Cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và xuất bản sách về văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

Năm là, công tác DT và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị. Năm quan điểm trên là sự tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện đường lối, chính sách DT và công tác DT của Đảng và Nhà nước, vừa cơ bản, có giá trị chỉ đạo lâu dài công tác DT của cách mạng, lại vừa mang ý nghĩa thực tiễn, gắn với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Trên đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức XB sách về DT&MN và cho vùng DT&MN. Bài báo sau, chúng tôi sẽ tiếp tiếp tục trình bày kết quả nghiên cứu chính, trong đó có các giải pháp đề xuất và đã áp dụng để xây dựng kế hoạch, đẩy mạnh sưu tầm và khai thác văn hoá, văn nghệ của các DTTS, khuyến khích nhiều thành phần tham gia sáng tác văn nghệ bằng cả tiếng và chữ DT với nội dung ca ngợi thành tích, đóng góp của đồng bào các DTTS đối với cách mạng và đổi mới của đất nước, những nét đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống của đồng bào. XB và phổ biến các XB phẩm về những nội dung trên trong khu vực MN&DT nhằm góp phần thiết thực vào nhiệm vụ tập trung xây dựng vùng DT&MN phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, xã hội, vững mạnh về an ninh, quốc phòng, xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước, là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 11/03/2022 | Lượt xem: 11 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và xuất bản sách về văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 3 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, TỔ CHỨC SƯU TẦM VÀ XUẤT BẢN SÁCH VỀ VĂN HÓA, VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM Lê Tiến Dũng1*, Trần Thị Việt Trung2 Lê Thị Như Nguyệt2, Đào Thị Lý2 1Đại học Thái Nguyên, 2Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên TÓM TẮT Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu về tình hình nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và xuất bản sách về văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam ở khu vực miền núi phía Bắc. Những cơ sở khoa học cho thấy vấn đề trên mang tính cấp bách, thời sự, mang cả ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta đang diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh mẽ. Từ khóa: sưu tầm, xuất bản, văn hóa, văn học, dân tộc thiểu số. ĐẶT VẤN ĐỀ* Trong hội nhập quốc tế, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) luôn là vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với nền độc lập của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan, khách quan và cần được tiến hành đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến việc triển khai cụ thể của các ban, ngành, địa phương, và quan trọng hơn cả là phải phù hợp với nguyện vọng và nhận thức của cộng đồng các dân tộc (DT). Với vị trí chức năng, nhiệm vụ: “Là một hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng thông qua việc sản xuất phổ biến những xuất bản phẩm đến nhiều người nhằm giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam”, công tác xuất bản (XB) nói chung và XB sách, tài liệu về dân tộc và miền núi (DT&MN) nói riêng đóng vai trò rất quan trọng. Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên (NXB ĐHTN) được thành lập năm 2008, có chức năng: “Tổ chức, quản lý XB và phát hành các XB phẩm: sách, tài liệu chính trị, pháp luật về giáo dục và dân tộc miền núi; sách giáo trình, sách tham khảo cho các bậc đào tạo và bậc học phổ thông, tài liệu, công trình nghiên cứu * Tel: 0912.551.592 khoa học, chuyển giao công nghệ, từ điển, sách văn hoá - xã hội, nghệ thuật, văn học và các XB phẩm khác phù hợp với tôn chỉ, mục đích của NXB ĐHTN”, và nhiệm vụ chính trị: “Tuyên truyền và phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ gìn và phát triển những di sản, BSVHDT. Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng, đề xuất phương hướng phát triển, tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch xuất bản trong các lĩnh vực được quy định trong Giấy phép thành lập NXB; Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cả về số lượng, chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ, để đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi giai đoạn của NXB”. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, chúng tôi nhận thấy cần tìm hiểu về tình hình nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và xuất bản sách văn hóa, văn học các DTTS (khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam) thời kì gần đây. Bởi vấn đề này mang tính cấp bách, thời sự, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, gắn với công tác MN&DT trong giai đoạn công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Bài báo này trình bày những cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và XB sách văn hóa, văn học các DTTS. MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nhằm xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và XB sách văn hóa, văn học các DTTS, chúng tôi đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 4 sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến đối với ngành xã hội nhân văn: sưu tầm (các văn bản, tư liệu, tài liệu thống kê) liên quan về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; phân loại, phân tích, tổng hợp các tài liệu. Tìm hiểu, chọn lọc những thông tin về tình hình, kết quả, thành tích, hạn chế, đánh giá mặt được và chưa được của việc thực thi các chính sách MN&DT của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Xác minh thực tế một số tư liệu cần thiết. Những công việc trên được tiến hành ở nhiều cơ sở lưu trữ, phát hành thông tin, một số UBND các cấp trong khu vực, trong các tài liệu sách, báo chí, các văn bản về chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước thuộc các cơ quan XB, cơ quan ngôn luận, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội liên quan của trung ương và địa phương, như: Hội Văn học các DTTS Việt Nam, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật toàn quốc, Hội văn học nghệ thuật các tỉnh.... CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, SƯU TẦM, XUẤT BẢN SÁCH VỀ VĂN HÓA, VĂN HỌC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC Cơ sở lí luận Việt Nam là quốc gia đa DT, ngoài DT Kinh là đa số còn 53 DT ít người khác. Sự đa dạng, phong phú về sắc màu DT đã tạo nên bức khảm rực rỡ nền văn hóa Việt Nam. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung, công tác văn hóa, nghệ thuật và giáo dục trong cộng đồng các DTTS nói riêng, nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các DTTS, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà BSDT. Điều này thể hiện qua việc ban hành, thực hiện hàng loạt văn bản, đặc biệt là các Nghị quyết và Chỉ thị của BCH Trung ương Đảng khóa IX về chủ trương, chính sách và về công tác văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và XB liên quan đến vấn đề DT&MN. Hệ thống văn bản được xây dựng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn triển khai những vấn đề cụ thể của các cấp chính quyền, thể hiện ý chí, tư tưởng lãnh đạo công tác DT&MN của Đảng. Sau đây là một số văn bản chính chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu: - Chỉ thị 156-CT/TW ngày 25/8/1959 của Ban Bí thư về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta; - Nghị định số 206/CP ngày 27/11/1961 của HĐ Chính phủ phê chuẩn các phương án chữ Tày – Nùng, chữ Mèo, chữ Thái cải tiến, quy định phạm vi, mức độ sử dụng ba thứ chữ đó; - Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/02/1963 của BCT về phát triển nông nghiệp miền núi; - Chỉ thị số 73-CT/TW ngày 24/01/1964 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo công tác tuyên giáo đối với các DTTS miền Bắc; - Chỉ thị số 84-CT/TW ngày 03/9/1964 của Ban Bí thư về nhiệm vụ công tác giáo dục ở miền núi trong 2 năm 1964-1965; - Chỉ thị 20-CT/TTg/Vg ngày 10/3/1069 của Phủ TT về công tác giáo dục ở miền núi; - Quyết định số 153-CP ngày 20/8/1969 của Hội đồng Chính phủ về việc xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết của các DTTS; - Chỉ thị số 216-CT/TW ngày 30/01/1975 của Ban Bí thư về chính sách cán bộ miền núi; - Chỉ thị của Ban Bí thư số 23-CT/TW ngày 15/11/1977 về công tác dân tộc ít người ở các tỉnh miền Nam trong tình hình hiện nay; - Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 53 – CP ngày 22 tháng 2 năm 1980 Về chủ trương đối với chữ viết của các DTTS; - Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi. - Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư về công tác ở vùng DT Khơ-me; - Thông tri số 03-TT/TW ngày 17/10/1991 về công tác đối với đồng bào Chăm; - Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 18/01/2002 của Bộ Chính trị Về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kì 2001 – 2010 - Chỉ thị số 38/ 2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ công chức công tác ở vùng DT, miền núi. - Hướng dẫn số: 676 /2006/TTLT-UBDT- KHĐT- TC-XD- NNPTNT, về việc thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 5 đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DT & MN giai đoạn 2006 – 2010 của Ủy ban dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. - Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 08/5/2009 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội Đại biểu các DTTS Việt Nam. Ngoài ra còn nhiều văn bản về chính sách, quy phạm pháp luật đối với lĩnh vực XB nhằm đẩy mạnh việc XB, phát hành tận tay đồng bào DTTS vùng cao, biên giới các XB phẩm về DT, miền núi, biên giới, hải đảo ở các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ Cụ thể: - Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới. Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đưa văn hóa văn nghệ đến các vùng kinh tế mới, vùng căn cứ cách mạng cũ, vùng DTTS và các vùng xa xôi, hẻo lánh, quan tâm các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW (khoá VIII) ngày 16/7/1998, nêu mục tiêu và những nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó văn học, nghệ thuật là một bộ phận rất quan trọng. - Chỉ thị 42/CT - TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư TW Đảng, về việc nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động XB: “Chăm lo phát triển nhu cầu văn hóa đọc của các tầng lớp nhân dân, tổ chức phát triển các lực lượng, mạng lưới phát hành XB phẩm đảm bảo đáp ứng đầy đủ, đúng đối tượng và địa bàn, đặc biệt quan tâm vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và miền núi. Phát triển hệ thống sách song ngữ, XB nhiều sách bằng tiếng DT với trình độ thích hợp, đáp ứng nhu cầu của đồng bào các DTTS. Đến năm 2010, phấn đấu đưa sách về cấp huyện và đưa sách đến phần lớn các xã để đạt chỉ tiêu 6 bản sách/người/ năm”. - Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa, nghệ thuật trong thời kì mới. - Thông báo số 396-TB/TW ngày 23/11/2010: Kết luận của Ban Bí thư đồng ý tiếp tục triển khai thực hiện Đề án trang bị sách cho cơ sở xã, phường, thị trấn. - Luật Xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản. - Nghị quyết của HĐ Bộ trưởng số 195- HĐBT ngày 19/12/1983 về công tác văn hóa thông tin trong thời gian trước mắt nêu rõ: bảo đảm cho phần lớn đơn vị cơ sở đều có hoạt động văn hoá, nhân dân lao động được đọc báo, nghe đài, xem phim, xem nghệ thuật. Đặc biệt chú ý các vùng nông thôn, vùng DT ít người ở vùng cao, biên giới; Với công tác XB, in, phát hành, thư viện: nâng cao chất lượng và số lượng sách, báo, chấn chỉnh việc phân phối cho hợp lý, đúng đối tượng và sử dụng hiệu quả hơn. Xây dựng những bộ sách cần đọc ở các thư viện tỉnh, huyện và cơ sở về các lĩnh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, sách dành cho thiếu nhi. In lại các tác phẩm cổ điển, công trình khoa học, văn học có giá trị lớn... - Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các DTTS. - Quyết định số 151/QĐ-TTg ngày 13/02/2003 của Thủ tướng CP về hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn hóa, nghệ thuật, báo chí theo cơ chế Nhà nước đặt hàng. - Nghị định số 31/2005-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. - Thông tư liên tịch số 04/2011/TTLT-BTTTT- BTC hướng dẫn thực hiện đặt hàng XB phẩm sử dụng ngân sách Nhà nước, quy định thể loại XB phẩm đặt hàng, trong đó có XB phẩm phục vụ thiếu niên nhi đồng, đồng bào DTTS, miền núi, hải đảo, người khiếm thị. + Quyết định số 2277/QĐ - BTTTT ngày 28/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông về việc phê duyệt dự án tăng cường nội dung thông tin về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa biên giới và hải đảo về hỗ trợ XB sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia. Cơ sở thực tiễn Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 6 Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; được sự tổ chức, tạo điều kiện thực thi các chính sách của các cấp chính quyền, công tác DT&MN nước ta đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp, tình hình miền núi và các vùng đồng bào DTTS có những bước chuyển biến quan trọng. Quyền bình đẳng giữa các DT cơ bản đã được Hiến pháp xác định, được thể hiện và thực thi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, về chính trị thể hiện trước hết ở việc đồng bào các DT đã thực hiện quyền tham chính thông qua thực thi dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp... Đoàn kết giữa các DT tiếp tục được củng cố... Về kinh tế: các thành phần, ngành nghề kinh tế ở vùng DT&MN đã phát triển. Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2012 được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố, ở miền núi Đông Bắc tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 21,01% xuống còn 17,39%; miền núi Tây Bắc từ 33,02% còn 28,55%; Tây Nguyên từ 18,62% còn 15%, đời sống của đại bộ phận đồng bào các DT được cải thiện rõ rệt..., hầu hết các địa phương đã hình thành mạng lưới điện, giao thông từ tỉnh đến huyện, xã... Về lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục: Mặt bằng dân trí được nâng cao, đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, mô hình trường PTTH nội trú được hình thành từ trung ương đến cụm xã. Đời sống văn hóa của đồng bào được nâng cao một bước, phong phú hơn, văn hóa truyền thống được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Công tác xây dựng, tăng cường và củng cố hệ thống chính trị ở vùng DT&MN luôn được chú trọng. Các tổ chức đảng, hệ thống chính quyền các cấp, tổ chức chính trị - xã hội từng bước được củng cố, đổi mới phương thức và tăng cường hoạt động theo hướng thiết thực, tham gia xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới, giác ngộ giúp đồng bào đấu tranh loại bỏ luận điệu xuyên tạc của các lực lượng thù địch, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội. Trình độ cán bộ có nhiều tiến bộ, tất cả các xã đều có tổ chức cơ sở Đảng. Song bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế, yếu kém. Về kinh tế: Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các vùng DT vẫn trong tình trạng chậm phát triển, nhiều nơi lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác lạc hậu vẫn tồn tại... Tỉ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung cả nước... Về giáo dục, văn hóa: Chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo còn thấp, đào tạo nghề chưa được quan tâm đúng mức. Công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào gặp nhiều khó khăn. Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa các DT đang bị mai một. Mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào thấp, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển trở lại. Văn hóa đọc xuống cấp. Nhiều thư viện ở MN hoạt động không hiệu quả. Sách về vùng sâu, vùng xa ít do kinh tế, đời sống, giao thông khó khăn, vất vả, dân trí thấp... Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều nơi còn yếu. Trình độ cán bộ hạn chế, số người tốt nghiệp đại học, cao đẳng trở lên, nhất là ở các khu vực đặc biệt khó khăn, vùng núi cao, thuần DTTS thấp hơn so với khu vực khác. Công tác phát triển Đảng chậm, số đảng viên người DTTS tỉ lệ còn thấp, nhiều thôn, bản vùng sâu, vùng xa chưa có đảng viên... Hoạt động cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhiều nơi chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào. Nhiều cán bộ MN không biết tiếng DT, không hiểu dân, không yên tâm gắn bó với địa phương. Một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật, truyền thống và phong tục tập quán, một số nơi các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo đồng bào vào các hoạt động kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc... KẾT LUẬN Qua phân tích ở trên, có thể thấy cơ sở lí luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu, tổ chức sưu tầm và XB sách văn hóa, văn học các DTTS thực chất nằm ở chủ trương, chính sách, quan điểm và sự triển khai công tác DT&MN. Vấn đề DT&MN không chỉ mang tính chất quốc gia, mà còn là vấn đề quốc tế, có tính thời sự sâu sắc, thậm chí là một trong những nguyên nhân gốc rễ tạo nên tình trạng mất ổn định an ninh chính trị ở một số nước và khu vực trên thế giới... Do đó, với mục tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 7 góp phần hiệu quả thực hiện chủ trương, chính sách, công tác DT&MN, trong lĩnh vực hoạt động XB, cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau: Một là, DT và đoàn kết DT là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, và cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Hai là, các DT Việt Nam là cộng đồng bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ và cùng nhau phát triển, cùng phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng DT & MN; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt các chính sách DT; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong quá trình phát triển chung của cộng đồng DT Việt Nam. Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng DT&MN; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các DT, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Năm là, công tác DT và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị. Năm quan điểm trên là sự tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện đường lối, chính sách DT và công tác DT của Đảng và Nhà nước, vừa cơ bản, có giá trị chỉ đạo lâu dài công tác DT của cách mạng, lại vừa mang ý nghĩa thực tiễn, gắn với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Trên đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức XB sách về DT&MN và cho vùng DT&MN. Bài báo sau, chúng tôi sẽ tiếp tiếp tục trình bày kết quả nghiên cứu chính, trong đó có các giải pháp đề xuất và đã áp dụng để xây dựng kế hoạch, đẩy mạnh sưu tầm và khai thác văn hoá, văn nghệ của các DTTS, khuyến khích nhiều thành phần tham gia sáng tác văn nghệ bằng cả tiếng và chữ DT với nội dung ca ngợi thành tích, đóng góp của đồng bào các DTTS đối với cách mạng và đổi mới của đất nước, những nét đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống của đồng bào... XB và phổ biến các XB phẩm về những nội dung trên trong khu vực MN&DT nhằm góp phần thiết thực vào nhiệm vụ tập trung xây dựng vùng DT&MN phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, xã hội, vững mạnh về an ninh, quốc phòng, xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước, là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Bí thư TW Đảng, các Chỉ thị: Số: 156- CT/TW ngày 25/8/1959; Số: 73-CT/TW ngày 24/01/1964; Số 84-CT/TW ngày 03/9/1964; Số: 216-CT/TW ngày 30/01/1975; Số: 23-CT/TW ngày 15/11/1977; Số 68-CT/TW ngày 18/4/1991; Số: 42/CT - TW ngày 25/8/2004; Số: 35-CT/TW ngày 08/5/2009. 2. BCH TW, BCT, các Nghị quyết: Số 71-NQ/TW ngày 22/02/1963; Số: 05-NQ/TW ngày 28/11/1987; Nghị quyết HN lần thứ 5 BCH TƯ (khoá VIII) ngày 16/7/1998; Số: 22-NQ/TW ngày 27/11/1989; Số 10-NQ/TW ngày 18/01/2002; Số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008; Thông báo số 396- TB/TW ngày 23/11/2010; Thông tri số 03-TT/TW ngày 17/10/1991. 3. Bộ Thông tin và Truyền thông, Quyết định số 2277/QĐ - BTTTT ngày 28/11/2012; 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2009 – 2010 về Giáo dục Mầm non, Giáo dục phổ thông,... H, 2009. 5. Bộ TT và Truyền thông, Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 04/2011/TTLT-BTTTT-BTC. 6. Bùi Thị Bình, (2010), “Một số chính sách cần quan tâm đối với vùng dân tộc, miền núi khi tham gia quyết định chính sách kinh tế - xã hội”, Hội thảo “Vai trò của nữ đại biểu quốc hội trong việc tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”, . 7. Trần Trí Dõi, (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 8. Vũ Bá Hòa, Vũ Viết Chính, Hà Thị Hải Yến, Bùi Tất Tươm (2009), NXB Giáo dục Việt Nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lê Tiến Dũng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 109(09): 3 - 8 8 làm sách phục vụ dạy - học tiếng các DTTS, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 9. HĐ Chính phủ, HĐ Bộ trưởng, Phủ Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ, các Nghị định số: 206/CP ngày 27/11/1961; Số: 31/2005-CP ngày 11/3/2005; các Chỉ thị: Số 20-CT/TTg/Vg ngày 10/3/1069; Số: 39/1998/CT-TTg ngày 3/12/1998; Số 38/ 2004/CT-TTg ngày 09/11/2004; Nghị quyết số: 195-HĐBT ngày 19/12/1983; các Quyết định: Số: 153-CP ngày 20/8/1969; Số: 53 – CP ngày 22/2/1980; Số: 151/QĐ-TTg ngày 13/02/2003; Số: 151/QĐ-TTg ngày 13/02/2003; Số 253/QĐ-TTg ngày 05/3/2003; Số: 03/2004/QĐ-TTg ngày 07/01/2004; 10. Nguyễn Văn Huy, (chủ biên), Bức tranh văn hóa các dân tộc VN, NXB Giáo dục, Hà Nội. 11. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 12. NXB Chính trị Quốc gia (2003), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng khóa IX, Hà Nội. 13. NXB ĐHTN (2009), Kế hoạch chiến lược phát triển NXB ĐHTN đến năm 2015 và 2020. 14. NXB Giáo dục (2004), Đại gia đình các dân tộc Việt Nam, Hà Nội. 15. NXB Chính trị Quốc gia (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, Hà Nội. 16. NXB Thông tin và Truyền thông (2013), Luật Xuất bản, Hà Nội. 17. Hoàng Phê (chủ biên) (2010), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 18. Lê Thông (chủ biên) (2007), Việt Nam - Đất nước con người, NXB Giáo dục, Hà Nội. 19. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn tại TP. Hồ Chí Minh (1993), Giáo dục ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số phía Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 20. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (2002), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam những năm 90, NXB Hà Nội. 21. Hoàng Tuệ, Nguyễn Văn Tài, Hoàng Văn Ma (1984), Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và chính sách ngôn ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội. 22. Ủy ban dân tộc, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn số: 676 /2006/TTLT-UBDT- KHĐT- TC-XD- NNPTNT. 23. Đặng Nghiêm Vạn, (2007), Văn hóa Việt Nam đa tộc người, NXB Giáo dục, Hà Nội. 24. Website: www.chinhphu.vn (Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam; www.ubdt.gov.vn (Ủy ban Dân tộc); www.cinet.gov.vn. (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); www.mic.gov.vn. (Bộ Thông tin và Truyền thông). SUMMARY THEORETICAL AND PRACTICAL BASIS FOR RESEARCH, ORGANIZATION, COLLECTION AND PUBLICATION OF BOOKS ABOUT CULTURE AND LITERATURE OF ETHNIC MINORITIES IN NORTHERN MOUNTAINOUS AREAS IN VIETNAM Le Tien Dung1*, Tran Thi Viet Trung2 Le Thi Nhu Nguyet2, Dao Thi Ly2 1Thai Nguyen University, 2Thai Nguyen University Publishing House This paper presents research findings of theoretical and practical basis for research, organization, collection and publication of books about culture and literature of ethnic minorities in northern mountainous areas in vietnam. The findings showed urgent issues having significantly theoretical and practical influences, especially in the period of rapid international economic integration, industrialization and modernization of our country. Key words: collection, publication, culture, literature, ethnic minorities. Ngày nhận bài: 14/6/2013; Ngày phản biện: 23/7/2013; Ngày duyệt đăng: 02/10/2013 Phản biện khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh – Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên * Tel: 0912.551.592 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfco_so_li_luan_va_thuc_tien_cua_cong_tac_nghien_cuu_to_chuc_s.pdf