Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Đinh Hùng - Hồ Văn Quốc

KẾT LUẬN Thơ Đinh Hùng đã đi trọn hành trình thơ tượng trưng. Bằng cái nhìn “thấu thị” và tương ứng cảm quan, nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới thi ca dị biệt, kết liên đường dây giao cảm giữa con người và vũ trụ, thực tại và mộng ảo, hữu hạn và vô cùng, hiện tại và quá khứ. Tất cả phải hư lên vì thực. Để đạt được điều này, Đinh Hùng sáng tạo ra những biểu tượng tươi mới, độc đáo mang ý nghĩa tượng trưng cho cái Đẹp, Tình Yêu và Sự Sống bất tử ở cõi địa ngục và địa đàng. Bên cạnh đó, âm nhạc và ngôn ngữ tượng trưng cũng góp phần đưa thơ Đinh Hùng đạt đến tính chất của vô biên, đồng thời giúp người thơ tìm thấy bản lai diện mục của mình, tìm ra những hệ quả hiện thực đầy bí ẩn, tươi nguyên của thế giới và tâm hồn con người.

pdf10 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Lượt xem: 446 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Đinh Hùng - Hồ Văn Quốc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 02(18)/2011: tr. 65-74 DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ ĐINH HÙNG HỒ VĂN QUỐC Trường Đại học Dân lập Phú Xuân, Huế Tóm tắt: Thơ Đinh Hùng đã đi trọn hành trình thơ tượng trưng. Bằng cái nhìn “thấu thị” và tương ứng cảm quan, nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới thi ca dị biệt, kết liên đường dây giao cảm giữa con người và vũ trụ, thực tại và mộng ảo, hữu hạn và vô cùng, hiện tại và quá khứ... Tất cả phải hư lên vì thực. Để đạt được điều này, Đinh Hùng sáng tạo ra những biểu tượng tươi mới, độc đáo mang ý nghĩa tượng trưng cho cái Đẹp, Tình Yêu và Sự Sống bất tử ở cõi địa ngục và địa đàng. Bên cạnh đó, âm nhạc và ngôn ngữ tượng trưng cũng góp phần đưa thơ Đinh Hùng đạt đến tính chất của vô biên, đồng thời giúp người thơ tìm thấy bản lai diện mục của mình, tìm ra những hệ quả hiện thực đầy bí ẩn, tươi nguyên của thế giới và tâm hồn con người. MỞ ĐẦU Bằng một cuộc cách mạng, Thơ mới (1932-1945) đã đi vào quỹ đạo hiện đại, làm thay đổi sắc diện cả một nền thơ ca truyền thống. Chưa bao giờ, người ta thấy nở rộ nhiều khuynh hướng, trường phái thơ như lúc này. Đặc biệt, từ sau năm 1936, khi “ảnh hưởng của thơ Pháp lại thấm thêm một tầng nữa” – “tầng” chủ nghĩa tượng trưng – Thơ mới càng chứng tỏ ưu thế của mình trong việc khám phá thế giới, cuộc sống và con người hiện đại ở một chiều kích mới: vô biên, bí ẩn, linh động và huyền nhiệm. Trong xu hướng đó, Thơ mới lại tiếp tục “trình chánh giữa làng thơ” một bản đại hoà tấu mang phong cách hiện đại. Trong đó, mỗi thi sĩ mang một chủ âm riêng: Xuân Diệu thiết tha với khúc hát yêu đương, ham sống đến cuồng nhiệt; Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên mê man với những thanh âm kinh dị mà có sức ám ảnh lạ thường; Bích Khê thắp sáng thế giới tâm linh bằng nhạc, lệ và hoa; Vũ Hoàng Chương ngả nghiêng trong men khói với “điệu kèn biếc quay cuồng”... Và trước lúc bản hoà tấu kết thúc, Đinh Hùng bỗng xuất hiện và ngân lên những giai điệu “man rợ”, “mê hồn” bởi một thế giới thi ca dị biệt được kiến tạo từ những giấc “chiêm bao thần bí” in đậm dấu ấn chủ nghĩa tượng trưng. 1. THƠ ĐINH HÙNG - CẤU TẠO BẰNG TÍNH CHẤT CỦA VÔ BIÊN Phải nói ngay rằng, các nhà thơ tượng trưng đã mở ra một cách nhìn mới về thế giới, đời sống và tâm hồn con người hiện đại. Họ không bằng lòng với cách phô diễn tình cảm lồ lộ, “dễ dãi như một kĩ nữ, ai ve vãn cũng được” của thơ lãng mạn mà chủ trương sáng tạo một lối thơ thuần khiết, ẩn chứa những rung động sâu xa của vô thức, tâm linh. Đồng thời, họ phản ứng với phái Thi sơn quá câu nệ hình thức, nặng tinh thần thực chứng mà bỏ qua những rung cảm tinh tế, bí ẩn của tâm hồn. Hơn nữa, các nhà thơ tượng trưng cũng không tán thành chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt là chủ nghĩa tự nhiên trong việc ứng dụng phương pháp khoa học thực nghiệm vào sáng tác văn chương. Baudelaire tuyên bố: “Thơ ca là cái gì đó hiện thực hơn, cái gì đó chỉ hoàn toàn thật trong một thế giới khác”, còn J. Moréas trong Tuyên ngôn tượng trưng cho rằng: thơ HỒ VĂN QUỐC 66 ca tượng trưng biểu hiện trước hết “những tư tưởng nguyên uỷ”, nó là kẻ thù của “sự mô tả khách quan”. Chính lẽ đó, khám phá sự bí ẩn, tương hợp của thế giới và nội tâm con người trở thành mục đích và bản chất của thơ tượng trưng. Chẳng ai nói khác, thơ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng rõ nét thơ ca tượng trưng Pháp. Ngay từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, Đinh Hùng đã tỏ ra say mê Baudelaire, Mallarmé, Verlaine và đặc biệt Rimbaud không chỉ ở thơ ca mà ngay cả trong lối sống. Chàng trai ấy sớm mang dòng máu “nổi loạn”, “suy đồi” của Rimbaud, lại thêm bị chấn thương tâm lý do ám ảnh bởi những cái chết dồn dập của người thân khiến nhà thơ cảm thấy cuộc đời trở nên u ám, vô thường, mong manh, dễ vỡ. Hơn nữa, thế giới thực tại mà thi nhân đang sống chất chứa đầy cạm bẫy với những quan hệ thực dụng, mọi giá trị tinh thần, đạo đức đang bị băng hoại. Thế nên, ông quyết rũ bỏ thực tại để dấn thân vào con đường đam mê, nổi loạn mong tìm thấy sự tự do tuyệt đối trong tinh thần ngay từ thời cắp sách đến trường: “Ta ném bút, dẫm lên sầu một buổi/ Xa vở bài, mở rộng sách ham mê/ Đã nhiều phen trèo cổng bỏ trường về / Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn” (Khi mới nhớn). Trong bóng tối dày đặc của tương lai, trong nỗi đau ê chề của tuổi trẻ, Đinh Hùng đã ngoảnh mặt với đời, cho tâm linh trôi theo dòng mộng ảo đưa ông vượt thoát hiện thực đời thường đến những miền xa thẳm, tươi nguyên, bí ẩn “mà ta mến yêu và chưa hề biết đến bao giờ” (Baudelaire) đó là thuở hồng hoang, huyền sử; là chốn địa ngục, địa đàng làm cho tất cả phải hư lên vì sự thật. Do đó, khám phá thi giới Đinh Hùng, độc giả sẽ được phiêu du vào một thế giới huyền ảo, hư cấu đầy tinh thần sáng tạo bởi cái nhìn “thấu thị” của nhà thơ. Phủ nhận thực tại, Đinh Hùng quay về thời nguyên thuỷ, thuở hồng hoang của loài người, nơi ngự trị của vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã, cổ sơ với những “loài hoang thảo”, “hoa man dại”, “dòng suối ngọt”, “bóng non xanh”; nơi con người giao hoà cùng vũ trụ, nơi cái tôi hoà vào cái ta, ý thức dị biệt, đối kháng chưa hình thành; nơi con người sống hoà đồng, bình đẳng với cỏ cây, muôn thú: “Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ / Ta nằm trên cỏ lắng tai nghe... / Thèm ăn một chút hoa man dại/ Và ngủ như loài muông thú kia” (Những hướng sao rơi). Đi về “những hướng sao rơi” là cách thi nhân chối bỏ cuộc sống văn minh đô thị chất chứa đầy bất trắc, biến thiên và làm cho con người tha hoá, thậm chí “lạc thiên nhiên đến cả bọn đàn bà”. Cho nên, khi phải đối mặt với thực tế đầy rẫy cạm bẫy đó, Đinh Hùng vỡ mộng, đau khổ, hoảng loạn. Nhà thơ chỉ còn cách tạo ra một thực tại ảo để lẫn trốn sự chống đối, đó là chốn địa đàng nhưng không có “trái cấm” làm nơi trú ngụ cho “đôi người cô độc thuở sơ khai”. Chính tại đây, người thơ đã dệt nên “mối kỳ tình” với Người gái thiên nhiên. Nàng là hiện thân của vẻ đẹp trinh nguyên, hoang dã: Nàng lớn lên giữa mùa xuân hoa cỏ, Nửa linh hồn u ám bóng non xanh. Ngoài thiên nhiên nở bừng thân mỹ nữ, Nàng yêu ta huyền hoặc mối kỳ tình. (Người gái thiên nhiên) DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ ĐINH HÙNG 67 Tình yêu trong đời thực dù đắm say, mãnh liệt đến đâu cũng bị rào cản của giới hạn trong đó cản trở lớn nhất là sự hữu hạn của đời người. Đinh Hùng đã chứng nghiệm và thấm thía điều đó từ cái chết của “người đẹp ngày xưa tên giống hoa”: Liên - một loài hoa mùa hạ. Nàng là mối tình đầu cuồng si, diễm lệ của nhà thơ. Nàng chợt đến rồi ra đi như hư ảnh để suốt đời thi nhân cứ mãi kiếm tìm. Chính vì không thoả mãn khát vọng yêu đương trong kiếp nhân sinh, Đinh Hùng đã dồn tất cả đam mê, cuồng vọng vào trong một tình yêu hư cấu, hòng giải phóng con người thoát khỏi những mối dây ràng rịt cũng như bản thể con người. Và chỉ với tình yêu ấy, nhà thơ mới đi đến tận cùng miền hoan lạc, cõi vĩnh hằng của tinh thần và tình yêu bất tử: Ta đặt em lên ngai thờ Nữ Sắc, Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da. Buổi em về, xác thịt tẩm hương hoa, Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết. (Kỳ nữ) Đứng trước vẻ đẹp hoang dã và trinh khiết của người con gái mà nhà thơ xưng tụng là Người gái thiên nhiên, Kỳ nữ, Gái – Muôn - Đời... trái tim Đinh Hùng luôn bị cám dỗ, mê hoặc. Thi nhân đặt họ lên “ngai thờ Nữ Sắc” với tấm lòng sùng kính như con chiên ngoan đạo đứng trước Chúa Giêsu. Tuy nhiên, “người ta thấy bất kỳ một tình cảm mãnh liệt nào cũng đều xuất phát từ một gốc rễ của một tình cảm đối lập. Một tình yêu cuồng nhiệt bao giờ cũng đi kèm với oán hờn căm giận” [3, tr. 172]: “Lòng tín ngưỡng cả mùi hương phản trắc” (Hương trinh bạch), “Cây từ bi hiện đoá Ác hoa đầu” (Tìm bóng tử thần), “Tất cả em đều bắt ta khổ não / Và oán hờn căm giận tới đau thương / Và yêu say, mê mệt tới hung cuồng / Và khát vọng đến vô tình vô giác” (Kỳ nữ). Ở đây, tác giả Mê hồn ca đã gặp gỡ tác giả Những bông hoa Ác trong quan niệm nhị nguyên về cái thiện và cái ác, cao cả và thấp hèn... Đinh Hùng đi vào khám phá vẻ đẹp hai mặt ở con người và dù ở mặt nào thiên thần hay ác quỹ, thi sĩ cũng đẩy đến tuyệt đỉnh trong sự mách bảo của vô thức, bản năng. Phải nói rằng lầu thơ Đinh Hùng không xây trên mảnh đất trần gian mà “kiến trúc” từ những giấc “chiêm bao thần bí” tạo nên một thế giới siêu hiện thực. Ở đó, cái thực hoà vào cái ảo: “Ngày xưa Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính... vẽ mộng để tô điểm thực tại, làm cho thực tại thơ mộng hơn; trái lại Đinh Hùng vẽ sự thật lên mộng, để mộng có vẻ gần thực tại hơn” [4, tr. 399]. Từ những nỗi khổ đau rất thật về cuộc đời và thân phận con người, Đinh Hùng đã đi tìm sự giải thoát cho kiếp người ở những miền ngoài cõi nhân gian: chốn địa đàng và địa ngục - một thế giới ảo – nơi không còn có tử biệt sinh ly, nơi mà Đinh Hùng sẽ gặp lại người con gái ngày xưa: Trời ơi! đây nguyệt vô biên Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ! Ta cười suốt một trang thơ, Gặp hồn em đó còn ngờ yêu ma (Tìm bóng tử thần) HỒ VĂN QUỐC 68 Và “trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ”, người thơ lạc vào từng bước đắm say “mê muội giữa một bầy yêu quái” với khúc hát vong tình bay chót vót trên núi non mở hội oan hồn và khát khao cuồng loạn giữa đêm khuya cái chết sẽ tái sinh, kết giao cho những tình yêu kỳ dị: “Giữa đêm đời sẽ hồi sinh / Nhân gian hát khúc vong tình lên non / Đôi ta vào hội oan hồn / Nhân gian tái hợp / Ồ! Đây là cuộc tân hôn dị kỳ!” (Cầu hồn). Chốn địa ngục trong thơ Đinh Hùng không gợi lên cảm giác ghê rợn, bi thảm của sự chết chóc, nhục hình. Trái lại, đó là một thế giới sống động có trăng, hoa, nhạc, hương, có Mê Cung, Biển Giác, Non Thần, có “Xuân phương thảo cũng như Xuân tùng bách”. Mọi thứ đều tuyệt diễm như chốn thần tiên làm thi nhân lạc bước: Ta đi, lạc xứ thần tiên. Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh. (Gửi người dưới mộ) Sáng tạo nghệ thuật trong trạng thái siêu thăng, Đinh Hùng để linh hồn mình trôi đến những miền xa thẳm. Và “Khi mặt trời đẫm máu phía sau lưng” - biểu tượng cái chết của xã hội văn minh – nhà thơ làm cuộc hành hương trở về “thời xa vắng” khởi đầu từ Buổi – Sơ – Khai, Hồng hoang, Tiền sử đến thời Huyền sử. Tất cả đi vào thơ, ngụp lặn trong tiềm thức thi sĩ: “Ôi! giữa trời Thơ, những đêm hiền hậu / Con chim nào kêu vẳng tiếng trần ai ? / Mấy thu xanh dòng thác lệ u hoài ? / Thời xa vắng mở hương lòng trái đất” (Người gái thiên nhiên). Cảm thâu, thống đoạt thời gian bằng linh giác, Đinh Hùng sáng tạo ra những hình ảnh ước lệ, ẩn chứa một quan niệm nghệ thuật về thời gian: “đêm hiền hậu”, “thu xanh”, “thời xa vắng mở hương lòng trái đất”. Nhà thơ đã biến cái thoáng chốc thành cái vĩnh cửu, cái khoảnh khắc thành cái bất diệt, thời gian hoà tan vào không gian, hay nói như Đỗ Lai Thuý: “không gian hoá thời gian”: Xưa mạch đất dấu nghìn xuân vũ trụ, Ta lãng du, chợt gặp cỏ hoa tình. Mừng phong cảnh bốn mùa về hội ngộ, Em gọi tên hồn non nước sơ sinh. (Hoa sử) Trở về thời Thái cổ, thi nhân lạc bước vào Hoa sử, nơi lưu giữ sự sống sơ khai, nơi bốn mùa xuân, hạ, thu, đông cùng hội tụ trong cái thiên nhiên bất biến. Chính sự nỗ lực phi thời gian hoá đó, Đinh Hùng nhanh chóng đưa con người đạt tới sự vĩnh cữu, trút bỏ mọi gánh nặng âu lo, khắc khoải về thời gian hữu hạn đời người dù trong chốc lát. Bằng cảm quan tượng trưng, thơ Đinh Hùng đã mở ra một cách nhìn mới về thế giới và cuộc sống con người trong tính hai mặt. Thi nhân đã “kiến trúc” lầu thơ trên chất liệu hỗn hợp của thực thể và hư vô tạo nên một siêu hiện thực về thế giới đưa thơ đạt đến tính chất của vô biên. Chính cách nhìn ấy đã chi phối thi giới Đinh Hùng từ lối tư duy thơ đến phương thức biểu đạt. DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ ĐINH HÙNG 69 2. THƠ ĐINH HÙNG - MỘT CẢM QUAN THẨM MĨ MỚI Khám phá thế giới ở chiều bí ẩn, huyền nhiệm và trong những mối liên hệ siêu việt giữa cái hữu hình và vô hình, giữa con người và thế giới, Đinh Hùng đã đem đến một lối tư duy, cảm quan thẩm mĩ mới cho thơ, góp phần đưa thơ Việt Nam nhanh chóng hoà vào dòng chảy của thi ca hiện đại thế giới. Cái làm nên cảm quan thẩm mĩ mới ở thơ Đinh Hùng trước hết là tư duy tương hợp, một trong những sáng tạo nghệ thuật có ý nghĩa lớn nhất của thơ tượng trưng, mà cha đẻ của nó là Baudelaire. Trong bài Tương hợp, nhà thơ đặt ra một vấn đề vừa mang ý nghĩa phát hiện vừa là tuyên ngôn thơ tượng trưng: “Hương thơm, màu sắc và âm thanh tương hợp với nhau”. Điều này không chỉ ám ảnh, định hướng tư duy nghệ thuật Baudelaire mà còn nhiều nhà thơ tượng trưng khác trong đó có Đinh Hùng. Bước vào lầu thơ Đinh Hùng, ta như được phiêu du trong một thế giới nhiệm màu. Tất cả hoà hợp, tương giao trong một thể thống nhất sâu thẳm giữa con người và thiên nhiên: “Rừng buổi đó vang tiếng cười mang rợ / Quả tơ duyên đỏ thắm sắc trên cành / Chúng ta đi lặng ngắm núi đồi xanh / Bước trên cỏ để nghìn sau in dấu” (Người gái thiên nhiên); giữa hữu hình và vô hình, thực và ảo: “Điệu nhạc nghiêng mình, anh sẽ nghe / Nghìn xưa âm hưởng bước Em về / Bông hoa áo tím trôi vào mộng / Anh sẽ tìm Em nhập giấc mê” (Nhập mộng); giữa hương thơm, màu sắc và âm thanh: “Sóng mắt trôi dòng nhạc khởi nguyên / Em từ bao kiếp dựng lời nguyền? / Màu xanh ý niệm chưa thành bướm / Nhịp bước Em vào tiết điệu Quên” (Trái tim hồng ngọc). Giải mã thế giới, con người bằng cái nhìn “thấu thị” và tương ứng cảm quan, Đinh Hùng đã tạo ra những liên tưởng bất ngờ, độc đáo và đem đến cho người đọc những trực cảm mới lạ. Từ đó, nhà thơ dẫn dụ độc giả xa dần cái thực tại hiện hữu để phiêu linh vào địa hạt hư ảo hòng tìm ra bản chất bí ẩn bên trong của sự vật: Mộng viết lên từng bản điếu tàng dài Lời văn thư kinh dị - Nghệ Thuật cười một tiếng bi ai. (Thoát duyên trần cấu) Quả thực, thơ Đinh Hùng là thơ “kinh dị”, “chiêm bao thần bí”, “mê hồn”, nó đưa thi nhân đến miền hư thực, đồng thời tìm thấy mối liên hệ huyền bí, mơ hồ giữa con người và thế giới thông qua hệ thống biểu tượng. Bởi theo các nhà thơ tượng trưng, biểu tượng gắn liền với quan niệm về tính thống nhất “thâm u và sâu xa” của vũ trụ: Vũ trụ là một ngôi đền mà trụ cột thiên nhiên Thỉnh thoảng nói lên những lời mơ hồ, bí ẩn Con người đi qua, cả một rừng biểu tượng Nhìn chúng ta với những con mắt thân quen (Tương hợp – Baudelaire) HỒ VĂN QUỐC 70 Từ cái nhìn thế giới mang tính nhị nguyên, sâu thẳm, Đinh Hùng đã sáng tạo nên “một rừng biểu tượng” gắn với những trực cảm riêng biệt, chủ quan đầy tinh thần nổi loạn của người nghệ sĩ. Chính vì thế, biểu tượng trong thơ Đinh Hùng không bị khuôn vào những quy chuẩn, kinh nghiệm mà luôn mới lạ, độc đáo, phong phú đến không ngờ. Tuy nhiên, ở bài viết này, chúng tôi chủ yếu hướng vào những biểu tượng mang tính tượng trưng về chốn địa đàng và địa ngục của thơ ông. Mang những nỗi đau tinh thần quá lớn, lại thêm chán chường về thế cuộc, nhà thơ đã từ bỏ thực tại để lãng du vào miền bí ẩn của cõi địa đàng – nơi sự sống, tình yêu là bất tử, nơi cái Đẹp là tuyệt đối, vô biên. Tại đây, người thơ tìm lại được bản chất tiên thiên của con người qua biểu tượng Người gái thiên nhiên và Kỳ nữ. Họ là hiện thân của vẻ đẹp hoang sơ, trinh bạch và vĩnh cửu: “Nàng là Gái – Muôn - Đời không đổi khác / Bộ ngực tròn nuôi cuộc sống đương xuân / Ta đến đây làm chủ hội phong trần / Lấy hoa lá kết nên Tình Thái Cổ” (Người gái thiên nhiên). Chính những người “Gái - Muôn - Đời” ấy là điểm tựa tinh thần, là đức tin cứu rỗi linh hồn thi nhân khi ông nhận ra rằng con người hiện đại chỉ là hiện thân của sự phản trắc, chối bỏ cội nguồn, “đến cả bọn đàn bà” cũng “lạc thiên nhiên”. Hơn nữa, “Gái - Muôn - Đời” còn là sự thăng hoa cảm xúc của nhà thơ từ người con gái mệnh yểu tên Liên. Bóng hình nàng cứ bám riết lấy nhà thơ như một định mệnh phũ phàng. Đau đớn, tuyệt vọng đến cuồng dại tâm linh, thi sĩ đã gửi gắm tất cả niềm khát khao hạnh phúc vào người Kỳ nữ. Nàng sống trong cõi siêu nghiệm với một nhan sắc không hình hài song Kỳ nữ chính là biểu tượng của vẻ đẹp vĩnh hằng, bất biến bởi tất cả ở nàng đều mang đậm chất thiên nhiên: “Ở bên Em – ôi biển sắc, rừng hương / Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm”, “Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa / Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết”... Chỉ với người ấy, Đinh Hùng mới có thể yêu đương vô độ, giúp ông giải phóng những ẩn ức dục tình và tìm thấy được “giấc mộng hai lần giai nhân đẹp”. Đinh Hùng không chỉ lãng du trong chốn địa đàng mà còn vào tận cùng địa ngục nhằm kiếm tìm một sự sống trường cữu. Tại đây, ta bắt gặp nhiều biểu tượng về cái chết như: Bướm, mặt trời, máu, tử thần, hồn..., song ấn tượng hơn cả là nấm mồ và ma nữ. Với nhiều thi sĩ, nấm mồ chỉ là nơi yên nghỉ cuối cùng của một đời người: “Thanh minh trong tiết tháng ba / Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh” (Truyện Kiều - Nguyễn Du), hay là kí ức buồn cho một số kiếp: “Người đã chết - Một vài ba đầu cúi / Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ” (Nhạc sầu – Huy Cận)... Còn Đinh Hùng, nấm mồ là một siêu hiện thực về thế giới, nơi cái chết sẽ hồi sinh và sự sống là bất tử. Vì thế, nó trở thành chỗ nương náu an toàn nhất thay cho cái thực tại vốn đầy bất trắc này: “Xa nấm mồ, chúng ta cuồng dại hết / Để yêu tà về khóc dưới non cao” (Tìm bóng tử thần). Trong muôn vàn oan hồn dưới chốn âm ty, Đinh Hùng thường bị ám ảnh bởi ma nữ. Không phải ngẫu nhiên trong văn học ma thường gắn với người đàn bà đẹp, tài hoa mà mệnh bạc. Theo các nhà xã hội học, ma nữ là một biểu hiện của mâu thuẫn xã hội. Những oan hồn khi sống bị vùi dập, nay chết đi đòi được trả thù. Tuy nhiên, biểu tượng ma nữ trong thơ Đinh Hùng tượng trưng cho sự sống vĩnh hằng, cho tình yêu bất tử: DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ ĐINH HÙNG 71 Trời cuối thu rồi – Em ở đâu? Nằm bên đất lạnh chắc em sầu? Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy, Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu. (Gửi người dưới mộ) Có thể nói, trong các nhà thơ mới thuộc làn sóng thứ hai (1936-1945), Đinh Hùng là người rất ý thức tạo tác biểu tượng cho thơ. Ông đã dựng lên một “rừng biểu tượng” từ những cơn “mê hồn” để bắt nhịp cầu đi về giữa hai thế giới thực - ảo, hữu thức – vô thức. Vì thế, biểu tượng thơ Đinh Hùng luôn tươi nguyên, mới lạ và giữ vai trò là sứ giả nắm giữ thông điệp kết liên hai thế giới. 3. THƠ ĐINH HÙNG - SỰ “NỔI LOẠN” CỦA NHẠC ĐIỆU VÀ NGÔN TỪ Bên cạnh những rung động mới trước thế giới và con người bằng cảm quan tương ứng và biểu tượng thẩm mỹ, thơ Đinh Hùng còn thể hiện sự “nổi loạn” trong nhạc điệu và ngôn từ. Điều mà các nhà thơ tượng trưng quan tâm thường trực. Trong Nghệ thuật thơ, một thi phẩm ít nhiều mang tính tuyên ngôn của Verlaine, ông chủ trương “âm nhạc trước mọi điều” và “Âm nhạc nữa và mãi mãi/ Sẽ làm cho thơ anh trở nên bay bổng/ Mà người ta cảm thấy một linh hồn đang trốn chạy/ Tới những vùng trời khác và những tình yêu khác”. Vấn đề tạo nhạc cho thơ vốn không mới, Voltaire cho rằng: “thơ là hùng biện du dương”, còn các nhà thơ cổ điển phương Đông có hẳn một tiêu chí: “thi trung hữu nhạc”. Tuy nhiên, nhạc tính trong thơ trung đại đã có sự khác biệt so với thơ tượng trưng không chỉ ở mức độ mà còn ở khả năng biểu hiện. Thơ tượng trưng đặc biệt đề cao vai trò của âm nhạc. Mỗi từ, mỗi câu là một nốt nhạc gắn kết, hoà quyện giữa tâm hồn con người với vũ trụ. Cho nên, âm nhạc trong thơ tượng trưng vô cùng linh động, tinh tế có khả năng đi sâu vào sự vật, tâm linh; đi xa tới địa đàng, địa ngục, khám phá những điều bí ẩn, kì diệu của thế giới siêu hình và giải thoát con người khỏi những thực tại chán chường. Vì thế, nhạc điệu không tách rời ý nghĩa, nói như Valéry: “Thơ là sự dao động giữa âm thanh và ý nghĩa”. Trong khát vọng đưa thơ đến những “vùng trời khác và tình yêu khác” giống Verlaine, Đinh Hùng đã tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc tạo nên những bài thơ - nhạc mê hoặc lòng người. Đặc biệt với Mê hồn ca, âm nhạc giúp thi sĩ mở cánh cửa tâm linh, nâng trí tưởng tượng bay bỗng và gợi ra những giấc mơ kì diệu: Em mộng về đâu? Em mất về đâu? Từng đêm tôi nguyện tôi cầu, Đấy màu hương khói là màu mắt xưa. HỒ VĂN QUỐC 72 Em đã về chưa? Em sắp về chưa? Trăng sao tắt ngọn đèn mờ, Ta nằm rõ lệ đọc thơ gọi hồn. Em hãy cười lên vang cõi âm, Khi trăng thu lạnh bước đi thầm. Những hồn phiêu bạt bao năm trước, Nay đã vào chung một chỗ nằm. (Gửi người dưới mộ) Bài thơ nghe như một lời kinh cầu hồn, nó ám thị người ta không những bằng hình ảnh, ngôn từ ma quái mà còn ở giai điệu cảm xúc của dòng tâm tư bất định tạo ra từ sự phối hợp đan xen bởi những câu thất ngôn, tứ ngôn, lục bát khiến nhịp điệu thơ đứt gãy, tiết tấu chuyển đổi liên tục, bất ngờ. Bên cạnh đó, nhà thơ còn khai thác triệt để ưu thế của lối gieo vần gián cách và vần ôm, liên kết các câu thơ lại với nhau hoà thành một bản tổng phổ nghe thật ai oán, não nề. Nhiều bài thơ của Đinh Hùng như: Màu sương linh giác, Cầu hồn, Tìm bóng tử thần... đều có chung một tông nhạc như vậy: “Ta hằng nghe rõ / Tiếng buồn trong sương / Hằng thấy trên tường / Hình ma, bóng nhớ / Chỗ em ngồi cũ / Lên màu khói sương” (Màu sương linh giác). Nhìn chung, âm nhạc trong thơ Đinh Hùng không bị khuôn vào thi điệu có sẵn mà gắn liền với sự phát triển tự nhiên của cảm xúc, chuyển động trong từng giây từng phút để rồi tự nó chọn lấy nhịp điệu thích hợp, không gò bó của thơ tự do. Vì thế, độc giả thoả sức thả hồn mình chuồi theo những trạng thái tinh thần thăng hoa của người nghệ sĩ, từ đó dẫn dụ họ đi vào cõi kì bí, hư ảo và thanh khiết. Đồng thời, cùng với biểu tượng, âm nhạc đánh thức bẩm tính cổ sơ, bản năng và linh hồn của con người. Không dừng lại ở đó, thơ Đinh Hùng đã đi đến chủ nghĩa tượng trưng của Mallarmé và Rimbaud - những ảo thuật gia ngôn từ. Theo Mallarmé: thơ không chỉ trình bày ý tưởng mà quan trọng hơn là làm sáng lên vẻ đẹp và mang lại giá trị tự thân cho ngôn ngữ để mỗi từ “đọc lên nghe như thần chú”. Còn Rimbaud đã đem đến cho ngôn ngữ thơ tính độc đáo, hiện đại và có sức ám ảnh lạ thường khi tạo ra những lớp từ “chưa bị hoen ố”, hoặc trả lại cho nó “những ý nghĩa bị bỏ quên”. Quả thực, các nhà thơ tượng trưng đã làm nên một cuộc nổi loạn ngôn từ hòng đưa thơ thoát khỏi những trói buộc, công thức để hướng đến những miền tinh khiết, vô hình và bí ẩn. So với các nhà thơ mới lãng mạn, ngôn ngữ thơ Đinh Hùng có những bước đột phá, mới lạ, độc đáo, mang màu sắc tượng trưng. Nhà thơ đã để ngôn ngữ vượt thoát sự kìm kẹp của lý trí, kinh nghiệm, tạo ra những “lời văn thư kinh dị” có sức ám gợi lòng người. Điều này phù hợp với quan niệm thơ là gợi chứ không tả. Đinh Hùng đã sáng tạo nên DẤU ẤN CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ ĐINH HÙNG 73 lớp ngôn từ mang ý nghĩa tượng trưng và giàu sức gợi cảm theo quy luật liên tưởng bất ngờ mang tính trực giác, vô thức, tâm linh làm sáng lên một thế giới hư ảo, kì bí, thống nhất và vô tận: “Lạc âm cung, ngẩn ngơ hồn lệ quỷ / Ta nằm trong di tích cuộc tang thương / Khóc thâu đêm cho thấy lại thiêng đường / Thuở hưng phục – Ôi! cõi lòng hoan phế” (Mê hồn ca). Bên cạnh đó, Đinh Hùng còn phá vỡ cấu trúc liên kết từ, ngữ thông thường tạo nên một cuộc hôn phối “cưỡng bức” trong một “trò chơi” ngôn ngữ đầy thách thức, táo bạo và độc đáo. Hay nói đúng hơn, nhà thơ đã để các đơn vị từ ngữ phát huy triệt để giá trị tự thân. Vì thế, người đọc có cảm giác các từ đặt cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, lỏng lẽo. Song kì thực, chúng được gắn kết với nhau không phải từ ý nghĩa mà là giai điệu tạo thành một thể thống nhất. Chính lẽ đó, khiến không ít người cho thơ Đinh Hùng khó hiểu. Tuy nhiên, chủ trương theo lối thơ tinh khiết, tượng trưng, Đinh Hùng đã đạt được mục đích xác lập sự ngự trị thuần tuý của ngôn từ cho thơ: Hồn phách thanh tuyền dáng ảo hương, Bâng khuâng thần chủ lạ thiên đường. Gợn trong nhân ảnh màu hư cấu, Lạc thổ hồng lên màu thái dương. (Lạc hồn ca) Ngoài ra, nhà thơ còn thành công trong việc tạo ra những ngôn ngữ ảo giác, ma quái, man rợ - kết quả của những cơn mê loạn, chiêm bao trong đời sống tinh thần của thi sĩ. Nó mang một ma lực ám ảnh và làm phát lộ ra một thế giới hư huyền, vĩnh cữu, đồng thời chống lại sự xói mòn ngữ nghĩa: “Phất tay áo, tìm bắt hương Hồ Điệp / Ta thoát hồn về nhập xác em xưa” (Mê hồn ca), “Ta để nguồn hương nhập xác này / Hồn như phong vũ đã xa bay / Mê đi chín kiếp luân hồi nữa / Về gặp nhân tình hát ở đây” (Lạc hồn ca)... Quả thực, Đinh Hùng đã thành công trong việc làm “lạ hoá” ngôn từ đem lại cho thơ vẻ đẹp tân kỳ. KẾT LUẬN Thơ Đinh Hùng đã đi trọn hành trình thơ tượng trưng. Bằng cái nhìn “thấu thị” và tương ứng cảm quan, nhà thơ đã kiến tạo nên một thế giới thi ca dị biệt, kết liên đường dây giao cảm giữa con người và vũ trụ, thực tại và mộng ảo, hữu hạn và vô cùng, hiện tại và quá khứ... Tất cả phải hư lên vì thực. Để đạt được điều này, Đinh Hùng sáng tạo ra những biểu tượng tươi mới, độc đáo mang ý nghĩa tượng trưng cho cái Đẹp, Tình Yêu và Sự Sống bất tử ở cõi địa ngục và địa đàng. Bên cạnh đó, âm nhạc và ngôn ngữ tượng trưng cũng góp phần đưa thơ Đinh Hùng đạt đến tính chất của vô biên, đồng thời giúp người thơ tìm thấy bản lai diện mục của mình, tìm ra những hệ quả hiện thực đầy bí ẩn, tươi nguyên của thế giới và tâm hồn con người. HỒ VĂN QUỐC 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Mặc Đỗ (1967). Con người tài hoa. Văn, (92), tr. 13-16. [2] Hoài Thanh – Hoài Chân (2000). Thi nhân Việt Nam. NXB Văn học, Hà Nội. [3] Đỗ Lai Thuý (2000). Mắt thơ. NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội. [4] Đặng Tiến (2009). Thơ, thi pháp và chân dung. NXB Phụ Nữ, Hà Nội. [5] Phạm Việt Tuyền (1967). Đọc Mê hồn ca của Đinh Hùng. Nghiên cứu văn học, (28), tr. 86-101. [6] Tạ Tỵ (1967). Hoài cảm Đinh Hùng. Văn, (92), tr. 18-26. Title: THE MARK OF THE SYMBOLISM IN DINH HUNG'S POETRY Abstract: Dinh Hung's poetry went through all the periods of the symbolic Poetry. With a penetrating look and correlative senses, the poet created an odd poetry world which connects people to the universe, reality to illusion, limit to extremeness, present to past All must be imagined for the sake of truth. To reach this, Dinh Hung created new, fresh and original symbols symbolizing Beauty, Love, Immortal Life in the Hell and Paradise. Besides, the symbolic music and language also take their parts in getting Dinh Hung's poetry to obtain the quality of boundlessness, as well as help the poet to realize his original self, find the consequences of the mysterious, intactly fresh reality of the world and men's souls. ThS. HỒ VĂN QUỐC Trường Đại học Dân lập Phú Xuân, Huế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf15_222_hovanquoc_12_ho_van_quoc_7914_2021006.pdf