít nước mỗi ngày, đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá nuôi ở mật độ là 100 con/m3, sinh khối thu được 145g/m3 tương đương 652,5 g cho 3 bể nuôi. Tỷ lệ sống đạt trung bình 83%, khối lượng trung bình đạt 1,744 g/con. Các thông số môi trường của nước nuôi sau khi được xử lý bởi hệ thống lọc sinh học đều cho kết quả tốt hơn so với ban đầu và nằm trong ngưỡng Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 189 thích hợp cho phát triên của cá ngựa đen. Trung bình nhiệt độ nước nuôi 300C; pH 8,03 - 8,11; DO 4,99 mg/l; BOD5 1,07 mg/l; COD 2,65 mg/l; N-NH4 + 0,26 mg/l; N-NO2 - 0,17 mg/l; N-NO3 - 4,29 mg/l; P-PO4 3- 0,26 mg/l. Không có sự khác bi ệt có ý nghĩa thống kê về sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá nuôi trong hệ thống tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học và cá nuôi theo hình thức thay nước bình thường. Hoạt động của hệ thống lọc sinh học ổn định, đảm bảo tính ổn định của hệ thống nuôi tuần hoàn. Như vậy, kết quả nghiên cứu này cho thấy có thể sử dụng hệ thống lọc sinh học trong ương nuôi cá ngựa đen nhằm làm giảm áp lực lên nhu cầu sử dụng nước trong nuôi cá ngựa. 2. Kiến nghị Nghiên cứu này mới chỉ tiến hành thử nghiệm ở một mật độ nuôi là 100 cá thể/m3 và tỷ lệ lọc nước là 20% thể tích nước của các bể nuôi. Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống lọc sinh học, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của hệ thống, tối ưu hóa các thông số thiết kế và đặc biệt để xác định mật độ nuôi tối ưu, tỷ lệ lọc tối ưu cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra cần có các nghiên cứu khác để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của hình thức nuôi tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học so với các hình thức nuôi thay nước truyền thống khác. Từ đó đưa ra định hướng ứng dụng trong thực tiễn sản xuất. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Nguyễn Đức Cự, 2005. Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ lọc sinh học phục vụ ương nuôi cá biển. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường Biển. 2. Trương Sỹ Kỳ, Nguyễn Cho, Đào Xuân Lộc, Nguyễn Thanh Tùng và Dương Thị Thơm, 1993. Đặc điểm sinh học và khả năng nuôi trồng loài cá ngựa đen Hippocampus kuda ở vùng biển Khánh Hòa. Hội nghị Sinh học biển toàn quốc lần thứ III: 156-163. 3. Trương Sỹ Kỳ, Đoàn Thị Kim Loan, 1994. Đặc điể m sinh sản của loài cá ngựa đen Hippocampus kuda sống ở vùng cửa sông Cửa Bé Nha Trang. Tuyển tập Nghiên cứu biển, tập V: 111-120. 4. Từ Thị Tuyết Nga, Thượng Đình Tâm và Hoàng Tùng, 2009. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học lên khả năng sinh trưởng, tỷ lệ sống, sự xuất hiện bệnh của cá ngựa đen Hippocampus kuda nuôi trong bể và chất lượng nước. Báo cáo Hội nghị sinh viên và cán bộ trẻ nghiên cứu khoa học ngành Nuôi trồng thủy sản toàn quốc năm 2009. 5. Nguyễn Đình Trung, 2004. Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản. NXB Nông nghiệp. TP. Hồ Chí Minh. Tiếng Anh 6. Thomas M.L., Michael P.M., James E.R., 1992. Recirculating aquaculture tank production systems: management of reciculating systems. SRAC Publication, No. 452, 12.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfsinh_truong_va_ty_le_song_cua_ca_ngua_den_hipocampus_kuda_bl.pdf