Nghiên cứu sản xuất giống cá chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) trong điều kiện nhân tạo

- Các loại thức ăn được thử nghiệm đều cho tỷ lệ thành thục tương đối cao đạt từ 91,25% đến 100%. Cá cái sử dụng thức ăn có bổ sung giun quế từ 5-10% có sức sinh sản tương đối đạt cao hơn so với cá ăn thức ăn không bổ sung giun quế. - Loại kích dục tố HCG (3500 IU HCG/kg cá cái) cho hiệu quả xử lý: thời gian hiệu ứng thuốc giờ 22,93 giờ, tỷ lệ trứng được thụ tinh 88,61%, thời gian nở 66,35 giờ, tỷ lệ nở 82,5%, tỷ lệ ra bột 94,47%; được đánh giá tốt cho sinh sản nhân tạo của cá Chuối hoa. - Trong quá trình ấp trứng thí nghiệm, các hình thức ấp khác nhau đều cho tỷ lệ trứng nở tương đối cao. Hình thức ấp trong bể vòng cho tỷ lệ nở cao và tỷ lệ dị hình thấp hơn so với hình thức ấp trong thùng xốp. - Cá bột ương ở mật độ 4 con/lít có tốc tộ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn cá ương ở các mật độ 6 con/lít và 8 con/lít. Trong quá trình ương, tỉ lệ sống của cá bột đến cá hương tương đối cao, dao động từ 55,60% đến 63,78%.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 26/03/2022 | Lượt xem: 99 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu sản xuất giống cá chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) trong điều kiện nhân tạo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 14 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHUỐI HOA (Channa maculata Lacépède, 1802) TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO STUDY ON SEED PRODUNTION OF MULLET SNAKEHEAD (Channa maculata Lacépède, 1802) UNDER ARTIFICIAL CONDITION Tạ Thị Bình1, Nguyễn Đình Vinh2, Chu Chí Thiết3 Ngày nhận bài: 05/5/2015; Ngày phản biện thông qua: 20/5/2015; Ngày duyệt đăng: 10/6/2015 TÓM TẮT Thử nghiệm sinh sản cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) trong điều kiện nhân tạo được tiến hành qua 4 thí nghiệm. Thí nghiệm 1: Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ gồm 3 nghiệm thức: sử dụng 100% thức ăn cá tạp (NT1); sử dụng 95% cá tạp và 5% thức ăn giun quế (NT2) và sử dụng 90% cá tạp và 10% thức ăn giun quế (NT3). Thí nghiệm 2: xác định liều lượng kích dục tố phù hợp để kích thích sinh sản cá cá Chuối hoa. Thí nghiệm 3: lựa chọn dụng cụ ấp trứng với 2 nghiệm thức là ấp trứng trong bể vòng và ấp trứng trong thùng xốp. Thí nghiệm 4: xác định mật độ ương cá bột lên cá hương ở các mật độ: 4 con/lít, 6 con/lít, 8 con/lít. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các loại thức ăn thử nghiệm đều cho tỷ lệ cá bố mẹ thành thục tương đối cao, từ 91,25% đến 100%. Sử dụng HCG với liều lượng (3500 UI/kg cá cái) có hiệu ứng kích thích sinh sản cá Chuối hoa cao hơn so với các liều dùng khác. Trong khi đó, trứng ấp trong bể vòng cho tỷ lệ nở cao và tỷ lệ dị hình thấp nhất so với trứng ấp trong thùng xốp; và mật độ ương 4 con/lít từ giai đoạn từ cá bột lên cá hương cá có tốc độ tăng trưởng cao hơn cá ương ở mật độ 6 con/lít và 8 con/lít. Tỷ lệ sống của cá bột trong quá trình ương tương đối cao, dao động từ 55,60% đến 63,78%. Từ khóa: Channa maculata, sinh sản, tăng trưởng, tỷ lệ sống, tỷ lệ nở ABSTRANT Study on seed produNTion of mullet snakehead (Channa maculata Lacépède, 1802) under artifi cial condition were conduNTed in four experiments. Experiment 1: conditioned broodstocks with three feeding treatments: fed with 100% of trash fi sh (NT1); fed with 95% of trash fi sh and 5% earthworm (Peryonyx excavatus) (NT2); and fed with 90% of trash fi sh and 10% earthworm (Peryonyx excavatus) (NT3). Experiment 2: Determination of the best dosage and type of hormone for stimulation of spawning of mullet snakehead. Experiment 3: SeleNTion of the best egg incubating tools with two treatments as circle tanks (NT1) and foam boxes (NT2). Experiment 4: optimum the stocking density in nursing larval with three different densities such as 4 fi sh/l , 6 fi sh/l and 8 fi sh/l. Results showed that mullet snakehead obtained high maturation rate, between 91.25 and 100% when fed with the experimented feed. Used HCG with a dosage of 3500 UI/kg for female was strongly stimulant affect compared to other hormones in this experiment. Used circle tank for incubating egg with aeration was higher hatching rate compared to incubated egg in the foam boxes; and the larval reared at stocking density 4 fi sh/l was higher growth rate compared to the stocking densities 6 fi sh/l and 8 fi sh/l. The survival rate of during period from early larval stage to fry stage was high, in between 55.60% to 63.78%. Keywords: Channa maculata, survival rate, maturation, spawning, hatching rate 1 ThS. Tạ Thị Bình, 2 ThS. Nguyễn Đình Vinh: Khoa Nông - Lâm - Ngư, Trường Đại học Vinh 3 ThS. Chu Chí Thiết: Phân viện Nghiên cứu thủy sản Bắc Bộ THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC I. ĐẶT VẤN ĐỀ Cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) là loài cá xương nước ngọt, thuộc họ cá quả (Channidae) và là loài cá có giá trị kinh tế phân bố ở Việt Nam. Cá chuối hoa có thịt ngon được sử dụng trong nội địa và xuất khẩu như là loài thủy đặc sản. Tuy nhiên, trong khoảng 10 - 15 năm gần đây, sản lượng cá ngoài tự nhiên giảm sút nghiêm trọng, số lượng cá trưởng thành ước tính giảm tới trên 80%. Có nhiều nơi trở nên khan hiếm hoặc Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 15 không còn thấy sự xuất hiện của cá Chuối hoa. Nguyên nhân chính là nơi cư trú tự nhiên của cá bị chia cắt, làm thu hẹp vùng phân bố, bãi đẻ hoặc bị đánh bắt quá mức, nhất là vào mùa sinh sản. Cá Chuối hoa là loài nằm trong danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển theo Quyết định số 82/2008-QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ký ngày 17 tháng 7 năm 2008. Cá được ghi trong sách đỏ Việt Nam với mức phân hạng nguy cấp (EN) và có trong danh sách các loài động vật cần được bảo tồn và bảo vệ gấp. Các công trình nghiên cứu về cá Chuối hoa ở trên thế giới và ở Việt Nam cũng chưa nhiều, các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở phân loại và mô tả đơn thuần trong các sách phân loại về khu hệ cá, bước đầu hình thành các cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học sinh sản. Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào được công bố về sản xuất giống cá Chuối hoa trong điều kiện nhân tạo tại Việt Nam. Trước thực trạng về nguồn lợi cá quý hiếm bản địa bị giảm sút nghiêm trọng ngoài tự nhiên, nên việc nhanh chóng phục hồi bảo tồn và nuôi thương phẩm cá Chuối hoa là việc làm cần thiết. Nghiên cứu đồng bộ và xây dựng quy trình sản xuất giống cá Chuối hoa giúp chủ động sản xuất giống nhân tạo, hạn chế đánh bắt khai thác ngoài tự nhiên, kiểm soát và cung ứng con giống chủ động chất lượng đảm bảo cho người nuôi. Nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo thành công góp phần làm tăng đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao trong tập đoàn cá nước ngọt Việt Nam, giữ được nguồn gen quý hiếm, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi cá nước ta hiện nay. II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) bố mẹ được tuyển chọn sau khi nuôi thuần hóa, cá có kích cỡ từ 0,8 - 1,0 kg/con. 2. Phương pháp nghiên cứu * Thí nghiệm 1: Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ với các loại thức ăn khác nhau Tiêu chuẩn cá đưa vào nuôi vỗ: ngoại hình phát triển cân đối, không có dị tật; không có biểu hiện mắc bệnh; cá cái có khối lượng trên 1,0 kg; cá đực có khối lượng trên 0,8 kg không quá béo hoặc quá gầy. Ao nuôi vỗ có diện tích khoảng 500 - 2000 m2; độ sâu nước khoảng 1,3 - 2,5 m; điều kiện cấp thoát nước dễ dàng. Môi trường nước ao trong quá trình nuôi vỗ được duy trì ổn định, nhiệt độ nước 25 - 300C; pH: 7,0 - 8,0; hàm lượng oxy hòa tan (DO) > 3 mg/lít; ao liên tục có nước chảy nhẹ. Thí nghiệm được tiến hành với 3 nghiệm thức thức ăn, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Cá đực, cái được nuôi chung theo tỷ lệ 1:1, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên. + NT1: sử dụng 100% thức ăn cá tạp; + NT2: sử dụng 95% cá tạp và 5% thức ăn giun quế; + NT3: sử dụng 90% cá tạp và 10% thức ăn giun quế. Cho cá bố mẹ ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều tối (17 giờ). Khối lượng thức ăn cung cấp bằng khoảng 3 - 5% khối lượng cá trong lồng. Trong quá trình cho cá ăn, chúng tôi đã theo dõi hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. * Thí nghiệm 2: Kích thích sinh sản bằng các liều lượng kích dục tố khác nhau Thí nghiệm được tiến hành gồm 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, đơn vị thí nghiệm là 1 cá thể cá đực hoặc cá cái được sử dụng kích dục tố. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên. Nghiệm thức 1 (NT1): 3000 IU HCG/kg cá cái. Nghiệm thức 2 (NT2): 3500 IU HCG/kg cá cái. Nghiệm thức 3 (NT3): 4000 IU HCG/kg cá cái. Nghiệm thức 4 (NT4): (35 - 40µg LRHa + 10mg DOM)/kg cá cái). Nghiệm thức 5 (NT5): (45 - 60µg LRHa + 15mg DOM)/kg cá cái). Nghiệm thức 6 (NT6): (65 - 70µg LRHa + 20mg DOM)/kg cá cái). Nhiệt độ nước tại thời điểm tiêm kích dục tố cho cá dao động trong khoảng 25 ÷ 300C. Thành phần và liều lượng kích dục tố dùng cho cá đực của mỗi nghiệm thức bằng 1/3 liều dùng sử dụng cho cá cái ở nghiệm thức tương ứng. Đối với cá cái, tiêm 2 lần (1 liều sơ bộ, 1 liều quyết định), liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều, liều quyết định bằng 2/3 tổng liều, tiêm vào gốc vây ngực, khoảng cách giữa 2 lần tiêm là 6 - 8 giờ; đối với cá đực tiêm 1 lần, tiêm vào gố c vây ngự c, liều tiêm bằng 1/3 tổng liều. Cơ sở để xác định liều lượng cho mỗi loại kích dục tố dựa vào giới hạn trên và giới hạn dưới của liều lượng từng loại kích dục tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá nước ngọt. * Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ấp trứng bằng các dụng cụ ấp khác nhau Thí nghiệm được tiến hành bởi 2 nghiệm thức: ấp trứng trong thùng xốp (NT1) và ấp trứng trong Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 16 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG bể vòng, có nước chảy nhẹ (NT2). Trong quá trình ấp, nước luôn được giữ sạch, thường xuyên loại bỏ trứng hỏng và có sục khí liên tục. * Thí nghiệm 4: Thử nghiệm ương cá bột lên cá hương ở các mật độ khác nhau Cá bột mới nở được ương trong bể composite kích thước 1x1x1 m đến giai đoạn cá hương, trong thời gian 28 ngày. Thí nghiệm được tiến hành với 3 mức mật độ: 4 con/lít (NT1), 6 con/lít (NT2), 8 con/lít (NT3). Thức ăn cho cá gồm động vật phù du, trùng chỉ. Sau 15 ngày, cho cá ăn thêm bột cá, bột đậu tương. Khối lượng thức ăn cung cấp bằng khoảng 10-15% khối lượng cá trong bể. 3. Thời gian và địa điểm Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015, tại Trại thực nghiệm thủy sản nước ngọt thuộc Khoa Nông - Lâm - Ngư, Trường Đại học Vinh. 4. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu thí nghiệm được xử lý, phân tích phương sai một yếu tố (one way ANOVA) và kiểm định để so sánh giá trị trung bình giữa các nghiệm thức với độ tin cậy 95% (P<0,05) bằngSPSS Version 16. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ Bảng 1. Kết quả thử nghiệm các loại thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ Chỉ tiêu nghiên cứu NT1 NT2 NT3 TL thành thục cá đực (%) 90,25 ± 2,52a 93,75 ± 3,20a 93,75 ± 2,12a TL thành thục con cái (%) 91,25 ± 3,21a 93,75 ± 2,34a 100 ± 0,00a Sức SS tương đối (số trứng/g cơ thể) 12,32 ± 0,56a 13,15 ± 0,38a 13,69 ± 0,62a Sức SS tuyệt đối (ngàn trứng/cá cái) 10,84 ± 0,23a 12,11 ± 0,32b 12,70 ± 0,42b Các chữ cái giống nhau ở các giá trị trong cùng hàng thể hiện không có sự khác (P>0,05) Kết quả tại bảng 1 cho thấy, các loại thức ăn được thí nghiệm đều cho tỷ lệ thành thục tương đối cao, ở cá đực đạt từ 90,25% - 93,75%; cá cái đạt từ 81,25% - 100%, sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P>0,05). Cá cái sử dụng thức ăn tương ứng với mức bổ sung giun quế từ 0% lên 10% có sức sinh sản tương đối tăng từ 12,32% đến 13,69% (P>0,05). Cá cái sử dụng thức ăn có bổ sung giun quế từ 5-10% có sức sinh sản tuyệt đối đạt cao hơn so với cá ăn thức ăn không bổ sung giun quế (P<0,05). Với kết quả trên có thể cho phép khuyến nghị, có thể sử dụng thức ăn cá tạp bổ sung 5-10% giun quế để nuôi vỗ cá Chuối hoa bố mẹ phục vụ cho sản xuất giống. 2. Kết quả xác định loại và liều lượng kích dục tố trong sinh sản nhân tạo của cá Chuối hoa Bảng 2. Số lượng, tỷ lệ cá cái đẻ trứng và hệ số thành thục sinh dục của cá Chuối hoa khi sử dụng các loại và liều lượng kích dục tố khác nhau Nghiệm thức Số cá cái đẻ trứng (con) Tỷ lệ cá cái đẻ trứng (%) Hệ số thành thục cá cái (%) Hệ số thành thục cá đực (%) NT1 3 100 5,93 ± 1,21 1,23 ± 0,08 NT2 3 100 6,30 ± 1,32 1,50 ± 0,13 NT3 3 100 6,17 ± 0,98 1,35 ± 0,12 NT4 3 100 5,63 ± 1,35 1,24 ± 0,20 NT5 3 100 5,23 ± 1,52 1,18 ± 0,32 NT6 3 100 5,83 ± 0,75 1,21 ± 0,41 Kết quả thử nghiệm cho thấy, việc sử dụng HCG với liều lượng từ 3000 IU đến 4000 IU hoặc sử dụng kết hợp 10 ÷ 20mg DOM cùng với hàm lượng LRHa từ 35µg ÷ 70µg cho tỷ lệ số cá thể cái có thể vuốt cho trứng đạt tỷ lệ tuyệt đối (100%). Hệ số thành thục của cá cái cao nhất ở nghiệm thức NT2, nhưng sai khác không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P>0,05). Tương tự ở cá đực cũng không có sự sai khác có ý nghĩa về hệ số thành thục giữa các nghiệm thức (P>0,05). Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 17 Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian hiệu ứng thuốc của cá Chuối hoa xảy ra dài nhất ở nghiệm thức NT4 (27,64 giờ), tiếp đến là NT1 (25,75 giờ) và ngắn nhất là NT2 (21,10 giờ); giữa các nghiệm thức thí nghiệm NT3 và NT5 khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05), trong khi giữa nghiệm thức NT2 và NT3, NT4, NT5 lại khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Nghiệm thức NT4 sử dụng kích dục tố (LRHa 35 - 40µg + 10mg DOM) cho thời gian hiệu ứng dài nhất, sai khác có ý nghĩa thống kê với tất cả các nghiệm thức thí nghiệm (P<0,05). Qua quá trình thí nghiệm ta thấy, sức sinh sản tuyệt đối của cá Chuối hoa dao động từ 11149 ÷ 14538 trứng/cá cái, sức sinh sản tương đối dao động khoảng 13 ÷ 16 trứng/g cá cái với khối lượng thân biến động 735 ÷ 1054 g/con. Bảng 3. Thời gian hiệu ứng và năng suất trứng của cá khi sử dụng các loại và các liều lượng kích dục tố khác nhau Nghiệm thức Thời gian hiệu ứng (giờ) Sức sinh sản tuyệt đối(trứng/cá cái) Sức sinh sản tương đối (số trứng/g cơ thể) NT1 25,75 ± 0,75bc 11738 ± 120 14 ± 2 NT2 21,10 ± 0,37a 14358 ± 123 16 ± 3 NT3 24,26 ± 0,93b 12650 ± 108 16 ± 2 NT4 27,64 ± 1,77c 11149 ± 110 13 ± 3 NT5 24,24 ± 0,82b 13272 ± 115 14 ± 2 NT6 23,38 ± 0,36ab 11281 ± 105 15 ± 3 Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ cái mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê với P <0,05 Bảng 4. Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình và tỷ lệ ra bột của trứng Nghiệm thức Tỷ lệ thụ tinh (%) Tỷ lệ nở (%) Tỷ lệ dị hình (%) Tỷ lệ ra bột (%) NT1 79,06 ± 1,99a 74,46 ± 4,31a 1,15 ± 0,30a 88,70 ± 1,53a NT2 88,61 ± 1,53a 82,50 ± 3,15a 0,67 ± 0,13a 92,03 ± 2,96a NT3 80,14 ± 4,79a 73,08 ± 2,26a 0,69 ± 0,87a 88,84 ± 1,06a NT4 77,52 ± 2,29a 78,12 ± 3,80a 1,27 ± 0,22ab 87,29 ± 1,53a NT5 82,01 ± 5,97a 83,06 ± 1,59a 1,19 ± 0,16a 89,70 ± 1,32a NT6 77,44 ± 2,01a 73,01 ± 4,89a 1,87 ± 0,23b 87,88 ± 1,20a Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thụ tinh giữa các nghiệm thức thí nghiệm cao nhất ở nghiệm thức NT2 đạt 88,61% và tỷ lệ thụ tinh thấp nhất ở NT6 đạt 77,44%, nhưng sai khác không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P>0,05). Tỷ lệ nở cao nhất ở nghiệm thức NT5 đạt 83,06% và thấp nhất ở NT6 đạt 73,01%, nhưng sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Tỷ lệ cá dị hình xuất hiện cao nhất ở nghiệm thức NT6 (1,87%) sai khác có ý nghĩa so với các nghiệm thức NT1, NT2, NT3 và NT5 (P<0,05), thấp nhất ở nghiệm thức NT2 (0,67%), nhưng khác nhau không có ý nghĩa so với nghiệm thức NT4 (1,27%). Điều này có thể giải thích khi sử dụng kích dục tố ở liều cao đã kích thích sự rụng trứng của cả những trứng còn chưa chín, làm giảm chất lượng trứng, làm tăng tỷ lệ cá thể dị hình. Tỷ lệ ra bột ở các nghiệm thức thí nghiệm tương đối cao, cao nhất ở nghiệm thức NT2 đạt 94,47% và thấp nhất ở NT6 đạt 86,27%, nhưng giữa các nghiệm thức có sự sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Như vậy, liều lượng kích dục tố đã ảnh hưởng tới thời gian gây hiệu ứng kích thích sinh sản của cá, nhưng ảnh hưởng không đáng kể đến tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ ra bột như trong thí nghiệm. 3. Kết quả ấp trứng cá Chuối hoa Trứng cá Chuối hoa có đường kính và khối noãn hoàng bé, thuộc dạng trứng nổi. Sau khi cá đẻ, trứng chụm lại thành một ổ tròn có màng nhớt bọc trên ổ trứng nhưng trong quá trình ấp, màng trứng mất dần. Do vậy, chúng tôi đã thí nghiệm ấp trứng trong thùng xốp và ấp trứng trong bể vòng có nước chảy nhẹ. Bảng 5. Kết quả ấp trứng cá Chuối hoa Nghiệm thức Số trứng/ lần ấp (quả) Mật độ ấp (trứng/cm2) Tỷ lệ nở (%) Tỷ lệ dị hình (%) Bể vòng 8000 10 86,50 ± 1,20a 1,34 ± 0,12b Thùng xốp 8000 10 74,28 ± 3,28b 1,68 ± 0,19a Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 18 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Các kết quả ở bảng 5 cho thấy, tỉ lệ nở của trứng khi ấp trứng trong bể vòng đạt 86,50% cao hơn khi ấp trứng trong trong thùng xốp đạt 74,28% (P<0,05). Tỉ lệ dị hình của cá bột ấp ở thùng xốp (1,68%), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trứng ấp trong bể vòng (1,34%) (P<0,05). Khi ấp trứng trong bể vòng có ưu điểm là có nước chảy, không gian rộng và rất thuận tiện khi loại trứng hỏng trong quá trình ấp, một khâu kỹ thuật quan trọng đảm bảo tỷ lệ nở cao còn ấp trứng bằng thùng xốp sẽ bị tích luỹ nhiều chất cặn ở đáy thùng trong quá trình ấp, khi trứng gần nở và trong quá trình nở. Như vậy, hình thức ấp trứng trong bể vòng tốt hơn hình thức ấp trứng trong thùng xốp. 4. Kết quả thí nghiệm ương nuôi cá bột 4.1. Kết quả về tăng trưởng Giai đoạn này cá ở các nghiệm thức thức ăn đều tăng trưởng tương đối tốt, từ cỡ thả trung bình 5,74 - 5,76 mm, sau 28 ngày ương nuôi cá đạt chiều dài trung bình dao động từ 23,42 - 24,84mm, tốc độ tăng trưởng bình quân ngày (ADG) từ 0,63 - 0,68 mm/con/ngày và và tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGR) từ 5,01 - 5,23%/ngày. Bảng 6. Kết quả ương của cá Chuối hoa từ giai đoạn ương cá bột lên cá hương Chỉ tiêu NT1 NT2 NT3 Cá thả (mm) 5,76 ± 0,04a 5,75 ± 0,06a 5,74± 0,00a Cá thu (mm) 24,84 ± 0,02c 23,98 ± 0,03b 23,42 ± 0,10a ADG (mm/ngày) 0,68 ± 0,01c 0,65 ± 0,02b 0,63 ± 0,02a SGR (%/ngày) 5,23 ± 0,03b 5,10 ± 0,04a 5,01 ± 0,01a Các chữ cái giống nhau ở các giá trị trong cùng hàng thể hiện không có sự khác(P>0,05) Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm tốc độ tăng trưởng bình quân theo ngày cao nhất là nghiệm thức NT1 (0,68 mm/con/ngày), tiếp đến là NT2 (0,65 mm/con/ngày) và thấp nhất là NT3 (0,63 mm/con/ngày) (P<0,05). Kết quả phân tích thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá chuối hoa qua 28 ngày ương có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức thức ăn. Cá chuối hoa ương ở nghiệm thức1 (NT1) (5,23%/ ngày) có tốc độ tăng trưởng cao hơn, có ý nghĩa thống kê so với NT2 (5,10%/ngày) và NT3 (5,01%/ ngày) (P< 0,05). Hình 1. Cá chuối hoa giai đoạn bột Hình 2. Cá chuối hoa giai đoạn hương 4.2. Kết quả về tỷ lệ sống cao ở các nghiệm thức NT1 (4 con/lít), đạt 63,78%, NT2 (6 con/lít) đạt 57,50% và NT3 (8 con/lít) đạt 55,60%. Kết quả phân tích thống kê cho thấy, có sự sai khác về tỷ lệ sống của cá giữa nghiệm thức NT1 với các nghiệm thức NT2, NT3 (P<0,05), nhưng giữa 2 nghiệm thức NT2 và NT3 lại khác nhau không có ý nghĩa (P>0,05). IV. KẾT LUẬN - Các loại thức ăn được thử nghiệm đều cho tỷ lệ thành thục tương đối cao đạt từ 91,25% đến 100%. Cá cái sử dụng thức ăn có bổ sung giun quế từ 5-10% có sức sinh sản tương đối đạt cao hơn so với cá ăn thức ăn không bổ sung giun quế. Hình 3. Tỉ lệ sống của cá Chuối hoa khi ương ở các mật độ khác nhau Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ sống thể hiện ở hình 3: Tỷ lệ sống khi kết thúc thí nghiệm tương đối Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 19 - Loại kích dục tố HCG (3500 IU HCG/kg cá cái) cho hiệu quả xử lý: thời gian hiệu ứng thuốc giờ 22,93 giờ, tỷ lệ trứng được thụ tinh 88,61%, thời gian nở 66,35 giờ, tỷ lệ nở 82,5%, tỷ lệ ra bột 94,47%; được đánh giá tốt cho sinh sản nhân tạo của cá Chuối hoa. - Trong quá trình ấp trứng thí nghiệm, các hình thức ấp khác nhau đều cho tỷ lệ trứng nở tương đối cao. Hình thức ấp trong bể vòng cho tỷ lệ nở cao và tỷ lệ dị hình thấp hơn so với hình thức ấp trong thùng xốp. - Cá bột ương ở mật độ 4 con/lít có tốc tộ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn cá ương ở các mật độ 6 con/lít và 8 con/lít. Trong quá trình ương, tỉ lệ sống của cá bột đến cá hương tương đối cao, dao động từ 55,60% đến 63,78%. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Tường Anh (1999), Một số vấn đề về nội tiết học sinh sản cá, NXB Nông nghiệp. 2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Danh lục đỏ Việt Nam, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 412tr. 3. Chen, T. P. (1976), Aquaculture PraNTices in Taiwan. Fishing News (Books) Limited, Farnham, England. 4. Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2001), Cá nước ngọt Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội. 5. Nguyễn Anh Hiếu, Trần Ngọc Thư, Nguyễn Hữu Ninh, Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục và sản xuất giống nhân tạo cá Chiên (Bagarius rutilus Ng & Kotelat, 2000), Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 8/2008, trang 48 -51.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_san_xuat_giong_ca_chuoi_hoa_channa_maculata_lacep.pdf