Bài giảng Tài chính và doanh nghiệp

Lấy ví dụ thực tế để phân tích, đánh giá hiệu quả của việc huy động động vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi trong doanh nghiệp. - Lấy ví dụ thực tế để phân tích, đánh giá hiệu quả của việc huy động động vốn bằng phát hành cổ phiếu mới trong doanh nghiệp.

doc108 trang | Chia sẻ: hao_hao | Lượt xem: 1658 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng Tài chính và doanh nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tục bổ sung vốn nhằm tăng thêm các tài sản kinh doanh tương ứng với sự tăng trưởng của quy mô kinh doanh. Các hoạt động của quá trình trên chính là quá trình đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Ngoài các hoạt động đầu tư có tính chất điển hình như trên, doanh nghiệp còn có thể thực hiện các hoạt động như bỏ vốn mua cổ phiếu, trái phiếu của các chủ thể khác nhằm thu lợi nhuận trong thời gian dài. Các cổ phiếu, trái phiếu mà doanh nghiệp bỏ vốn ra mua hình thành nên một loại tài sản của doanh nghiệp được gọi là tài sản tài chính dài hạn. Như vậy, có thể thấy rằng đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là quá trình sử dụng vốn tiền tệ để hình thành nên các tài sản cần thiết phục vụ lâu dài cho các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu được lợi nhuận trong khoảng thời gian dài trong tương lai. Theo khái niệm này, hoạt động đầu tư dài hạn có các đặc trưng sau: Về mặt nội dung: đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là quá trình sử dụng vốn tiền tệ để xây dựng, mua sắm hình thành các TSCĐ hữu hình và vô hình, hình thành lượng vốn lưu động thường xuyên cần thiết phù hợp với quy mô kinh doanh nhất định. Như vậy, sự hình thành các tài sản kinh doanh cần thiết phục vụ có tính chất lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh là kết qủa trực tiếp của đầu tư dài hạn. Về mặt phạm vi: đầu tư dài hạn của doanh nghiệp không chỉ đầu tư về TSCĐ mà nó còn bao gồm cả việc đầu tư cho nhu cầu tương đối ổn định về tài sản lưu động thường xuyên cần thiết và đầu tư có tính chất dài hạn vào các hoạt động khác nhằm mục đích thu được lợi nhuận. Về mặt quy mô: đầu tư dài hạn của doanh nghiệp nó cũng chỉ rõ số vốn tiền tệ mà doanh nghiệp đang sử dụng có tính chất dài hạn trong các hoạt động kinh doanh của mình. 4.1.2. Phân loại đầu tư dài hạn Trong một doanh nghiệp, dựa vào những căn cứ nhất định có thể chia đầu tư của doanh nghiệp thành các loại đầu tư khác nhau. Mỗi cách phân loại cho phép xem xét, đánh giá việc đầu tư của doanh nghiệp trên những ý nghĩa kinh tế khác nhau. Có thể phân loại đầu tư theo các cách sau đây: 1) Theo cơ cấu của vốn đầu tư Theo cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp có thể phân chia đầu tư của doanh nghiệp thành các loại: a. Đầu tư xây dựng cơ bản Đây là khoản đầu tư nhằm tạo ra tài sản cố định của doanh nghiệp và thông thường doanh nghiệp phải sử dụng một khoản vốn lớn để thực hiện đầu tư về tài sản cố định thông qua việc xây dựng và mua sắm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản lại có thể thực hiện phân loại chi tiết. Theo tính chất công tác có thể phân chia đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp thành: Đầu tư cho công tác xây lắp: phản ánh số vốn đầu tư cho công tác xây dựng công trình và lắp đặt các thiết bị như xây dựng nhà xưởng, vật kiến trúc, trồng trọt mới và chăm sóc cây lâu năm, lắp ráp các kết cấu kiến trúc, lắp đặc máy móc, … Đầu tư cho thiết bị: Phản ánh số vốn đầu tư cho việc mua sắm các máy móc thiết bị cần thiết cho doanh nghiệp bao gồm chi phí mua thiết bị theo giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản thiết bị… Đầu tư xây dựng cơ bản khác: Phản ánh các khoản vốn đầu tư cho các công việc khác như đầu tư cho khảo sát thiết kế xây dựng, chi phí về sử dụng đất xây dựng, tiền đền bù đất đai, hoa màu, chi phí di chuyển nhà cửa trên đất đai xây dựng, cũng như chi phí mua bản quyền phát minh sáng chế, chi phí công nghệ, mua nhãn hiệu hàng hoá,… Theo hình thái vật chất của kết quả đầu tư cũng có thể chia đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp thành hai loại sau: Đầu tư vào TSCĐ hữu hình (có hình thái vật chất): Phản ánh các khoản vốn đầu tư cho TSCĐ hữu hình. Đầu tư vào TSCĐ vô hình: Phản ánh các khoản vốn đầu tư cho tài sản cố định vô hình. b. Đầu tư về vốn lưu động thường xuyên cần thiết Đây là khoản đầu tư để hình thành nên các tài sản lưu động thường xuyên cần thiết tối thiểu đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách bình thường và liên tục. Tuỳ theo lựa chọn mô hình tài trợ mà toàn bộ hay một phần TSLĐ thường xuyên, cần thiết được đầu tư bằng nguồn vốn thường xuyên có tính chất dài hạn. c. Đầu tư liên doanh dài hạn và đầu tư về các tài sản chính khác Đây là các khoản vốn đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có nhiều hình thức liên doanh liên kết. Trong đó có hình thức liên doanh dài hạn, đó là việc doanh nghiệp tham gia góp vốn kinh doanh với các doanh nghiệp khác trong một thời gian dài, cùng tham gia quản lý và cùng phân chia lợi nhuận, cùng gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp của các bên. Ngoài việc tham gia liên doanh trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư vốn dài hạn vào các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác dưới hình thức mua cổ phần, mua trái phiếu dài hạn… Doanh nghiệp sẽ nhận được khoản thu nhập từ các cổ phiếu, trái phiếu đã mua. Và các loại cổ phiếu, trái phiếu này được gọi là loại tài sản đặc biệt, tài sản tài chính. 2) Theo mục tiêu đầu tư Căn cứ vào mục tiêu cụ thể đầu tư của doanh nghiệp có thể chia đầu tư của doanh nghiệp thành các loại sau: Đầu tư về thành lập doanh nghiệp gồm toàn bộ khoản đầu tư ban đầu để hình thành doanh nghiệp, đầu tư tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp, đầu tư cho việc tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến hoàn thiện các loại sản phẩm hiện có. Đầu tư thay đổi thiết bị và công nghệ là đầu tư nhằm thay thế các trang thiết bị cũ, sự thay thế có thể là giống cũ hoặc thay thế bằng một trang bị một thiết bị hiện đại hơn. Đầu tư có tính chất “chiến lược” là sự đầu tư nhằm tập trung thực hiện một ý đồ nhất định của doanh nghiệp tạo ra sự chuyển biến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: đầu tư cho việc cải tiến sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ… Đầu tư ra bên ngoài: là sự đầu tư góp vốn thực hiện liên doanh dài hạn với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đầu tư vào các tài sản tài chính khác,... 4.1.3. Ý nghĩa của đầu tư dài hạn và các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai do vậy quyết định đầu tư dài hạ là vô cùng quan trọng: - Phần lớn các quyết định đầu tư dài hạn đều ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, trình độ công nghệ của doanh nghiệp, từ đó tác động đến chất lượng của sản phẩm trong tương lai của doanh nghiệp. Như vậy, quyết định đầu tư dài hạn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai. - Thông thường để thực hiện quyết định đầu tư dài hạn thì phải sử dụng một nguồn lực tài chính lớn. Do vậy, việc quyết định đúng đắn về đầu tư dài hạn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong tương lai. - Những sai lầm trong quyết định đầu tư dài hạn là những sai lầm khi sửa chữa hoặc không sửa chữa được nó gây nên sự tổn thất vốn cho doanh nghiệp trong tương lai. Quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là quyết định có tính chất chiến lược. Vì thế, để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều vấn đề, phải xem xét, tính đến nhiều yếu tố. Có nhiều nhân tố tác động đến việc đầu tư của doanh nghiệp. Trong đó, có những nhân tố chủ yếu tác động đến quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp như sau: Chính sách kinh tế của Nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế Trên cơ sở phát luật về kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất – kinh doanh và hướng các hoạt động của doanh nghiệp phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ. - Thị trường và sự cạnh tranh Trong nền kinh tế hàng hoá, thị trường tiêu thụ sản phẩm là một căn cứ hết sức quan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải đầu tư để sản xuất ra những sản phẩm mà người tiêu dùng cần, tức là doanh nghiệp cần căn cứ vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường hiện tại và tương lai để xem xét vấn đề đầu tư. Khi xem xét thị trường tiêu thụ thì doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh. Yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp trong đầu tư phải căn cứ vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp, khả năng về các đối thủ cạnh tranh, của những sản phẩm thay thế cho các sản phẩm của doanh nghiệp…từ đó, dự đoán tình hình trong tương lai để lựa chọn phương thức đầu tư phù hợp và tạo được lợi thế riêng cho doanh nghiệp trên thị trường. Lãi suất tiền vay và thuế trong kinh doanh Sự thay đổi về lãi suất và chính sách thuế sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Để thực hiện đầu tư, ngoài phần vốn tự có doanh nghiệp còn phải sử dụng vốn vay và đương nhiên là phải trả lãi tiền vay. Và việc trả lãi tiền vay sẽ làm tăng thêm chi phí cho mỗi đồng vốn đầu tư. Bên cạnh yếu tố lãi vay, thuế cũng là yếu tố tác động quan trọng. Thuế là công cụ của Nhà nước để điều tiết và định hướng cho doanh nghiệp đầu tư kinh doanh. Thuế trong kinh doanh cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận và lợi nhuận ròng của doanh nghiệp. Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ Nó có thể là cơ hội cũng có thể là nguy cơ đe dọa đối với sự đầu tư của một doanh nghiệp. Yếu tố này sẽ ảnh hưởng tới việc lựa chọn các trang thiết bị, phương pháp khấu hao tài sản cố định, chất lượng và giá thành của sản phẩm…. Sự tiến bộ của khoa học công nghệ cũng đòi hỏi doanh nghiệp dám chấp nhận những mạo hiểm trong đầu tư để phát triển sản phẩm mới. Ngược lại, doanh nghiệp nếu không tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ của khoa học công nghệ để đổi mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm sẽ có nguy cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm không còn phù hợp với nhu cầu thị trường. Mức độ rủi ro của đầu tư Trong sản xuất hàng hoá, mỗi quyết định đầu tư đều có thể gắn liền với sự rủi ro nhất định do biến động trong tương lai về sản xuất và về thị trường... Nếu quyết định đầu tư được đặt trong một tương lai có khả năng đảm bảo vững chắc sẽ kích thích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Và ngược lại, nếu một quyết định đầu tư đặt trong một tương lai có nhiều yếu tố bấp bênh sẽ làm cho doanh nghiệp thiếu tin tưởng, nghi ngại về sự phát triển doanh nghiệp sẽ hạn chế đầu tư. Khả năng tài chính của doanh nghiệp Để đi đến quyết định đầu tư doanh nghiệp không thể không tính đến khả năng tài chính để thực hiện đầu tư. Mội doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính để đầu tư ở giới hạn nhất định bao gồm nguồn vốn tự có và nguồn vốn có khả năng huy động. Doanh nghiệp không thể quyết định đầu tư thực hiện các dự án vượt xa khả năng tài chính của mình. Đây là một yếu tố nội tại chi phối đến việc quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. 4.2. GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN 4.2.1. Giá trị tương lai của tiền 4.2.1.1. Lãi đơn, lãi kép và giá trị tương lai - Lãi đơn: Là số tiền lãi được xác định dựa trên số vốn ban đầu hay gọi là vốn gốc với một lãi suất nhất định. Việc tính lãi như vậy được gọi là phương pháp tính lãi đơn. - Lãi kép: Là số tiền lãi được xác định dựa trên cơ sở số tiền lãi của các thời kỳ trước đó gộp vào vốn gốc để làm căn cứ tính tiền lãi như vậy được gọi là phương pháp tính lãi kép. - Giá trị tương lai: Giá trị tương lai là giá trị có thể nhận được tại một thời điểm trong tương lai bao gồm số vốn gốc và toàn bộ số tiền lãi đến thời điểm đó. - Phương pháp tính lãi: Hãy cùng xem xét ví dụ sau: Ông A gửi tiết kiệm 100.000đ, kỳ hạn 3 tháng, lãi suất 0,5%/tháng. Hỏi sau 3 tháng ông A thu về được bao nhiêu tiền? Giả định lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn vay. Cách tính đơn giản và trực tiếp như sau: Lãi suất 0,5%/tháng có nghĩa là cứ mỗi 1 đồng gửi tiết kiệm sẽ được ngân hàng trả cho người gửi 0,005đ mỗi tháng. Vậy 100.000đ gửi tiết kiệm sẽ đem lại cho người gửi tiền 500đ tiền lãi mỗi tháng. Gửi tiết kiệm 3 tháng, lãi suất không đổi, vị cho tổng tiền lãi là 1.500đ. Cộng với vốn gốc được ngân hàng hoàn trả khi hết hạn, ông A sẽ thu về số tiền là 101.500đ. Đây là cách mọi người thường dùng để tính lãi khi cho vay hoặc gửi tiền ngân hàng. Cách tính này có ưu điểm là vừa đơn giản, vừa dễ hiểu theo tư duy lôgic của mọi người khi cho vay hoặc khi đi vay tiền. Tuy nhiên nó lại không cho thấy cách thức mà ngân hàng tính lãi trả cho mỗi đồng vốn gửi vào. Cách tính thứ hai sẽ giúp thấy được điều này. Cách tính tổng quát như sau: Gọi Fn: Giá trị tương lai tại thời điểm cuối kỳ thứ n PV: Số vốn gốc (vốn đầu tư ban đầu) i: Lãi suất/ kỳ (kỳ: tháng, quý, năm...) n: Số kỳ tính lãi Sau tháng thứ nhất, số tiền F1 mà ông A có trong tài khoản tiết kiệm của mình sẽ bao gồm vốn gốc cộng lãi phát sinh tháng đó. F1 = PV + PV x i = PV(1+i) = 100.000(1+0,005) = 100.500đ Hết tháng thứ 2, số tiền trong tài khoản của ông A sẽ bằng số tiền có được sau tháng thứ nhất cộng với lãi phát sinh trong tháng thứ 2: F2 = F1 + PV x i = PV(1+i ) + PV x i = PV(1+2i) = 100.000(1+2x0,005) = 101.000đ Tương tự, số tiền sau tháng thứ 3 trong tài khoản là: F3 = F2 + PV x i = PV(1+2i) + PV x i = PV(1+3i) = 100.000(1+3x0,005) = 101.500đ Một cách tổng quát, số tiền tiết kiệm Fn mà người gửi tiền nhận được sau n tháng là: Fn = PV(1+ n x i) Cách tính này cho thấy ngân hàng tính lãi trả hàng tháng cho người gửi tiền trên cơ sở vốn gốc vì vậy khoản lãi mà người gửi tiền nhận được hàng tháng là như nhau. Tuy nhiên trên thực tế số tiền mà ngân hàng được sử dụng trong tháng thứ 2 không phải chỉ có 100.000đ vốn gốc mà cả phần lãi phát sinh trong tháng thứ nhất, tức là 100.500đ. Trong khi đó, ngân hàng vẫn chỉ tính lãi trên số tiền 100.000đ ban đầu. Đây là sự bất hợp lý và gây thiệt hại cho người gửi tiền. Cách tính này ngày nay chỉ áp dụng trong các khoản vay mượn mang tính truyền thống như vay mượn cá nhân, vay thương mại, gửi tiết kiệm và thường là ngắn hạn do cách tính lãi đơn giản, dễ hiểu, không đòi hỏi kỹ thuật tính toán phức tạp. Hơn nữa với thời hạn ngắn, thường là dưới 1 năm, quy mô vay mượn lại nhỏ nên mức độ thiệt hại của người cho vay là chấp nhận được. Tuy nhiên, trong trường hợp vay dài hạn hoặc vay các khoản tiền lớn để đảm bảo công bằng và chính xác, phương pháp tính lãi đơn được thay bằng một phương pháp khác, chính xác hơn, đó là phương pháp tính lãi ghép/kép/gộp. Phương pháp này được thực hiện như sau: Gọi FVn: Giá trị kép nhận được cuối kỳ n PV, i, n: như đã nêu trên Vẫn sử dụng ví dụ cũ, ta có số tiền mà người gửi nhận được sau tháng thứ nhất là: FV1 = PV + PV ´ i = PV ´ (1 + i) Sau tháng thứ hai: FV2 = FV1 + FV1 ´ i = PV ´ (1 + i)2 Sau tháng thứ ba: FV3 = FV2 + FV2 x i = PV x (1+i)2 + PV x (1+i)2 x i = PV x (1+i)3 Cứ như vậy sau tháng thứ n số tiền sẽ thu về là FVn = PV x (1+i)n Thay số vào ta có: FV3 = 100.000 x (1+0,005)3 = 101.507,5đ > 101.500đ Theo cách tính này ta thấy, tiền lãi không chỉ được tính trên vốn gốc ban đầu mà còn trên các khoản lãi gộp từ các kỳ trước, số tiền cuối cùng vì thế cũng cao hơn so với phương pháp tính lãi đơn. Căn cứ để đưa ra phương pháp tính là người đi vay bắt đầu từ tháng thứ 2 không chỉ sử dụng vốn gốc mà cả phần lãi phát sinh từ tháng trước. Vì thế người cho vay cũng phải được hưởng lãi từ khoản lãi phát sinh này, nói theo cách thông thường thì ” lãi mẹ đẻ lãi con”. Tiền lãi hàng tháng mà người cho vay được hưởng bao gồm hai bộ phận: Bộ phận tính lãi trên vốn gốc (gọi là lãi đơn) không thay đổi giữa các tháng và bộ phận tính lãi trên phần lãi đã trả (gọi là lãi gộp) tăng dần qua các tháng. Số vốn của người cho vay hàng tháng tăng lên theo cấp số nhân với công bội (1+i) Việc nghiên cứu lãi kép và giá trị kép có ý nghĩa kinh tế rất lớn, nó giúp cho việc xem xét, đánh giá hiệu quả vào sản xuất kinh tế nói chung và hiệu quả sử dụng vốn một cách xác đáng hơn theo cách nhìn mới. Trên quan điểm kinh doanh, yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp là phải sử dụng tốt nhất tiền vốn. Từ việc xem xét lãi kép và giá trị kép cần phải xem xét hiệu quả kinh doanh trên góc độ mới là mỗi đồng vốn bỏ vào kinh doanh phải không ngừng vận động và không ngừng sinh lời. Qua đó, việc xem xét những thiệt hại do ứ đọng vốn, tổn thất vốn cũng cần được nhìn nhận trên góc độ này mới thấy rõ hơn hậu quả thiệt hại của nó trong kinh doanh. 4.2.1.2. Giá trị tương lai của một chuỗi tiền tệ Phần trên chúng ta đã tính giá trị tương lai của một khoản tiền đơn lẻ. Trên thực tế có nhiều khoản tiền phát sinh liên tục theo những khoảng cách thời gian bằng nhau tạo thành một chuỗi các khoản tiền. Khoảng cách giữa hai khoản tiền phát sinh liền nhau được tính theo năm, quý, tháng.... còn gọi là một kỳ hay một thời kỳ. Tùy theo thời điểm phát sinh các khoản tiền ở cuối mỗi kỳ hay ở đầu mỗi kỳ mà người ta có thể phân biệt thành chuỗi tiền tệ trả cuối kỳ và chuỗi tiền tệ trả đầu kỳ. Giá trị tương lai của một chuỗi tiền tệ được xác định bằng tổng giá trị tương lai của tát cả các khoản tiền trong chuỗi tiền tệ đó. Giá trị tương lai của một chuỗi tiền tệ cuối kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ không bằng nhau: FV = CF1 (1+i)n-1 + CF2 (1+i)n-2 + ... + CFn Hay Trong đó: FV: Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ trả cuối kỳ CFt: Giá trị khoản tiền phát sinh cuối kỳ t i: lãi suất/kỳ n: số kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ bằng nhau: Khi các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ bằng nhau thì giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ được xác định như sau: Hoặc qua một số bước biến đổi có thể viết công thức dưới dạng: Trong đó: FV: Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ trả cuối kỳ A: Giá trị khoản tiền đồng nhất ở cuối các kỳ i: lãi suất/kỳ n: số kỳ Giá trị tương lai của một chuỗi tiền tệ đầu kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ không bằng nhau: FV = CF1 (1+i)n + CF2 (1+i)n-1 + ... + CFn(1+i) Hay Trong đó: FV’: Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ trả đầu kỳ CFt: Giá trị khoản tiền phát sinh đầu kỳ t i: lãi suất/kỳ n: số kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ bằng nhau: Khi các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ bằng nhau thì giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ được xác định như sau: Hoặc qua một số bước biến đổi có thể viết công thức dưới dạng: (1+i) Trong đó: FV’: Giá trị tương lai của chuỗi tiền tệ trả đầu kỳ A: Giá trị khoản tiền đồng nhất ở đầu các kỳ i: lãi suất/kỳ n: số kỳ 4.2.2. Giá trị hiện tại của tiền 4.2.2.1. Giá trị hiện tại của một khoản tiền Giá trị hiện tại của một khoản tiền (còn gọi là hiện giá) là giá trị của khoản tiền phát sinh trong tương lai được quy về thời điểm hiện tại (thời điểm gốc) theo 1 tỷ lệ chiết khấu nhất định. Giá trị hiện tại của một khoản tiền phát sinh tại một thời điểm trong tương lai được xác định bằng công thức tổng quát: Trong đó: PV: Giá trị hiện tại của một khoản tiền phát sinh trong tương lai CFn: Giá trị khoản tiền tại thời điểm cuối kỳ n trong tương lai i: Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hiện tại hóa n: số kỳ chiết khấu được gọi là hệ số chiết khấu hay hệ số hiện tại hóa, nó biểu thị giá trị hiện tại của một đồng phát sinh ở cuối kỳ thứ n trong tương lai và được ký hiệu là p(i,n). Thực chất của cách tính giá trị hiện tại là phép tính ngược của cách tính giá trị tương lai. Phương pháp tính như trên được gọi là phương pháp hiện tại hóa giá trị hay phương pháp chiết khấu giá trị. 4.2.2.2. Giá trị hiện tại của một chuỗi tiền tệ Giá trị hiện tại của một chuỗi tiền tệ cuối kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ không bằng nhau: Trong đó: PV: Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ cuối kỳ CFt: Giá trị khoản tiền phát sinh cuối kỳ t i: tỷ lệ chiết khấu n: số kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ bằng nhau: Khi các khoản tiền phát sinh ở cuối mỗi kỳ bằng nhau thì giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ được xác định như sau: Hoặc qua một số bước biến đổi có thể viết công thức dưới dạng: Trong đó: PV: Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ cuối kỳ A: Giá trị khoản tiền đồng nhất phát sinh ở cuối các kỳ trong tương lai i, n: như đã nêu ở trên Giá trị hiện tại của một chuỗi tiền tệ đầu kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ không bằng nhau: Trong đó: PV: Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ cuối kỳ CFt: Giá trị khoản tiền phát sinh ở thời điểm đầu kỳ thứ t trong tương lai. i: tỷ lệ chiết khấu n: số kỳ Trường hợp các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ bằng nhau: Khi các khoản tiền phát sinh ở đầu mỗi kỳ bằng nhau thì giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ được xác định như sau: Hoặc qua một số bước biến đổi có thể viết công thức dưới dạng: Trong đó: PV’: Giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ cuối kỳ A: Giá trị khoản tiền đồng nhất phát sinh ở đầu các thời kỳ trong tương lai i: tỷ lệ chiết khấu n: số kỳ 4.3. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA DN 4.3.1. Dòng tiền của dự án đầu tư Đầu tư là một quá trình phát sinh ra các dòng tiền gồm dòng tiền ra và dòng tiền vào của dự án. Dòng tiền ra: Là những khoản tiền mà doanh nghiệp chi ra để thực hiện dự án đầu tư. Dòng tiền vào: Là những khoản tiền thu nhập do dự án đầu tư mang lại. Việc xác định dòng tiền của dự án đầu tư là một vấn đề khó khăn và phức tạp, liên quan đến nhiều nhân tố hay biến số khác nhau, nhất là việc xác định dòng tiền vào. Những sai lầm trong việc xác định dòng tiền dẫn đến những kết luận sai về việc chấp thuận hay loại bỏ DA ĐT. Vì vậy xác đinh dòng tiền của dự án phải dựa trên những nguyên tắc sau: Đánh giá dự án cần dựa trên cơ sở đánh giá dòng tiền tăng thêm do dự án đầu tư đưa lại chứ không dựa vào lợi nhuận kế toán. Phải tính đến chi phí cơ hội khi xem xét dòng tiền của dự án. Không được tính chi phí chìm vào dòng tiền của dự án. Phải tính đến yếu tố lạm phát khi xem xét dòng tiền Phải tính đến ảnh hưởng của dự án đến các bộ phận khác của doanh nghiệp (ảnh hưởng chéo). 4.3.2. Chi phí và thu nhập của dự án đầu tư a. Dòng tiền ra của dự án đầu tư Những khoản chi tiêu liên quan đến việc bỏ vốn thực hiện đầu tư tạo thành dòng tiền ra của đầu tư. Vốn đầu tư có thể bỏ rải rác trong nhiều năm, cũng có thể bỏ ngay ra một lần. Tùy theo tính chất của khoản đầu tư có thể xác định được khoản chi cụ thể của dự án. Thông thường đối với những DA ĐT điển hình thì nội dung dòng tiền ra của đầu tư cho dự án gồm: Những khoản chi hình thành nên TSCĐ Vốn đầu tư để hình thành vốn lưu động thường xuyên cần thiết cho dự án khi dự án đi vào hoạt động. Thông thường, để xác định dòng tiền chi về vốn lưu động, đăc biệt đối với vốn lưu động bổ sung người ta đưa ra nguyên tắc: Khi có nhu cầu vốn lưu động tăng thêm ở năm nay thì việc bổ sung vốn lưu động được thực hiện ở cuối năm trước. b. Dòng tiền vào của dự án đầu tư Mỗi dự án đầu tư sẽ đưa lại khoản thu nhập ở một hay một số thời điểm khác nhau trong tương lai tạo thành dòng tiền vào của dự án. Việc xác định dòng tiền vào của DA ĐT là vấn đề rất phức tạp, phải căn cứ vào tính chất của khoản đầu tư để lượng định cho các khoản đầu tư tạo ra một cách thích hợp. Dòng tiền vào của dự án bao gồm: (1)Dòng tiền thuần hoạt động hàng năm: là khoản chênh lệch giữa số tiền thu được và số tiền chi ra phát sinh từ hoạt động thường xuyên hàng năm khi dự án đi vào hoạt động. Hoặc có thể tính gián tiếp như sau: Dòng tiền thuần hoạt động hàng năm = Lợi nhuận sau thuế hàng năm + Khấu hao TSCĐ hàng năm (2)Số tiền thuần từ thanh lý tài sản khi kết thúc dự án: là số tiền còn lại từ thu nhập thanh lý tài sản sau khi đã nộp thuế thu nhập về thanh lý tài sản (nếu có). Thu nhập từ thanh lý tài sản = Số tiền thu được do nhượng bán, thanh lý TS + Chi phí liên quan đến nhượng bán, thanh lý TS (3)Thu hồi vốn lưu động thường xuyên đã ứng ra. Để thuận tiện cho việc hoạch định dòng tiền của đầu tư, thông thường người ta sử dụng quy ước sau: Số vốn đầu tư ban đầu được quy ước phát sinh ra ở thời điểm t = 0 Dòng tiền vào hoặc dòng tiền ra của dự án có thể phát sinh ra ở các thời điểm khác nhau trong một năm đều được quy về thời điểm cuối năm để tính toán. 4.3.3. Các phương pháp tài chính được sử dụng để đánh giá, lựa chọn DAĐT 4.3.3.1. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Để lựa chọn dự án cần phải cân nhắc xem xét nhiều mặt, trong đó về tài chính, chủ yếu là xem xét hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư. Có nhiều tiêu chuẩn khác nhau được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án. Các chỉ tiêu được sử dụng phải nhằm đánh giá được mức tiềm năng lợi nhuận của dự án đầu tư. Trên góc độ tài chính, các tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư thường được sử dụng là: Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư Thời gian hoàn vốn đầu tư Giá trị hiện tại thuần của dự án đầu tư Tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án đầu tư Chỉ số sinh lời của dự án đầu tư Trong việc lựa chọn dự án đầu tư không nhất thiết phải sử dụng tất cả các chỉ tiêu trên vào việc so sánh các dự án. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà xác định chỉ tiêu chủ yếu làm căn cứ chọn lựa dự án. Điểm cơ bản là căn cứ vào yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp đặt ra. 4.3.3.2. Các phương pháp tài chính được sử dụng để đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư Để đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trước hết cần phải tiến hành phân loại các dự án. Căn cứ vào mối quan hệ giữa các dự án, có thể phân chia các dự án đầu tư thành hai loại: loại dự án đầu tư độc lập và loại dự án đầu tư loại trừ nhau. Dự án đầu tư độc lập là dự án mà khi được chấp nhận hay bị loại bỏ không ảnh hưởng đến các dự án khác. Dự án loại trừ nhau hay dự án xung khắc là loại dự án mà khi một dự án này được thực hiện thì những dự án khác còn lại sẽ bị loại bỏ. Việc quyết định cuối cùng chọn dự án đầu tư là thuộc trách nhiệm và thẩm quyền của những người lãnh đạo doanh nghiệp. Để giúp cho việc ra quyết định đúng đắn, bộ phận tài chính của doanh nghiệp có nhiệm vụ tham gia ý kiến tham mưu với lãnh đạo của doanh nghiệp. Vì thế, bộ phận tài chính cần nắm được những phương pháp nhất định về lựa chọn dự án đầu tư. Có nhiều phương pháp lựa chọn dự án đầu tư, trên góc độ tài chính để xem xét người ta thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư Đây là phương pháp lựa chọn dự án đầu tư dựa trên cơ sở so sánh giữa kết quả thu được do dự án đầu tư mang lại là lợi nhuận và tiền vốn bỏ ra đầu tư. Theo phương pháp này trước hết cần xác định tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư của từng dự án đầu tư, sau đó tiến hành đánh giá lựa chọn dự án. Xác định tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư của dự án đầu tư: Trong đó: Tsv: Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư của DA ĐT : Lợi nhuận sau thuế bình quân hàng năm dự kiến do DA ĐT mang lại trong suốt thời gian đầu tư. : Vốn đầu tư bình quân hàng năm của dự án. Số lợi nhuận sau thuế bình quân hàng năm do DA ĐT mang lại trong suốt thời gian đầu tư được tính theo phương pháp bình quân số học kể từ lúc bắt đầu bỏ vốn đầu tư cho đến khi kết thúc DA ĐT. Số vốn đầu tư ở mỗi năm được xác định là số vốn đầu tư lũy kế ở thời điểm cuối mỗi năm trừ đi số khấu hao TSCĐ lũy kế ở thời điểm đầu mỗi năm. Đánh giá và lựa chọn dự án + Đối với các dự án độc lập, nếu có tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư lớn hpn không (0) đều có thể được lựa chọn. + Đối với các dự án loại trừ nhau thì dự án nào có tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư cao hơn sẽ là dự án tốt hơn. Phương pháp này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán. Tuy nhiên có hạn chế là chưa tính đến các thời điểm khác nhau nhận được lợi nhuận trong tương lai của mỗi dự án. Phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư (PP) Phương pháp này chủ yếu dựa vào chỉ tiêu thời gian hoàn vốn để lựa chọn dự án Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết mà dự án tạo ra dòng tiền thuần bằng chính số vốn đầu tư ban đầu để thực hiện dự án Theo phương pháp này thời gian thu hồi vốn càng ngắn càng hấp dẫn Để xác định thời gian thu hồi vốn đầu tư của dự án có thể chia ra 2 trường hợp: TH1: Nếu DA ĐT tạo ra dòng tiền thuần đều đặn hàng năm thì thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định theo công thức Thời gian thu hồi VĐT (năm) = Vốn đầu tư ban đầu Dòng tiền thuần hàng năm của đầu tư TH2: DA ĐT tạo ra dòng tiền thuần không ổn định ở các năm. Thời gian thu hồi vốn đầu tư được xác định theo các cách sau: + Xác định số năm thu hồi vốn đầu tư bằng cách tính số vốn đầu tư còn phải thu hồi ở cuối năm lần lượt theo thứ tự VĐT còn phải thu hồi ở cuối năm t = Số vốn ĐT chưa thu hồi ở cuối năm (t-1) - Dòng tiền thuần của đầu tư năm t + Khi số VĐT còn phải thu hồi ở cuối năm nào đó nhỏ hơn dòng tiền thuần của dự án đầu tư năm kế tiếp thì cần xác định thời gian (số tháng) thu hồi nốt VĐT trong năm kế tiếp. Số tháng thu hồi VĐT trong năm t = Số VĐT chưa thu hồi cuối năm (t-1) x 12 Dòng tiền thuần của năm t Tổng hợp số năm và số tháng thu hồi VĐT chính là thời gian thu hồi VĐT của dự án Nội dung phương pháp thời gian hoàn VĐT + Để đơn giản việc tính toán trước hết hãy loại bỏ các dự án đầu tư có thời gian thi công kéo dài không đáp ứng được yêu cầu của DN. Xếp các dự án có thời gian thi công giống nhau vào một loại. + Xác định thời gian thu hồi VĐT của từng dự án đầu tư. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ chọn dự án có thời gian thu hồi vốn đầu tư phù hợp với thời gian thu hồi vốn mà doanh nghiệp dự định Ưu nhược điểm của phương pháp thời gian hoàn vốn đầu tư + Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán + Nhược điểm: Phương pháp này chú trọng xem xét đến lợi ích ngắn hạn hơn là lợi ích dài hạn. Không chú trọng tới yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ Để khắc phục hạn chế trên, người ta có thể áp dụng phương pháp thời gian thu hồi vốn có chiết khấu bằng cách đưa tất cả các khoản thu và chi của một dự án về giá trị hiện tại để tính thời gian hoàn vốn. Phương pháp giá trị hiện tại thuần (NPV) Tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn DA ĐT chủ yếu là giá trị hiện tại thuần của dự án. Theo phương pháp này, tất cả các khoản thu nhập đạt được trong tương lai và vốn đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án đều phải quy về giá trị hiện tại theo một tỷ lệ chiết khấu nhất định. Trên cơ sở đó so sánh giá trị hiện tại của thu nhập và giá trị hiện tại của vốn đầu tư để xác định giá trị hiện tại thuần của dự án. Công thức tính như sau: Trong đó: NPV: Giá trị hiện tại thuần của DA ĐT CFt : Dòng tiền thuần của đầu tư ở năm t CFo: Vốn đầu tư ban đầu của dự án n : Vòng đời của dự án r : Tỷ lệ chiết khấu Đánh giá lựa chọn dự án + Nếu NPV < 0 thì dự án bị loại bỏ + Nếu NPV = 0 thì tùy thuộc vào tình hình cụ thể và sự cần thiết của dự án mà doanh nghiệp có thể quyết định chấp nhận hay loại bỏ dự án. + NPV > 0 : Nếu các dự án là độc lập thì đều có thể được chấp nhận. Nếu các dự án thuộc loại loại trừ nhau và vòng đời của các dự án bằng nhau thì sẽ lựa chọn dự án có giá trị hiện tại thuần dương cao nhất (trong điều kiện không bị giới hạn về khả năng huy động vốn đầu tư). Ưu điểm của phương pháp NPV + Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền + Cho phép đo lường trực tiếp giá trị tăng thêm do vốn đầu tư tạo ra + Có thể tính giá trị hiện tại thuần của DA ĐT kết hợp bằng các cộng giá trị hiện tại thuần của các dự án với nhau. NPV (A + B) = NPVA + NPVB Những hạn chế của phương pháp + Phương pháp NPV không phản ánh mức sinh lời của đồng vốn đầu tư + Phương pháp này cũng không cho thấy mối liên hệ giữa mức sinh lời của vốn đầu tư và chi phí sử dụng vốn. + Không đưa ra kết quả lựa chọn khi các dự án không đồng nhất về mặt thời gian cũng như xếp hạng ưu tiên trong việc lựa chọn các DA ĐT khi nguồn vốn của doanh nghiệp bị giới hạn. Phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) Tỷ suất doanh lợi nội bộ hay còn gọi là lãi suất hoàn vốn nội bộ là một lãi suất mà chiết khấu với mức lãi suất đó làm cho giá trị hiện tại của các khoản tiền thuần hàng năm trong tương lai do đầu tư mang lại bằng với vốn đầu tư ban đầu. Hay nói cách khác tỷ suất doanh lợi nội bộ là một lãi suất mà chiếu khấu với mức lãi suất đó làm cho giá trị hiện tại thuần (NPV) của khoản đầu tư bằng không (=0). Ta có: Hoặc: NPV= Trong đó: NPV, CFt, CFo như đã nêu trên. IRR: Tỷ suất doanh lợi nội bộ của DA ĐT Tỷ suất doanh lợi nội bộ cũng là một trong những đại lượng phản ánh mức sinh lời của DA ĐT. Để xác định được tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án, người ta thường sử dụng 2 phương pháp: Phương pháp thử và xử lý sai số và phương pháp nội suy. + Phương pháp thử và xử lý sai số: Theo phương pháp này trước tiên người ta phải tự chọn một lãi suất và sử dụng lãi suất đó làm tỷ lệ chiết khấu để tìm giá trị hiện tại của các khoản thu, giá trị hiện tại của vốn đầu tư và so sánh chúng với nhau để xác định giá trị hiện tại thuần của dự án. Nếu giá trị hiện tại thuần của dự án khác không tương đối lớn thì tiếp tục thử lại bằng cách nâng mức lãi suất lên (nếu NPV > 0) hoặc hạ mức lãi suất xuống (NPV < 0), cứ làm như vậy cho đến khi tìm được một mức lãi suất làm cho giá trị hiện tại thuần của dự án bằng không hoặc xấp xỉ bằng không thì lãi suất đó chính là tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) của dự án. + Phương pháp nội suy: Theo phương pháp này việc xác định tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Chọn một mức lãi suất tùy ý r1 sau đó tính giá trị hiện tại thuần của dự án (NPV1) theo mức lãi suất r1. Bước 2: Chọn tiếp mức lãi suất r2 thỏa mãn điều kiện: i/ Nếu NPV1 là một số dương thì chọn r2 > r1 sao cho với r2 sẽ làm cho giá trị hiện tại thuần của dự án là một số âm (NPV2 < 0) và ngược lại. ii/ Để đảm bảo mức độ chính xác cao hơn thì chênh lệch giữa r1 và r2 trong khoảng 5% Bước 3: Tìm IRR của dự án. IRR của dự án sẽ nằm trong khoảng r1 và r2 và được xác định theo công thức: Việc đánh giá và lựa chọn DA ĐT bằng phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) được thực hiện theo trình tự sau: + Xác định tỷ suất doanh lợi nội bộ của DA ĐT + Đánh giá lựa chọn dự án: Khi sử dụng tỷ suất doanh lợi nội bộ làm tiêu chuẩn xem xét chấp nhận hay loại bỏ dự án, thông thường người ta dựa trên cơ sở so sánh tỷ suất doanh lợi nội bộ với chi phí sử dụng vốn cho dự án (r) và cần phân biệt 3 trường hợp sau: TH1: IRR < r: Loại bỏ dự án TH2: IRR = r thì tùy từng theo điều kiện cụ thể và sự cần thiết của dự án mà doanh nghiệp có thể chấp nhận hay loại bỏ dự án. TH3: IRR > 0: Nếu đây là dự án độc lập thì dự án được chấp nhận Nếu là dự án loại trừ nhau thì chọn dự án có tỷ suất doanh lợi nội bộ cao nhất. Ưu điểm của phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ Đánh giá mức sinh lời của DA có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền Cho phép so sánh dễ dàng mức sinh lời của dự án với chi phí sử dụng vốn Cho phép đánh giá khả năng bù đắp chi phí sử dụng vốn của DA ĐT so với tính rủi ro của nó Hạn chế của phương pháp IRR Không chú trọng đến quy mô đầu tư nên có thể dẫn đến kết luận không thỏa đáng Khó khăn trong việc đánh giá lựa chọn dự án có nhiều tỷ suất doanh lợi nội bộ và có thể dẫn tới sai lầm trong việc lựa chọn dự án. Phương pháp chỉ số sinh lời (PI) Chỉ số sinh lời cũng là một thước đo khả năng sinh lời của một dự án đầu tư có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền. Chỉ số sinh lời được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của các khoản thu nhập từ dự án và vốn đầu tư ban đầu của dự án. Trong đó: PI: Chỉ số sinh lời của dự án CFt, CFo như đã nêu ở trên r: Tỷ lệ chiết khấu, thường sử dụng là chi phí sử dụng vốn để thực hiện dự án Việc sử dụng PI làm tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư được thực hiện như sau: + Xác định chỉ số sinh lời của mỗi dự án đầu tư + Đánh giá, lựa chọn dự án: Căn cứ vào chỉ số PI có thể có 3 TH sau: TH1: PI < 1: Loại bỏ dự án TH2: PI = 1: Tùy từng điều kiện có thể chấp nhận hoặc loại bỏ dự án TH3: PI > 1: Nếu đây là dự án độc lập thì dự án được chấp nhận Nếu đây là dự án loại trừ thì thông thường lựa chọn dự án có PImax Ưu điểm của phương pháp: Đánh giá mức sinh lời của DA có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền Cho thấy mối liên hệ giữa các khoản thu nhập do dự án đưa lại với số vốn đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án Có thể sử dụng chỉ số PI trong việc so sánh các dự án có số vốn đầu tư khác nhau để thấy được mức sinh lời giữa các dự án. Nhược điểm của phương pháp: Không phản ánh trực tiếp giá trị tăng thêm của DA ĐT, vì thế nếu sử dụng phương pháp này có thể dẫn đến quyết định sai lầm. 4.3.4. Một số trường hợp đặc biệt khi đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư 4.3.4.1. Trường hợp có mâu thuẫn khi sử dụng hai phương pháp NPV và phương pháp IRR trong đánh giá và lựa chọn dự án Cả 2 phương pháp trên đều dựa trên cơ sở xem xét mức sinh lời của DA ĐT có tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền để đánh giá và lựa chọn dự án. Tuy nhiên không phải trong tất cả các trường hợp sử dụng 2 phương pháp này vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đều dẫn đến kết luận giống nhau Trường hợp đánh giá và lựa chọn 1 DA ĐT độc lập: Cả NPV và IRR đều dẫn đến kết luận giống nhau trong việc chấp nhận hay loại bỏ dự án. + Nếu NPV > 0 và IRR > r : Dự án được chấp nhận. + Nếu NPV < 0 và IRR < r: Dự án bị loại bỏ + Nếu NPV = 0 và IRR = r: DN có thể chấp nhận hay loại bỏ dự án tùy tình hình cụ thể Trường hợp đánh giá lựa cọn một trong các dự án loại trừ nhau: Có NPVA > NPVB, IRRA < IRRB : Nếu theo phương pháp NPV: chọn DA A, loại DA B Nếu theo phương pháp IRR: chọn DA B, loại DA A Trong trường hợp này để chọn dự án người ta phải tìm tỷ suất chiết khấu cân bằng rc sao cho với rc sẽ làm cho NPVA = NPVB Căn cứ vào chi phí sử dụng vốn mà DN sử dụng và tỷ suất chiết khấu cân bằng để lựa chọn dự án nào có NPV cao nhất. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn trên là: + Sự khác nhau về quy mô đầu tư của dự án + Sự khác nhau về kiểu mẫu dòng tiền của dự án + Khác nhau về giả định tỷ lệ tái đầu tư 4.3.4.2. Trường hợp đánh giá và lựa chọn DAĐT có tuổi thọ không bằng nhau Đối với các dự án loại trừ nhau có tuổi thọ không bằng nhau, việc sử dụng tiêu chuẩn giá trị hiện tại thuần có phần bị hạn chế. Để khắc phục nhược điểm này, có thể sử dụng các phương pháp sau đây: Phương pháp thay thế: Quy các dự án về cùng một mặt bằng so sánh cùng độ dài thời gian hoạt động. Sau đó tính NPV của các dự án trên cơ sở dòng tiền và thời gian đã được điều chỉnh. Căn cứ vào tiêu chuẩn này, chọn dự án có giá trị hiện tại thuần cao nhất. Phương pháp chuỗi tiền tệ hàng năm: Dàn đều NPV của dự án thành thu nhập đều hàng năm trong suốt vòng đời của dự án. So sánh các dự án với nhau, chọn dự án có thu nhập đều hàng năm lớn nhất. B. Bài tập Bài tập số 1: Một công ty muốn đầu tư một thiết bị mới thay thế cho thiết bị cũ để tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Các thông tin về thiết bị này như sau: Doanh thu tiêu thụ dự kiến năm đầu tiên là 1 tỷ đồng, các năm tiếp theo tăng theo cấp số nhân 5% hàng năm. Thời gian sử dụng thiết bị là 4 năm Chi phí biến đổi dự kiến bằng 60% doanh thu hàng năm Chi phí cố định hàng năm dự kiến bằng 200 triệu (không kể KH TSCĐ) Giá mua thiết bị là 800 triệu, thiết bị được khấu hao theo phương pháp đường thẳng Giá trị thanh lý thiết bị khi hết thời gian sử dụng dự kiến là 130 triệu đồng Chi phí sử dụng vốn của dự án là 6% và thuế suất thuế TNDN là 25%. Yêu cầu: Hãy tính giá trị hiện tại thuần của dự án. Xác định chỉ số sinh lời, tỷ suất doanh lợi nội bộ và nên kết luận doanh nghiệp có thể thay thiết bị mới này không? Bài tập số 2: Có 2 dự án đầu tư thuộc loại xung khắc: Dự án A có vốn đầu tư 200 triệu, thời gian hoạt động là 3 năm, mỗi năm mang lại một khoản thu nhập ròng là 90 triệu. Dự án B có vốn đầu tư là 140 triệu, thời gian tồn tại là 3 năm, mỗi năm mang lại một khoản thu nhập ròng là 64 triệu. Hãy dùng tiêu chuẩn NPV và IRR để lựa chọn khi chi phí sử dụng vốn bình quân có thể biến đổi từ 0% tới 20%. Biết tỷ lệ chiết khấu là 10%. Bài tập số 3: Doanh nghiệp A có một dự án đầu tư xây dựng thêm 1 phân xưởng và có tài liệu như sau: Dự toán vốn đầu tư: Đầu tư vào TSCĐ là 200 triệu đồng Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết dự tính bằng 15% doanh thu thuần. Toàn bộ vốn đầu tư bỏ ngay 1 lần. Thời gian hoạt động của dự án là 4 năm. Doanh thu thuần do phân xưởng đưa lại dự kiến hàng năm là 400 triệu đồng Chi phí hoạt động kinh doanh hàng năm của phân xưởng: Chi phí biến đổi bằng 60% doanh thu thuần Chi phí cố định (chưa kể khấu hao TSCĐ) là 60 triệu đồng/năm Dự kiến các TSCĐ sử dụng với thời gian trung bình là 4 năm và được khấu hao theo phương pháp đường thẳng. Giá trị thanh lý là không đáng kể. Số VLĐ ứng ra dự tính thu hồi toàn bộ vào cuối năm thứ 4. Doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập với thuế suất 25%. Yêu cầu: Xác định giá trị hiện tại thuần của dự án? Xác định tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án. Dựa trên tiêu chuẩn này cho biết có nên lựa chọn dự án không? Biết rằng: Chi phí sử dụng vốn của dự án là 12%/năm V. CHƯƠNG V: CƠ CẤU NGUỒN VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN V.1. Mục tiêu, nhiệm vụ - Mục tiêu: Chương V sẽ nghiên cứu các vấn đề cơ bản như sau: Cơ cấu nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng, chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. - Nhiệm vụ của sinh viên: Sinh viên cần hiểu được những vấn đề cơ bản về nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp. Nắm được chi phí sử dụng vốn vay và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp từ đó đưa ra được các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. - Đánh giá sinh viên: Thảo luận về vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp từ các kiến thức đã nghiên cứu. V.2. Quy định hình thức học cho mỗi nội dung nhỏ Nội dung Hình thức học Cơ cấu nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng Giảng, thảo luận, sinh viên tự nghiên cứu Chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Giảng, thảo luận, sinh viên tự nghiên cứu V.3. Các nội dung cụ thể A. Nội dung lý thuyết 5.1.CƠ CẤU NGUỒN VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 5.1.1. Cơ cấu nguồn vốn Cơ cấu nguồn vốn là thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Quyết định về cơ cấu nguồn vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng của doanh nghiệp bởi lẽ: + Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. + Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên 1 cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp hay công ty cổ phần. Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn của một doanh nghiệp, người ta chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau: Hệ số nợ = Tổng số nợ Tổng nguồn vốn (hoặc tổng tài sản) Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả. Hệ số vốn chủ sở hữu = Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nhìn trên tổng thể, nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả. Do vậy, có thể xác định: Hệ số nợ = 1 – Hệ số vốn chủ sở hữu Và Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 – Hệ số nợ Cơ cấu nguồn vốn còn được phản ánh qua hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng số nợ Vốn chủ sở hữu 5.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Việc hoạch định xác định cơ cấu nguồn vốn mục tiêu là vấn đề khó khăn phức tạp đòi hỏi phải xem xét nhiều yếu tố, trong đó cần chú ý tới các yếu tố sau: Sự ổn định của doanh thu: Doanh nghiệp có doanh thu tương đối ổn định thì có thể sử dụng nợ vay nhiều hơn. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh Đòn bẩy kinh doanh Tốc độ tăng trưởng Khả năng sinh lời Thuế thu nhập Quyền kiểm soát công ty Thái độ của nhà quản lý, các chủ nợ Lãi suất thị trường Tính linh hoạt về mặt tài chính 5.2. CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 5.2.1. Khái niệm chi phí sử dụng vốn Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, giá hay chi phí sử dụng vốn được xem xét là chi phí cơ hội và chi phí đó được xác định từ thị trường vốn. Chi phí sử dụng vốn có thể được xác định bằng số tuyệt đối là một số tiền hay được xác định bằng số tương đối là một tỷ lệ phần trăm (%). Cách thông thường người ta hay sử dụng tỷ lệ phần trăm. Chi phí sử dụng vốn được xác định tại một thời điểm, có thể được xác định cho các dự án đầu tư hay một doanh nghiệp nhưng cần phải được xác định trên cơ sở xem xét các chi phí vốn ở hiện tại chứ không phải dựa vào chi phí trong quá khứ. Việc xem xét chi phí sử dụng vốn là vấn đề rất quan trọng đối với các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp. Xem xét chi phí sử dụng vốn tạo ra tầm nhìn cho các nhà quản trị khi xem xét chiến lược huy động vốn của doanh nghiệp. Chi phí sử dụng vốn là một căn cứ quan trọng để lựa chọn dự án đầu tư làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. 5.2.2. Chi phí sử dụng vốn vay 5.2.2.1. Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế là tỷ suất sinh lời tối thiểu doanh nghiệp phải đạt được khi sử dụng vốn vay chưa tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp để tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu không bị sụt giảm và có thể hiểu qua công công thức sau: Trong đó: Vt : Số tiền vay thực tế mà doanh nghiệp thực sự sử dụng được cho đầu tư. Tt : Là số vốn gốc và tiền lãi doanh nghiệp trả ở năm thứ t cho chủ nợ hay người cho vay rdt : chi phí sử dụng vốn vay trước thuế n: số năm vay vốn Để xác định chi phí sử dụng vốn vay, có thể áp dụng các phương pháp xác định tỷ suất doanh lợi nội bộ của khoản đầu tư (IRR). 5.2.2.2. Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế có thể xác định theo công thức sau: rd = rdt x ( 1 – t) Trong đó: rd: Chi phí sử dụng vốn vay sau thuế rdt: Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế t: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 5.2.3. Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu 5.2.3.1. Chi phí sử dụng cổ phiếu thường trong một cơ cấu vốn cho trước 5.2.3.2.Chi phí sử dụng cổ phiếu thường mới Để tăng thêm vốn đầu tư, công ty cổ phần có thể thực hiện huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường mới bán ra thu thêm tiền vốn. Đây là nguồn vốn chủ sở hữu ngoại sinh của công ty. Khi công ty phát hành thêm cổ phiếu thường mới để tăng thêm vốn đầu tư, công ty phải chịu thêm hai tác động chủ yếu liên quan đến chi phí sử dụng vốn: Giá phát hành cổ phiếu mới thông thường sẽ thấp hơn giá thị trường cổ phiếu trước thời điểm phát hành Để phát hành cổ phiếu mới, công ty phải chịu chi phí phát hành, số chi phí này làm giảm số tiền vốn thực thu được khi phát hành cổ phần mới. 5.2.3.3. Chi phí sử dụng lợi nhuận để lại Công ty cổ phần cũng như các doanh nghiệp khác có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để lại tái đầu tư. Đây là nguồn vốn chủ sở hữu nội sinh của công ty. Xét về mặt kế toán, khi doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp không phải trả một khoản chi phí nào cho việc sử dụng nguồn vốn này. Tuy nhiên, trên góc độ tài chính phải tính đến chi phí cơ hội của số lợi nhuận giữ lại. Lợi nhuận sau thuế của công ty sau khi trả cổ tức cho cổ đông, phần còn lại công ty để tái đầu tư. Khi sử dụng phần lợi nhuận để tái đầu tư thì công ty cần phải đảm bảo đạt được tỷ suất sinh lời tối thiểu bằng tỷ suất sinh lời mà cổ đông có thể thu được khi sử dụng số tiền đó đầu tư vào nơi khác với mức độ rủi ro, tương đương với mức rủi ro hiện tại của công ty. 5.2.3.1. Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi Công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu ưu đãi. Loại cổ phiếu ưu đãi thường được các Công ty cổ phần ở nhiều nước sử dụng là loại cổ phiếu ưu đãi có cổ tức cố định và không có quyền biểu quyết. Đây là loại chứng khoán lai ghép giữa cổ phiếu thường và trái phiếu. Đối với công ty cổ phần, chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi là tỷ suất sinh lời tối thiểu cần phải đạt được khi huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu ưu đãi để đầu tư sao cho thu nhập trên 1 cổ phần hay giá cổ phiếu của công ty không bị sụt giảm. 5.2.4. Chi phí sử dụng vốn bình quân Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền và có thể được xác định bằng công thức sau: Trong đó : WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân Wi: Tỷ trọng của nguồn vốn I trong tổng nguồn tài trợ ri: Chi phí sử dụng vốn của vốn i i: Nguồn tài trợ tính theo thứ tự Khi tính chi phí sử dụng vốn bình quân thì chi phí sử dụng vốn của từng nguồn tài trợ riêng biệt đưa vào tính toán phải là chi phí sử dụng vốn sau thuế. 5.2.5. Chi phí cận biên về sử dụng vốn Chi phí cận biên sử dụng vốn (MCC) là chi phí cho đồng vốn mới nhất mà doanh nghiệp huy động tăng thêm vào đầu tư hay hoạt động kinh doanh. Khi doanh nghiệp huy động vốn, nếu quy mô vốn huy động của doanh nghiệp gia tăng và tới một mức giới hạn nhất định sẽ làm cho chi phí cạn biên sử dụng vốn tăng lên. Bởi vì, khi quy mô vốn huy động vượt qua một điểm giới hạn nhất định sẽ làm tăng thêm rủi ro cho những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp, khi đó người cung cấp vốn sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lời cao hơn đối với số vốn gia tăng để bù đắp cho rủi ro tăng thêm mà họ có thể phải gánh chịu. B. Thảo luận 1. Phương thức thảo luận: - Lớp chia thành các nhóm sinh viên (mỗi nhóm khoảng 5- 10 sinh viên) - Nhóm sinh viên bốc thăm chủ đề thảo luận. - Sinh viên chuẩn bị ở nhà. - Buổi thảo luận trên lớp: Từng nhóm sinh viên lên thuyết trình về đề tài thảo luận (nhóm trưởng trình bày), sau đó, các sinh viên dưới lớp trao đổi, thảo luận với nhóm xung quanh chủ đề thảo luận đó. 2. Đề tài thảo luận: - Lấy ví dụ thực tế để phân tích, đánh giá hiệu quả của việc huy động động vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi trong doanh nghiệp. - Lấy ví dụ thực tế để phân tích, đánh giá hiệu quả của việc huy động động vốn bằng phát hành cổ phiếu mới trong doanh nghiệp. - Lấy ví dụ thực tế để phân tích, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng lợi nhuận để lại để tái đầu tư trong doanh nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO - Sách, giáo trình chính: [1]; PGS.TS. Nguyễn Đình Kiệm, TS. Bạch Đức Hiển: Tài chính doanh nghiệp - NXB Tài chính năm 2008 [2] ; TS. Bùi Văn Vần: Hệ thống câu hỏi và bài tập Tài chính doanh nghiệp – NXB Tài chính năm 2009 - Sách tham khảo: [3]; Lưu Thị Hương:Tài chính doanh nghiệp - NXB Đại học Kinh tế quốc dân - Năm 2005 [4]; Nguyễn Đặng Nam: Quản trị tài chính doanh nghiệp - NXB Tài chính - Năm 2006 [5]; TS. Nguyễn Minh Kiều: Tài chính doanh nghiệp - NXB Thống kê - Năm 2006 [6]; Tạp chí kế toán, tạp chí kinh tế và các báo, tạp chí có liên quan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai_giang_tai_chinh_doanh_nghiep_4757.doc