Ảnh hưởng của mật độ nuôi ban đầu và ph đến sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian pha cân bằng của tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) nuôi sinh khối

1. Kết luận Tảo được nuôi ở mật độ 15, 20 và 25 vạn tb/ml cho sinh trưởng, mật độ cực đại cao hơn (81,77 – 82,27 so với 71,53 vạn tb/ml) và thời gian đạt pha cân bằng sớm hơn (4 hoặc 5 so với 6 ngày) so với mật độ thấp 10 vạn tb/ml (P < 0,05). Tảo được nuôi pH 7,0 – 8,0 cho sinh trưởng, mật độ cực đại cao hơn và thời gian đạt pha cân bằng tốt hơn so với pH 8,5 và 9,0 (67,87 – 78,83 so với 45,53 và 56,33 và ngày thứ 5 so với ngày thứ 6) (P < 0,05). Mật độ nuôi 15 vạn tb/ml và pH từ 7,5 – 8,0 nên được sử dụng trong thực tiễn sản xuất để tiết kiệm nguồn tảo giống, hóa chất điều chỉnh pH mang lại hiệu quả kinh tế cao.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 102 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của mật độ nuôi ban đầu và ph đến sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian pha cân bằng của tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) nuôi sinh khối, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 121 THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI BAN ĐẦU VÀ pH ĐẾN SINH TRƯỞNG, MẬT ĐỘ CỰC ĐẠI VÀ THỜI GIAN PHA CÂN BẰNG CỦA TẢO Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) NUÔI SINH KHỐI EFFECT OF DENSITYAND pH ON GROWTH, MAXIMUM DENSITY AND THE TIME OBTAINED STATIONARY PHASE OF Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) MASS PRODUCTION Trần Thị Lê Trang1, Lục Minh Diệp1 Ngày nhận bài: 15/8/2016; Ngày phản biện thông qua: 21/12/2016, Ngày duyệt đăng: 15/6/2017 TÓM TẮT Mật độ nuôi và pH là hai yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian đạt pha cân bằng của vi tảo nói chung và tảo T. pseudonana nói riêng. Nghiên cứu được thực hiện với 4 mật độ (10, 15, 20 và 25 vạn tb/ml) và 5 mức pH (7,0; 7,5; 8,0; 8,5 và 9,0) trong nuôi sinh khối tảo T. pseudonana ở thể tích 60 lít. Kết quả cho thấy: Tảo được nuôi ở mật độ cao hơn (15, 20 và 25 vạn tb/ml) cho sinh trưởng, mật độ cực đại cao hơn và thời gian pha cân bằng sớm hơn so với mật độ thấp 10 vạn tb/ml (81,77 – 82,27 so với 71,53 vạn tb/ml; 4 hoặc 5 so với 6 ngày) (P < 0,05). Kết quả tương tự cũng được ghi nhận đối với các mức pH trong đó pH thấp từ 7,0 – 8,0 cho sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian đạt pha cân bằng tốt hơn so với mức pH cao 8,5 và 9,0 (67,87 – 78,83 so với 45,53 và 56,33; ngày thứ 5 so với ngày thứ 6) (P < 0,05). Như vậy, nên nuôi tảo T. pseudonana ở mật độ 15 vạn tb/ml và pH từ 7,5 đến 8,0. Từ khóa: Mật độ cực đại, pH, sinh trưởng, pha cân bằng, Thalassiosira pseudonana ABSTRACT Density and pH are two factors having signifi cant effects on growth, maximum density and the time obtained in the stationary phase of microalgae in general and T. pseudonana in particular. The research was carried out with 4 different density levels (10, 15, 20 and 25 x 104cells/ml) and pH levels (7.0, 7.5, 8.0, 8.5 and 9.0) in T. pseudonana mass production in volume of 60 liters. The results showed that: T. pseudonana cultured at the density of 15, 20 and 25 x 104cells/ml gave higher growth, maximum density (81.77 – 82.27 compared to 71.53 104cells/ml) and earlier time of stationary phase (4 or 5 as opposed to 6 days) in comparison with those of 10 x 104cells/ml (P < 0.05). The similar results were also found with pH, in which, lower pH (7.0 – 8.0) showed higher maximum density and earlier time of stationary phase compared with the higher pH (8.5 and 9.0) (67.87 – 78.83 as opposed to 45.53 and 56.33; day 5 compared to day 6) (P < 0.05). From this study, it can be suggested that T. pseudonana should be cultured at the density of 15 x 104cells/ml and pH between 7.5 and 8.0. Keywords: Growth, maximum density, pH, stationary phase, Thalassiosira pseudonana 1 Viện Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang 122 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Vi tảo (Microalgae) là nguồn thức ăn tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất giống các đối tượng thủy sản bao gồm các loài cá, giáp xác và động vật thân mềm. Kỹ thuật lưu giữ, nuôi và thu sinh khối tảo là một trong những khâu then chốt, quyết định đến sự thành công trong ương nuôi ấu trùng [9, 11]. Cho đến nay, các trại sản xuất giống ở nước ta chỉ tập trung sử dụng một vài loại giống tảo bản địa: Chaetoceros, Nannochloropsis, Isochrysis với năng suất và chất lượng luôn biến động đặc biệt là vào mùa mưa, đã ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống, khả năng biến thái và chuyển giai đoạn của ấu trùng, từ đó gián tiếp làm giảm hiệu quả sản xuất. Đa dạng hóa số loài vi tảo ngoài các loài bản địa bằng cách di nhập từ nước ngoài về là một trong những hướng đi đang được quan tâm, nhằm cải thiện chất lượng và nâng cao tỷ lệ sống của con giống. Thalassiosira là loài tảo khuê đơn bào mới được nhập về nước ta trong những năm gần đây, có giá trị dinh dưỡng rất cao, đặc biệt là các axit béo không no đa nối đôi với hàm lượng DHA và EPA đạt 7,2 mg/ml [14, 15]. Trong điều kiện nuôi nhân tạo, Thalassiosira có tốc độ sinh trưởng nhanh, có khả năng thích ứng với những thay đổi môi trường như: pH, ánh sáng và nhiệt độ [7]. Với những ưu điểm trên cộng với kích thước tế bào nhỏ 4-6 µm, Thalassiosira là một trong những loài tảo được ưu tiên lựa chọn trong các trại sản xuất giống cá biển (làm thức ăn cho copepoda), các trại sản xuất nhuyễn thể (giai đoạn nhuyễn thể có kích thước 200 µm trở lên) và các trại sản xuất tôm giống (giai đoạn mysis đến post-larvae) [11, 12]. pH và mật độ nuôi được xem là hai yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng, mật độ cực đại, thời gian đạt pha cân bằng và thời gian duy trì của quần thể tảo nói chung và Thalassiosira nói riêng [2, 3, 4]. Việc xác định pH và mật độ nuôi thích hợp không những cho năng suất cao mà còn tiết kiệm được lượng hóa chất sử dụng và nguồn tảo giống ban đầu nhằm đem lại hiệu quả kinh tế khi nuôi ở quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về pH và mật độ nuôi trong nuôi sinh khối tảo Thalassiosira còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như thiếu nguồn giống, kinh phí triển khai,. Chính vì vậy, nghiên cứu này nhằm xác định pH và mật độ nuôi tối ưu cho nuôi tảo Thalassiosira ở quy mô sinh khối, cung cấp các dữ liệu quan trọng cho việc thiết lập quy trình nuôi thu sinh khối loài tảo này phù hợp với điều kiện khí hậu ở nước ta. II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là giống tảo Thalassiosira pseudonana (Hasle & Heimdal, 1970) được nhập từ Đan Mạch từ năm 2012 và đang được lưu giữ tại phòng Tảo giống thuộc Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2015. Nguồn nước biển được lấy từ khu vực Hòn Đỏ thuộc vịnh Nha Trang, cấp vào bể chứa 10m3, qua hệ thống lọc cát, sau đó để lắng từ 2 – 3 ngày nhằm loại bỏ cặn, chất hữu cơ lơ lửng...Nước biển sau khi lọc và lắng được cấp vào các túi nylon 60 lít và được xử lý bằng Chlorine 25 ppm trong 1 ngày với sục khí mạnh để diệt khuẩn, sau đó trung hòa bằng Natrithiosulfat với tỉ lệ 1:1. Môi trường dinh dưỡng được sử dụng trong nghiên cứu này là f/2. 2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ được bố trí với 4 nghiệm thức lần lượt là: 10, 15, 20 và 25 vạn tế bào/ml trong nuôi sinh khối tảo T. pseudonana trong túi nylon 60 lít. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần cùng thời điểm. Ảnh hưởng của pH lên sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian đạt pha cân bằng của tảo được bố trí với 5 mức khác nhau: pH 7,0; 7,5; 8,0; 8,5 và 9,0. Các mức pH được Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 123 điều chỉnh bằng cách sử dụng các hóa chất HCl và NaOH. Mật độ ban đầu là kết quả tốt nhất ở thí nghiệm 1. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần cùng thời điểm. Trong suốt quá trình thí nghiệm, các thông số kĩ thuật được đảm bảo phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tảo T. pseudonana gồm: nhiệt độ từ 25 – 350C, độ mặn 30 – 35‰, cường độ ánh sáng dưới 20 klux (nhờ hệ thống mái che), sục khí liên tục với tốc độ 300 lít/phút. 3. Phương pháp thu thập và xử lí số liệu 3.1. Phương pháp lấy mẫu tảo Mẫu tảo được lấy một lần trong ngày vào 8 giờ sáng để xác định mật độ tế bào. Lượng mẫu tảo được lấy mỗi lần là 5 ml. Mẫu sau khi thu được cố định bằng dung dịch Neutral Lugols (20g Potasium Iodin (KI) + 10g I2 + 200 mL nước cất). 3.2. Phương pháp xác định mật độ tế bào tảo Việc xác định mật độ tế bào được tiến hành bằng buồng đếm hồng cầu (Neubaeur’s Hemacytometer); buồng đếm có 25 ô vuông lớn, mỗi ô có 16 ô vuông nhỏ, mỗi ô vuông nhỏ có diện tích 0,0025 mm2, độ sâu buồng đếm 0,1 mm. Lắc đều mẫu tảo, dùng micropipet hút mẫu tảo cho vào buồng đếm đã được đậy sẵn lamen, để lắng một lúc rồi đưa vào thị trường kính để đếm ở vật kính 40. Mật độ tế bào được xác định theo 2 trường hợp: - Trường hợp mật độ tảo thưa (dưới 5´106 TB/mL): Mật độ tế bào (TB/mL) = Số tế bào đếm được trong 25 ô lớn ´ 104. - Trường hợp mật độ tảo dày (trên 5´106 TB/mL): Mật độ tế bào (TB/mL) = (Số tế bào ở 5 ô lớn/5) ´ 25 ´ 104. 3.3. Quản lý các yếu tố môi trường Các yếu tố môi trường được xác định hàng ngày. Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế rượu (độ chính xác 10C). pH được đo bằng máy đo pH (Hanna pH Meter, độ chính xác 0,1). Độ mặn được đo bằng khúc xạ kế (Refractometer, độ chính xác 0,5‰). Cường độ ánh sáng được đo bằng máy đo cầm tay Hanna Digital Illuminometer – Đài Loan (độ chính xác ±6% giá trị đọc được). 3.4. Phương pháp xử lý số liệu Các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (Oneway - ANOVA) và phép kiểm định Duncan để so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) về mật độ tảo giữa các nghiệm thức thí nghiệm. Toàn bộ số liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình (TB) ± sai số chuẩn (SE). III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Ảnh hưởng của mật độ nuôi Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian đạt pha cân bằng của quần thể tảo T. pseudonana với xu hướng chung là mật độ nuôi càng cao thì khả năng sinh trưởng của tảo càng nhanh, mật độ cực đại đạt được càng lớn và thời gian đạt pha cân bằng càng sớm (Hình 1). Ở nghiệm thức có mật độ thấp 10 vạn tb/ml, tảo sinh trưởng chậm, mật độ cực đại đạt được thấp (71,53 ± 1,99) và thời gian đạt pha cân bằng muộn hơn (ngày nuôi thứ 6) so với các nghiệm thức có mật độ cao hơn (P < 0,05). Khi gia tăng mật độ từ 15 đến 25 vạn tb/ml, sinh trưởng của tảo tăng nhanh, mật độ cực đại đạt từ 81,77 – 82,27 vạn tb/ml, thời gian đạt pha cân bằng sớm ở ngày nuôi thứ 4 và 5. Không có sự khác biệt thống kê về mật độ cực đại, giữa các mật độ 15, 20 và 25 vạn tb/ml (82,27 ± 2,08; 81,93 ± 2,17 và 81,77 ± 1,79) (P > 0,05). Tuy nhiên, ở mật độ ban đầu cao 25 vạn tb/ml có thời gian đạt pha cân bằng rất sớm (ngày thứ 4) nhưng thời gian duy trì của quần thể tảo T. pseudonana ngắn hơn 2 ngày so với các mật độ còn lại (8 ngày so với 10 ngày) 124 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 Mật độ nuôi là một trong những yếu tố có liên quan mật thiết đến tốc độ sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian tảo đạt pha cân bằng [1], [2], [5]. Nhiều nghiên cứu cho thấy: các loài tảo nói chung và tảo T. pseudonana nói riêng đều phát triển theo quy luật chung: khi mật độ nuôi cao thì tốc độ sinh trưởng của tảo nhanh, mật độ cực đại lớn và thời gian đạt pha cân bằng sớm hơn [3, 4, 6]. Mật độ nuôi cao làm số lượng tế bào tham gia vào quá trình phân chia càng lớn, kết quả là tốc độ sinh trưởng của tảo càng nhanh, số lượng tế bào tạo ra càng lớn và ngược lại [1, 3]. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong nuôi sinh khối các loài tảo nhằm rút ngắn thời gian của pha 1 (pha thích nghi), nhanh chóng đạt đến pha cân bằng nhằm thu được lượng sinh khối lớn [10]. Do đó, trong trường hợp cần thu sinh khối tảo lớn trong thời gian ngắn nhất, bên cạnh các tác động về môi trường, dinh dưỡng và hệ thống nuôi, gia tăng mật độ nuôi là một trong những giải pháp phổ biến và hiệu quả. Tuy nhiên, việc gia tăng mật độ nuôi cũng có những tác động tiêu cực đối với sự sinh trưởng và phát triển của quần thể tảo. Sự tăng nhanh mật độ tế bào kéo theo sự thay đổi nhanh chóng của các yếu tố trong hệ thống nuôi, gồm: cạn kiệt dinh dưỡng, pH tăng, thiếu hụt CO2, hạn chế ánh sáng, tăng số lượng tế bào chết và các sản phẩm thải, [1], [6]. Hậu quả là, quần thể tảo nhanh chóng đạt đến pha cân bằng sau đó bước vào pha suy vong và tàn lụi; do đó thời gian duy trì quần thể giảm một cách đáng kể. Điều này giải thích tại sao ở nghiệm thức có mật độ nuôi cao 25 vạn tb/ml, sinh trưởng của tảo nhanh, thời gian đạt pha cân bằng sớm nhưng thời gian tàn lụi cũng xảy ra nhanh hơn. Như vậy, mật độ nuôi thích hợp cho sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian pha cân bằng của tảo T. pseudonana nuôi sinh khối là 15 vạn tb/ml nhằm tiết kiệm nguồn tảo giống, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi. 2. Ảnh hưởng của pH Tương tự, pH cũng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian đạt pha cân bằng của tảo T. pseudonana với xu hướng chung là pH ở mức thấp hơn (7,0 – 8,0) cho kết quả sinh trưởng, mật độ cực đại và thời gian pha cân bằng tốt hơn pH ở mức cao (8,5 và 9,0) (P < 0,05) (Hình 2). Trong khoảng pH từ 7,0 – 8,0, khả năng sinh trưởng và mật độ cực đại của tảo tăng nhanh và đạt cao nhất ở pH 7,5 và 8,0 với mật độ cực đại lần lượt là 76,9 ± 1,05 và 78,83 ± 1,01 (P > 0,05) so với tảo được nuôi ở pH 8,5 và 9,0. Trong đó, mật độ cực đại ở nhóm pH thấp (7,0 – 8,0) cao hơn xấp xỉ 1,5 lần so với nhóm Hình 1. Ảnh hưởng của mật độ Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 125 pH cao (67,87 – 78,83 so với 45,53 và 56,33 vạn tb/ml) (P < 0,05). Mặt khác, nuôi tảo ở pH thấp 7,0 – 8,0 cho thời gian đạt pha cân bằng sớm hơn (ngày nuôi thứ 5) và thời gian duy trì quần thể dài hơn (10 ngày) so với tảo được nuôi ở các mức pH cao 8,5 và 9,0 (đạt pha cân bằng vào ngày thứ 6 và tàn lụi nhanh sau 8 ngày thí nghiệm) (P < 0,05). Nhìn chung, mỗi loài tảo có sự thích ứng với pH riêng và tùy thuộc vào sự phân bố tự nhiên với khoảng pH thích hợp dao động từ 7,5 – 8,7 [13]. Nghiên cứu của Chen & Durbin, 1994 [8] đã kết luận: Thalassiosira pseudonana phát triển tốt nhất trong khoảng pH từ 8,0 – 8,4. Khi pH tăng, lượng CO2 trong nước rất thấp là nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng của tảo giảm rõ rệt. Bên cạnh đó, mức pH cao còn làm ức chế quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, quang hợp và trao đổi chất của tảo [16]. Do đó, khi tăng pH từ 8,5 – 9,0 như ở nghiên cứu này tảo sinh trưởng rất chậm, mật độ cực đại thấp và thời gian đạt pha cân bằng muộn. Trong quá trình quang hợp, tảo hấp thụ CO2 mạnh nên thường làm pH tăng lên rất cao. Có thể khắc phục tình trạng này bằng phương pháp sục khí có bổ sung khí CO2 hoặc bổ sung NaHCO3 vào môi trường nuôi tảo hoặc thay đổi chu kỳ chiếu sáng [6]. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Tảo được nuôi ở mật độ 15, 20 và 25 vạn tb/ml cho sinh trưởng, mật độ cực đại cao hơn (81,77 – 82,27 so với 71,53 vạn tb/ml) và thời gian đạt pha cân bằng sớm hơn (4 hoặc 5 so với 6 ngày) so với mật độ thấp 10 vạn tb/ml (P < 0,05). Tảo được nuôi pH 7,0 – 8,0 cho sinh trưởng, mật độ cực đại cao hơn và thời gian đạt pha cân bằng tốt hơn so với pH 8,5 và 9,0 (67,87 – 78,83 so với 45,53 và 56,33 và ngày thứ 5 so với ngày thứ 6) (P < 0,05). Mật độ nuôi 15 vạn tb/ml và pH từ 7,5 – 8,0 nên được sử dụng trong thực tiễn sản xuất để tiết kiệm nguồn tảo giống, hóa chất điều chỉnh pH mang lại hiệu quả kinh tế cao. 2. Kiến nghị Cần nghiên cứu sâu hơn ảnh hưởng của mật độ nuôi và pH đến thành phần sinh hóa, đặc biệt là hàm lượng các acid béo không no đa nối đôi có trong tảo T. pseudonana. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị dinh dưỡng của loài tảo này. Hình 2. Ảnh hưởng của pH 126 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 2/2017 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Lê Viễn Chí, 1996. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của tảo Skeletonema costatum. Luận văn phó tiến sỹ. Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng. 2. Nguyễn Thị Hương, 2001. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên sự phát triển của quần thể tảo Chaetoceros calcitrans (Paulsen, 1905). Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Thủy sản. 3. Hoàng Thị Bích Mai, 1995. Sinh sản sinh trưởng và cơ sở khoa học của quy trình kỹ thuật nuôi sinh khối tảo silic Skeletonema costatum Greville, Chaetoceros sp.làm thức ăn cho ấu trùng tôm sú Penaeus monodon Fabricus. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Thủy sản. 4. Tôn Nữ Mỹ Nga, 2006. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên sự phát triển của quần thể tảo Chaetoceros gracilis Pantosek 1892 nhập nội. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Thủy sản. 5. Trần Thị Lê Trang, Hoàng Thị Bích Mai, Nguyễn Tấn Sỹ, Trần Văn Dũng và Nguyễn Thị Thúy, 2012. Thuần hóa, lưu giữ và nhân sinh khối loài tảo Spirulina (Spirulina platensis Geitler, 1925) trong môi trường nước mặn. Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Trường. Trường Đại học Nha Trang. 6. Phan Văn Xuân, 2010. Nghiên cứu các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể tảo Thalassiosira sp. nhập nội và thử nghiệm nuôi sinh khối. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Nha Trang. Tiếng Anh 7. Brown, R. M., A. G. Dunstan, S. A. Norwood, A. K. Miller, 1996. Effects of harvest stage and light on the biochemical composition of the diatom Thalassiosira pseudonana. J. Phycol. 32: 64 – 73. 8. Chen, C.Y., & E.G. Durbin, 1994. Effects of pH on the growth and carbon uptake of marine phytoplankton. Marine Ecology Progress Series 109(1): 83-94. 9. Coutteau P., 1996. Manual on the production and use of live food for aquaculture: Micro – algae. FAO. Belgium: 10 – 60. 10. De Pauw N., Verbevent J., Claus C., 1983. Large – scale microalgae production for nursery rearing of marine bivalves. Aquaculture Engineering. Belgium 2: 27 – 47. 11. Jeffrey S. W., Brown M. R., Gakland. C. D., 1994. Microalgae for mariculture. Final report to FRDC on: Bacteria – free (axenic) microalgae for improved production of larval and juvenile bivalves and “Microalgae for mariculture”. CSIRO. Division of fi sheries. University of Tasmania. 1 – 79. 12. Kiatmetha, P., W. Siangdang, B. Bunnag, S. Senapin, B. Withyachumnamkul, 2010. Enhancement of survival and metamorphosis rates of Penaeus monodon larvae by feeding with the diatom Thalassiosira weissfl ogii. Aquacult. Int. DOI 10.1007/s 10499-010-9375-y. 13. Lavens, P., & P. Sorgeloos (Eds), 1996. Manual on the production and use of live food for aquaculture. FAO Fisheries Technical Paper No. 361. Rome, FAO. 14. Li, W. K. W., 1979. Cellular composition and physiological characteristic of the diatom Thalassiosira weissfl ogii adapted to cadmium stress. Mar. Biol., 55: 171 – 180. 15. Pratoomyot J., Srivilas P., Noiraksar, T., 2005. Fatty acids composition of 10 microalgal species. Songklanakrin. J. Sci. Technol., 27 (6): 1179 – 1187. 16. Swift, E., Taylor, W. R., 1966. The effect of pH on the division rate of the coccolithophorid Concosphaera elongata. J. Phy- col. 2: 121-12.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfanh_huong_cua_mat_do_nuoi_ban_dau_va_ph_den_sinh_truong_mat.pdf