Ảnh hưởng của các yếu tố về sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại một số trường Đại học thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long - Lê Thị Linh Giang

6. KẾT LUẬN Kết quả thống kê từ các phân tích hồi quy đa biến xác định rằng 3 thành tố của HĐĐT (CTĐT, Năng lực chuyên môn của GV, Phẩm chất trách nhiệm của GV) và 2 yếu tố liên quan đặc điểm cá nhân của SV (Kì vọng của SV, Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa của SV) ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên. Riêng yếu tố về kiểu nhân cách hướng nội/hướng ngoại của SV không ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ. Như vậy, hài lòng của SV không phải là một thực thể đơn nhất, mà là một chỉnh thể có tính phức hợp với 5 thành tố (hài lòng về CTĐT, hài lòng về năng lực chuyên môn của GV, hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV, hài lòng về điều kiện học tập, hài lòng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ). Điều này phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả như: Hill.F.M, Harvey.L và Zheng.T (1995); Ali Kara và Oscar W.DeShields (2004); Chr.Koilias (2005); M.Joseph Sirgy, Stephan Grzeskowiak và Don Rahtz (2006); Kết quả này cũng khá phù hợp với một số quan niệm về hài lòng đối với HĐĐT như Zhao, F. (2003) cho rằng hài lòng của SV là “sự thỏa mãn về chất lượng của khóa học, GV, đội ngũ nhân viên và dịch vụ hỗ trợ”. Ngoài ra, hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học còn chịu ảnh hưởng của yếu tố về kì vọng của SV và mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa./

pdf9 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Ngày: 02/12/2020 | Lượt xem: 229 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của các yếu tố về sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại một số trường Đại học thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long - Lê Thị Linh Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 26 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Lê Thị Linh Giang1, Trần Thị Lan Anh2, Châu Sôryaly2 1TS. Trường Đại học An Giang 2ThS. Trường Đại học An Giang Thông tin chung: Ngày nhận bài: 27/07/15 Ngày nhận kết quả bình duyệt: 25/10/16 Ngày chấp nhận đăng: 03/16 Title: Factors affecting students’ satisfaction towards training and education of some universities in Mekong delta Từ khóa: Sự hài lòng của sinh viên, hoạt động đào tạo đại học, giáo dục đại học Keywords: Students satisfaction, training activities, higher education ABSTRACT The purpose of this study is to evaluate the influence of these factors on students’ satisfaction in university training activities, aimed at improving the quality of higher education. Samples of 1,447 formal undergraduate students in four public universities from Mekong Delta (An Giang University, Can Tho University, Dong Thap University, Tra Vinh University). Participants completed a questionnaire consisting of two parts: First, assess the level of student expectations and the level of the school’s responses. Second, individual characteristics of students. The results obtained from the statistical analysis showed that students in four universities satisfied with the quality university training activities at a high level. Statistical results from the multivariate regression analysis determined that three components of training activities (Training program, Professional capacity of lecturers and Quality of faculty responsibilities) and two factors related to individual characteristics of students (Student expectations and The level of participation in extracurricular activities of students) affected students’ satisfaction. The findings have, based on the results of the present study, educational implications. TÓM TẮT Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học nhằm hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Mẫu nghiên cứu gồm 1.447 sinh viên hệ đại học hình thức giáo dục chính quy tại 4 trường đại học công lập thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Đồng Tháp, Trường Đại học Trà Vinh). Người tham gia hoàn thành bảng hỏi gồm 2 phần: Một là, đánh giá mức độ kì vọng của sinh viên và mức độ đáp ứng của nhà trường. Hai là, đặc điểm cá nhân của sinh viên. Kết quả thu được từ các phân tích thống kê cho thấy sinh viên ở 4 trường hài lòng về chất lượng hoạt động đào tạo đại học ở mức cao. Kết quả thống kê từ các phân tích hồi quy đa biến xác định rằng 3 thành tố của hoạt động đào tạo (Chương trình đào tạo, Năng lực chuyên môn của giảng viên, Phẩm chất trách nhiệm của giảng viên) và 2 yếu tố liên quan đặc điểm cá nhân của sinh viên (Kì vọng của sinh viên, Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa của sinh viên) ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên. Những khuyến nghị, dựa trên kết quả nghiên cứu, được đề xuất và thảo luận. Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 27 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Sư ̣hài lòng của sinh viên (SV) đối với các cơ sở giáo dục có thể ảnh hưởng đến niềm tin của ho ̣và những dư ̣điṇh trong tương lai (Cronin & Taylor 1992), đồng thời là môṭ chỉ số của trường để đo lường mức đô ̣đáp ứng nhu cầu của SV, hiêụ quả, thành công và sư ̣ sinh tồn của các trường. Đây cũng chính là bằng chứng về hiêụ quả của cơ sở đào tạo, giúp hê ̣ thống kip̣ thời và có những điều chỉnh hợp lí để ngày càng taọ ra mức đô ̣hài lòng cao hơn cho những đối tươṇg mà nó phục vu ̣ (Upcraft & Schuh 1996). Như vậy, viêc̣ thỏa mañ nhu cầu của người học se ̃ taọ cho họ thái độ tích cưc̣ và đôṇg cơ hoc̣ tập đúng đắn. Quá trình nhà trường tìm hiểu nhu cầu, kỳ vọng của SV sẽ là một trong những nhân tố cơ bản đảm bảo sự thành công trong giáo dục đại học, bởi lẽ hiệu quả của quá trình đào tạo phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân người học. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo (HĐĐT) đại học. 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Một số nhóm nghiên cứu tập trung nhiều vào ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của SV: nghiên cứu “Chất lượng dịch vụ quản lý trong trường đại học dựa trên quan điểm coi SV là khách hàng” của Hill.F.M hay Harvey.L (1995) khi nghiên cứu về sự hài lòng đều cho rằng SV chỉ cảm thấy hài lòng với chất lượng môi trường học tập trong trường khi nhà trường đáp ứng tốt nhu cầu của họ về: khu dịch vụ, tổ chức và đánh giá khóa học, đội ngũ GV và phong cách giảng dạy, phương pháp giảng dạy, điều kiện và đánh giá học tập, hoạt động phong trào, định hướng phát triển, chính sách/học bổng, khuôn viên nhà trường, Elliot và Healy (2001) khi nghiên cứu “Các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của SV có liên quan đến công tác tuyển sinh và duy trì hoạt động học tập” cho rằng yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của SV gồm: môi trường học thuật hiệu quả, khuôn viên/quang cảnh nhà trường, môi trường sống trong nhà trường, các dịch vụ hỗ trợ trong khuôn viên nhà trường, mối quan tâm của nhà trường đến SV, hiệu quả của hoạt động giảng dạy, chính sách/học bổng hiệu quả, nhà trường thực hiện cam kết hiệu quả, đảm bảo an ninh trật tự trong khu vực nhà trường, dịch vụ hoàn hảo và sự công nhận của SV. Khi nghiên cứu về “Đo lường sư ̣hài lòng của SV khoa Công nghê ̣thông tin ở Hy Lap̣” Chr. Koilias đề cập đến chất lượng môi trường học tập trong trường để thỏa mãn nhu cầu người học cần tập trung vào các nội dung: chương trình đào taọ, đôị ngũ GV, cơ sở vật chất, dic̣h vu ̣hỗ trơ,̣ hình ảnh của nhà trường (Chr. Koilias, 2005). Nghiên cứu chất lươṇg cuôc̣ sống của SV trường cao đẳng của M.Joseph Sirgy, Stephan Grzeskowiak và Don Rahtz (2006) cho rằng nâng cao chất lượng cuộc sống SV nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh hoạt của SV là vấn đề cấp thiết. Do đó, trường đã tập trung vào chất lượng của các lĩnh vực: (1) măṭ hoc̣ thuâṭ; (2) măṭ xa ̃ hôị; (3) cơ sở vâṭ chất và dic̣h vu ̣ cơ bản (M.Joseph Sirgy & cs., 2006). Ngoài ra, các nghiên cứu về một số đặc điểm cá nhân của SV ảnh hưởng đến hài lòng của họ: yếu tố giới tính và tuổi có nghiên cứu của Rienzi và cs. (1993), Aleamoni, L.M. (1998), Young, S. và Rush, L.; Shaw, D. (2009), Hoặc yếu tố sự trải nghiệm của SV khi học tại trường có nghiên cứu của Cashin, W.E. (1995), Cisneros-Cohernour, E. J. (2001), Dalton, H và Denson, N. (2009), Muhammad Nauman Abbasi (2011). Hoặc yếu tố kết quả học tập có nghiên cứu của Lally và Myhill (1994), Crumbley, Henry và Kratchman (2001), 3. KHUNG LÝ THUYẾT Căn cứ vào thuyết kỳ vọng của Victor Vroom làm cơ sở để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu. Tác giả cho rằng sư ̣hài lòng của SV đối với hoaṭ động đào tạo đại học là: “sư ̣ thỏa mãn kì vọng của chính SV về điều kiện và hoạt đôṇg đào taọ nhằm thỏa mãn nhu cầu trở thành người có năng lưc̣ trong liñh vưc̣ đươc̣ đào taọ”. Từ nhận định trên, chúng tôi đưa ra mô hình nghiên cứu như sau: Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 28 Hình 1. Mô hình nghiên cứu 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Mẫu nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ 04 trường đại học công lập thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Đồng Tháp, Trường Đại học Trà Vinh). Số phiếu phát ra là 1.621 phiếu và số phiếu thu về là 1.465 phiếu. Sau khi thu hồi, có 18 phiếu không hợp lệ nên bị loại. Trong các bảng không hợp lệ có 07 phiếu người được hỏi trả lời cực đoan (cho điểm vào một mức từ trên xuống hoặc theo đường dzích dzắc), 11 phiếu có số lượng ô trống trên 30%. Vì vậy, kích thước mẫu cuối cùng dùng để xử lý là 1.447 phiếu. Kết quả phân tích đặc điểm mẫu nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phân bố giữa các nhóm là khá đồng đều, cụ thể: ĐẶC ĐIỂM NHÀ TRƯỜNG HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC - Hài lòng về chương trình đào tạo (CTĐT) - Hài lòng về năng lực chuyên môn giảng viên (NLCMGV) - Hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV (PCTNGV) - Hài lòng về điều kiện học tập (ĐKHT) - Hài lòng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ (CL DVHT) 3. Năm học 5. Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa 4. Kết quả học tập 2. ĐĐ ngành nghề 1. ĐĐ CQQL trường ĐH HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC •CTĐT •NLCMGV •PCTNGV •ĐKHT •CL DVHT ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN SV 2. Kiểu nhân cách 1. Kì vọng Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 29 Bảng 1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu Đặc điểm mẫu nghiên cứu Số lượng Tần suất (%) 1. Cơ sở giáo dục Trường Đại học An Giang 397 27,4 Trường Đại học Cần Thơ 385 26,6 Trường Đại học Đồng Tháp 316 21,9 Trường Đại học Trà Vinh 349 24,1 2. Khối ngành Sư phạm 629 43,5 Kinh tế 233 16,1 Thủy sản 585 40,4 3. Năm học SV SV năm thứ III 721 49,8 SV năm thứ IV 726 50,2 4. Kiểu nhân cách Hướng ngoại 947 65,4 Hướng nội 500 34,6 5. Kết quả xếp loại học tập Học lực TB - Yếu 607 41,9 Học lực Khá - Giỏi 840 58,1 6. Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa Tham gia ít 384 26,5 Tham gia nhiều 1.063 73,5 4.2 Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu này gồm hai bước chính: (1) nghiên cứu sơ bộ và (2) nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ: sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu chính thức: sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Các bước nghiên cứu được thực hiện như sau: Nghiên cứu điṇh tính thực hiện cho các nghiên cứu trước đây của tác giả để xây dựng bộ công cụ tác giả đã phỏng vấn nhóm lañh đaọ, CBQL và thảo luâṇ nhóm với SV các khóa tại các trường được khảo sát. Muc̣ đích của nghiên cứu này là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sư ̣hài lòng của SV đối với HĐĐT. Nghiên cứu điṇh lươṇg: đươc̣ thưc̣ hiêṇ bằng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi đươc̣ thiết kế dưạ trên kết quả của các nghiên cứu trước. Nghiên cứu nhằm đo lường mức đô ̣ảnh hưởng của các yếu tố đến sư ̣hài lòng của SV đối với hoaṭ đôṇg đào taọ đại học. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá đươc̣ sử duṇg để rút goṇ các biến đo lường, phương pháp hồi quy bôị đươc̣ dùng để xác điṇh mối tương quan giữa sự hài lòng của SV với các yếu tố ảnh hưởng. Các phần mềm thống kê đươc̣ sử duṇg để phân tích dữ liêụ thu thâp̣ trong nghiên cứu điṇh lươṇg. 5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 5.1 Kết quả 5.1.1 Đánh giá chung sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học Kết quả nghiên cứu thực tế dựa trên dữ liệu 4 trường đại học công lập thuộc Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa 3 yếu Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 30 tố: (1) mức độ kì vọng của SV về chất lượng HĐĐT đại học; (2) mức độ đáp ứng chất lượng HĐĐT của cơ sở giáo dục và (3) hài lòng của SV về HĐĐT đại học như sau: 4,19 4,61 2,78 3,463,523,533,56 3,22 3,37 3,53 3,823,593,623,783,76 0,00 0,50 1,00 1,50 2,00 2,50 3,00 3,50 4,00 4,50 5,00 Chương trình đào tạo Năng lực chuyên môn GV Phẩm chất, trách nhiệm GV Điều kiện học tập Dịch vụ hỗ trợ Kì vọng của SV Đáp ứng của nhà trường Hài lòng của SV Hình 2. So sánh điểm trung bình (ĐTB) giữa kì vọng của SV, đáp ứng của nhà trường và hài lòng của SV Kết quả phân tích từ đồ thị hình 2 cho thấy: - Xét đến yếu tố kì vọng của SV về HĐĐT đại học, điểm trung bình (ĐTB) về kì vọng của SV (thang điểm 5) đối với HĐĐT đại học ở mức trung bình, dao động trong khoảng từ 2,78 đến 3,56. Trong đó, SV kì vọng nhất về chất lượng chương trình đào tạo (CTĐT), năng lực chuyên môn của GV và phẩm chất, trách nhiệm của GV. - Xét đến yếu tố đáp ứng của nhà trường về HĐĐT, ĐTB của 5 thành tố đều ở mức đáp ứng khá cao, dao động trong khoảng từ 3,22 đến 4,61. Theo ý kiến của SV đánh giá thì 2 thành tố liên quan điều kiện học tập, CTĐT được nhà trường đáp ứng ở mức tốt nhất so với 3 thành tố còn lại. - Xét đến yếu tố hài lòng, ĐTB của các thành tố liên quan HĐĐT đại học dao động trong khoảng từ 3,59 đến 3,82. Kết quả thực tế này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu lý thuyết (thuyết kì vọng của Victor Vroom). Khi môi trường bên trong trường đại học – 5 thành tố liên quan đến HĐĐT đại học (CTĐT, năng lực chuyên môn của GV, phẩm chất trách nhiệm của GV và điều kiện học tập) nếu được nhà trường đáp ứng tốt so với kì vọng của SV thì SV cảm thấy hài lòng (điều này cũng được đề cập đến trong thuyết nhu cầu của Maslow). Nhận định này đã được phân tích ở phần trên, ta thấy ĐTB của mức độ đáp ứng của nhà trường > ĐTB về kì vọng của SV ở từng thành tố tương ứng đều cho kết quả SV hài lòng mức khá cao. Đối với thành tố liên quan đến yếu tố tạo động lực (theo cách gọi của Frederich Herberrg) như thành tố về năng lực chuyên môn của GV, phẩm chất trách nhiệm của GV nếu được đáp ứng tốt thì ngoài cảm giác thỏa mãn còn tạo cho SV động cơ say mê học thuật, nghiên cứu (ĐTB hài lòng của thành tố này ở mức cao nhất – sắp xếp theo thứ bậc). Đối với 3 thành tố liên quan CTĐT, điều kiện học tập và dịch vụ hỗ trợ (đây là những yếu tố tạo sự duy trì), nếu được đáp ứng chỉ tạo cho SV cảm giác hài lòng/thỏa mãn với ĐTB hài lòng của 3 Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 31 thành tố này thấp hơn 2 thành tố còn lại. Kết quả phân tích tương quan Pearson giữa kì vọng, đáp ứng, hài lòng cho thấy mức ý nghĩa trong phân tích tương quan Pearson P < 0,01. 5.1.2 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học Bảng 2. Các thông số phân tích hồi quy Yếu tố ảnh hưởng Trọng số hồi quy Sai lệch chuẩn Trọng số (chuẩn) Giá trị t Mức ý nghĩa Độ chấp nhận của biến Hệ số phóng đại phương sai Hằng số hồi quy 1,300 0,125 10,395 0,000 1. Chương trình đào tạo 0,186 0,029 0,152 6,468 0,000 0,841 1,189 2. Năng lực chuyên môn của GV 0,157 0,042 0,188 3,706 0,000 0,179 5,580 3. Phẩm chất trách nhiệm của GV 0,082 0,021 0,128 3,946 0,000 0,440 2,273 4. Kì vọng của SV 0,209 0,073 0,182 2,879 0,004 0,116 8,606 5. Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa 0,140 0,035 0,099 3,952 0,000 0,737 1,357 Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng của SV thì quan trọng nhất là yếu tố về năng lực chuyên môn của GV (b2 = 0,188). Tiếp theo là kì vọng của SV (b4 = 0,182), CTĐT (b1 = 0,152), phẩm chất trách nhiệm của GV (b3 = 0,128). Cuối cùng là mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa (b5 = 0,099) (xem Bảng 2, cột trọng số đã chuẩn hóa). Chúng tôi sử dụng hệ số hồi quy đã chuẩn hóa để so sánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hài lòng của SV vì hệ số này không phụ thuộc vào thang đo. Các kiểm tra khác (phân phối phần dư, các biểu đồ,) cho thấy các giả thiết cho hồi quy không bị vi phạm. Hiện tượng đa cộng tuyến không ảnh hưởng nhiều đến kết quả giải thích với hệ số phóng đại phương sai (VIF) từ 1,189 đến 8,606. 5.2 Thảo luận 5.2.1 Về kết quả đo lường Kết quả đánh giá thông qua Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và đánh giá lại bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA cho thấy các thang đo đạt được yêu cầu về giá trị (tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt) và độ tin cậy (Cronbach’s Alpha và tổng hợp). Một số hàm ý cho kết quả như sau: Một là, các kết quả này cho thấy, một cách tổng quát, các thang đo được xây dựng và kiểm định trên phạm vi 4 trường đại học công lập được lựa chọn. Thông qua quá trình đánh giá, chúng tôi đã hoàn thiện các tiêu chí, chỉ báo của thang đo sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học. Các nhà quản lý giáo dục có thể sử dụng thang đo này trong quá trình đánh giá sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường. Hai là, thang đo sự hài lòng được xây dựng là thang đo đa hướng bao gồm 5 thành tố: [1] hài lòng về CTĐT, [2] hài lòng về năng lực chuyên môn của GV, [3] hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV, [4] hài lòng về điều kiện học tập, [5] hài lòng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ. Kết quả nghiên cứu này góp phần khẳng định thang đo đơn hướng (thang đo từng thành tố) của từng khái Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 32 niệm và giúp cho việc đo lường các khái niệm dễ dàng hơn. Ba là, nghiên cứu này xây dựng mới khái niệm sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học với năm thành tố (hài lòng về CTĐT, hài lòng về năng lực chuyên môn của GV, hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV, hài lòng về điều kiện học tập, hài lòng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ). Kết quả đánh giá thang đo này là tiền đề kích thích các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục khẳng định giá trị của thang đo này. 5.2.2 Về mô hình nghiên cứu Về mặt lý thuyết, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học như một chỉnh thể. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy: Một là, thành tố năng lực chuyên môn của GV ảnh hưởng mạnh nhất đến hài lòng của SV đang học đối với HĐĐT đại học với độ tin cậy 99% (=0,506; p < 0,001). Kết quả nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của hài lòng về năng lực chuyên môn của GV đối với hài lòng chung của nhóm SV đang học ở trường như nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới như: Hill.F.M, Harvey.L và Zheng.T (1995); Ali Kara và Oscar W.DeShields (2004). Hai là, thành tố về phẩm chất trách nhiệm của GV ảnh hưởng mạnh đến hài lòng chung của SV đang học đối với HĐĐT đại học với độ tin cậy 99% (=0,433; p < 0,001). Kết quả nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV đối với hài lòng chung của nhóm SV đang học ở trường như nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới như Chr.Koilias (2005); M.Joseph Sirgy, Stephan Grzeskowiak và Don Rahtz (2006). Ba là, thành tố CTĐT ảnh hưởng mạnh đến hài lòng của SV đang học đối với HĐĐT đại học với độ tin cậy 99% (=0,323; p < 0,001). Như vậy, theo quan điểm tâm lý học thì đây là các yếu tố tạo động cơ, khi những yếu tố này được nhà trường đáp ứng càng tốt thì SV càng cảm thấy hài lòng. Ngoài ra, kết quả phân tích tương quan cho thấy có mối tương quan khá chặt giữa hai thành tố năng lực chuyên môn của GV và phẩm chất trách nhiệm của GV (r = 0,536; p < 0,001). Hơn nữa, ba thành tố liên quan năng lực chuyên môn của GV, phẩm chất trách nhiệm của GV và CTĐT giải thích được 57,9% hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học. Kết quả này cho thấy năng lực chuyên môn của GV đóng vai trò chủ đạo trong việc tăng hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học cũng như mang lại chất lượng đào tạo của nhà trường. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trên thế giới trong đó năng lực GV là một yếu tố chính tạo nên chất lượng đào tạo (ví dụ, Byrne & Flood, 2003; Clayson, 1999; Faranda & Clarke, 2004). Vì vậy, tuy có sự tương đồng nhưng kết quả của nghiên cứu này góp một phần trong việc phát hiện sự khác nhau về tầm quan trọng của các thành tố tạo nên hài lòng của SV nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung. Kết quả này cũng góp phần kích thích các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục khám phá các thành tố khác cũng như tầm quan trọng của chúng có khả năng kích thích hài lòng của SV đối với HĐĐT của trường và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục. Về mặt thực tiễn, như đã đề cập ở mặt lý thuyết, năng lực chuyên môn của GV, phẩm chất trách nhiệm của GV, CTĐT, kì vọng của SV, mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa giải thích được 57,9% sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học. Kết quả này cho thấy, trong điều kiện đào tạo tại Việt Nam, cũng như tại nhiều nước trên thế giới, chúng ta đã và đang chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ. Chính vì vậy nhu cầu học tập ngày càng tăng, nhiều SV muốn rút ngắn thời gian đào tạo thông qua tích lũy ngày càng nhiều tín chỉ để hoàn thành chương trình học sớm nhất có thể hoặc tham gia học nhiều chương trình cùng lúc. Trong khi đó, lực lượng GV không tăng kịp về chất lượng cũng như số lượng để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của người học theo học chế tín chỉ. Ngoài ra, để thực hiện tốt việc chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ cần có một CTĐT linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng tiêu chí chất lượng đề ra của từng cơ sở giáo dục. Vì vậy, năng lực GV và CTĐT có tầm quan trọng đặc biệt. Kết Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 33 quả nghiên cứu góp phần giúp cán bộ đào tạo nắm bắt được tầm quan trọng của năng lực GV và CTĐT đối với hài lòng của SV về HĐĐT đại học. Đây chính là cơ sở để các nhà quản lý giáo dục thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp (đối với GV), cơ chế tuyển dụng GV (đối với đơn vị tuyển dụng nhân sự) để có được đội ngũ GV có năng lực, góp phần kích thích và làm tăng hài lòng của SV cũng như nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu của SV. Đồng thời, đánh giá chất lượng CTĐT thường xuyên để có chiến lược kịp thời đáp ứng nhu cầu người học, trong đó chú ý đến hoạt động lấy ý kiến phản hồi các bên liên quan về đánh giá chương trình. 6. KẾT LUẬN Kết quả thống kê từ các phân tích hồi quy đa biến xác định rằng 3 thành tố của HĐĐT (CTĐT, Năng lực chuyên môn của GV, Phẩm chất trách nhiệm của GV) và 2 yếu tố liên quan đặc điểm cá nhân của SV (Kì vọng của SV, Mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa của SV) ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên. Riêng yếu tố về kiểu nhân cách hướng nội/hướng ngoại của SV không ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ. Như vậy, hài lòng của SV không phải là một thực thể đơn nhất, mà là một chỉnh thể có tính phức hợp với 5 thành tố (hài lòng về CTĐT, hài lòng về năng lực chuyên môn của GV, hài lòng về phẩm chất trách nhiệm của GV, hài lòng về điều kiện học tập, hài lòng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ). Điều này phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả như: Hill.F.M, Harvey.L và Zheng.T (1995); Ali Kara và Oscar W.DeShields (2004); Chr.Koilias (2005); M.Joseph Sirgy, Stephan Grzeskowiak và Don Rahtz (2006); Kết quả này cũng khá phù hợp với một số quan niệm về hài lòng đối với HĐĐT như Zhao, F. (2003) cho rằng hài lòng của SV là “sự thỏa mãn về chất lượng của khóa học, GV, đội ngũ nhân viên và dịch vụ hỗ trợ”. Ngoài ra, hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học còn chịu ảnh hưởng của yếu tố về kì vọng của SV và mức độ tham gia hoạt động ngoại khóa./. TAI LIỆU THAM KHẢO Anderson E. & cs. (1994). Customer satisfaction, Market share, and Profitability: Findings from Sweden. Journal of Marketing, 58, 53-66. BC College & Institute Student Outcomes. (2003). Understanding student satisfaction, 3(1), 1-4. Cashin W.E. (1995). Student Ratings of Teaching: The Research Revisited. IDEA Paper No. 32. Manhattan, KS: Kansas State University, Center for Faculty Evaluation and Development. Cronin J. J. & Taylor S. A. (1992). Measuring Service Quality: A Reexamination and Extension. Journal of Marketing, 56, 55-68. Elliot K.M. & Healy M.A. (2001). Key factors influencing student satisfaction related to recuitment and retenion. Journal of Marketing for Higher Education, 10(4), 1-11. Harvey L. (1995). Student satisfaction. The New Review of Academic Librarianship, 1, 161- 173. Joseph Sirgy M., Stephan Grzeskowiak and Don Rahtz. (2007). Quality of college life of students: Developing and validating a measure of well-being. Social Indicators Research, 80, 343–360. Koilias Chr. (2005). Evaluating Students’ Satisfaction: The Case of Informatics Department of TEI Athens. An International Journal, 5(2), 363-381. Koviljka Banjecvic, Aleksandra Nastasic. (2010). Methodological Approach: Students Assessment of Academic Institution as Basic for Successful Achievement of their Satisfaction. Serbia: Center for Quality, Faculty of Mechanical Engineering, University of Kragujecvac. Kwek, C. L., Lau, T. C., & Tan, T. C. (2010). The ‘Inside-out’ and ‘Outside-in’ Approaches on Journal of Science – 2016, Vol. 9 (1), 26 – 34 Part A: Social Sciences, Humanities and Education 34 Students’ Perceived Service Quality: An Empirical Evaluation. Management Science and Engineering. 4(2), 1-26. Lê Văn Hảo. (2007). Lấy ý kiến SV về hoạt động giảng dạy: một vài kinh nghiệm thế giới và tại đại học Nha Trang. Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV, Ninh Thuận, Việt Nam. Muhammad Nauman Abbasi. (2011). A Study on Student Satisfaction in Pakistani Universities: The Case of Bahauddin Zakariya University, Pakistan. Asian Social Science, 7(7), 209-219. Sik Sumaedi, I Gede Mahatma Yuda Bakti & Nur Metasari (2011). The Effect of Students’ Perceived Service Quality and Perceived Price on Student Satisfactionm. Management Science and Engineering, 5(1), 88-97. Starr A. M. (1972). College Student Satisfaction Questionnaire Manual, Eric Document Reproduction Service (058268). Wu, W.R. (1992). The Relationship between Teaching Styles and Learning Satisfaction in the Lifelong Learning Centers of Taiwan. A master’s degree thesis of Department of Adult & Continuing Education of National Taiwan Normal University, China.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf04_le_thi_linh_giang_0_7401_2024229.pdf
Tài liệu liên quan