Xây dựng khung phân tích và hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản Bến Tre

Ngành chế biến thủy sản là một chuỗi hoạt động sản xuất bao gồm ba công đoạn: Hoạt động đầu vào, sản xuất chế biến và đầu ra. Trên cơ sở lý thuyết nền về phát triển bền vững, tác giả đã xây dựng khung phân tích cho mô hình phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thảo luận chuyên gia, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho ngành chế biến thủy sản cũng được xây dựng, đây là cơ sở khoa học để lượng hóa việc đánh giá các khía cạnh cho mô hình phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Trên thực tế, một số chỉ tiêu phản ánh thực trạng của ngành chế biến thủy sản chưa được các cơ quan quản lý thu thập giám sát, đây là một trong những căn cứ để gợi ý xây dựng chính sách cho phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản ở Bến Tre. Do đó, vấn đề này cần được các cơ quan quản lý thực hiện trong thời gian tới, đồng thời cũng là hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 122 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xây dựng khung phân tích và hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản Bến Tre, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 16 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG XÂY DỰNG KHUNG PHÂN TÍCH VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN BẾN TRE BUILDING ANALYTICAL FRAMEWORK AND INDICATORS FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF BEN TRE’S SEAFOOD PROCESSING Nguyễn Văn Hiếu1 Ngày nhận bài: 17/7/2013; Ngày p hản biện thông qua: 30/8/2013; Ngày duyệt đăng: 10/9/2013 TÓM TẮT Bài báo nghiên cứu về ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công khung phân tích cho phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản trong tỉnh dựa trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội, và môi trường. Cũng trong mô hình phân tích này, thể chế và quản trị nhà nước đóng vai trò điều hòa trong mối quan hệ giữa các trụ cột. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xây dựng hệ thống lượng hóa các khía cạnh trong khung phân tích trên bằng các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Từ khóa: Ngành chế biến thủy sản, phát triển bền vững, mô hình phát triển bền vững, chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững ABSTRACT This paper examines the seafood processing industry of Ben Tre province in order to build an analytical framework for sustainable development of the industry. Research results have helped pin down a model with three pillars: economic, social perspectives and environment. Institutions and administration of the government play a vital role in hamonizing the relations among the pillars of the framework. The research also designed quantifi cation methods for each pillars in the model which consist of indicators for sustainable development for the seafood processing industry in Ben Tre province. Keywords: Seafood processing, sustainable development, models for sustainable development, indicators for sustainable development 1 ThS. Nguyễn Văn Hiếu: Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bến Tre là một tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, với diện tích tự nhiên 2321km2, trong đó có 65km bờ biển và dải rừng ngập mặn ở ven biển cùng địa hình sông rạch chằng chịt (khoảng 6.000km), là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản. Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng của tỉnh trong 10 năm qua không ngừng gia tăng, tổng sản lượng thủy sản năm 2012 đạt trên 156 nghìn tấn, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2006. Sản xuất thủy sản đã đạt được những thành tựu đáng kể, giai đoạn 2001 - 2012 đóng góp của thủy sản vào GDP chung của toàn tỉnh dao động từ 2.72% đến 3.1%. Tuy nhiên, toàn tỉnh có 180 cơ sở chế biến thủy sản, trong đó chỉ có 6 cơ sở chế biến với quy mô tương đối lớn, còn lại là cơ sở nhỏ và các hộ gia đình. Điều kiện cơ sở vật chất, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường của một bộ phận cơ sở chế biến thủy sản tại Bến Tre chưa đáp ứng được các quy chuẩn QCVN 02-01:2009/ BNN&PTNT [1]. Nghị Quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015) [2] cũng đã nhận định sự phát triển của ngành chế biến thủy sản Bến Tre chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Trong cùng chuỗi nghiên cứu tác giả (2013) cũng đã đưa ra những thách thức đến phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre [3]. Từ thực tế trên đòi hỏi phải từng bước xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh phát Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 17 triển bền vững ngành chế biến thủy sản. Để có cơ sở khoa học cho việc đánh giá, bài báo này đưa ra khung phân tích và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre. II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững quốc gia Phát triển bền vững được xem như một chiến lược phát triển, quản lý tất cả các tài sản, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cũng như các tài sản tài chính và vật chất để tăng dài hạn sự giàu có và hạnh phúc [12]. Năm 1987, nhà kinh tế Ed Barbier đưa ra một mô hình phát triển bền vững và nó đã trở thành cơ sở cho hầu hết các khái niệm về sau. Ông cho rằng phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: phát triển xã hội, kinh tế và môi trường [7]. Trong khi tìm cách giải quyết vấn đề xung đột giữa môi trường và mục tiêu phát triển, WCED - Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới đã xây dựng một định nghĩa về phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ [15]. Đến nay có rất nhiều khái niệm về phát triển bền vững nhưng đây là khái niệm thường xuyên được trích dẫn nhất và dường như đầy đủ hơn so với những khái niệm khác. Ở một cái nhìn khác, IUCN - Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (1997) khi bày tỏ quan điểm về sự phát triển bền vững đã đưa ra mô hình phát triển bền vững hình quả trứng (the Egg of Sustainability - hình 1). Đây là mô hình minh họa cho mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái giống như lòng đỏ một quả trứng gà. Ngụ ý của mô hình này là con người trong hệ sinh thái, con người và hệ sinh thái phụ thuộc lẫn nhau. Cũng giống như một quả trứng là tốt chỉ khi cả hai màu trắng và lòng đỏ đều tốt. IUCN khẳng định, một xã hội tốt và bền vững chỉ khi cả hai, con người và hệ sinh thái đều phát triển tốt. Hình 1. Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng [9] Năm 2000, Viện Wuppertal của Đức khi nghiên cứu về phát triển bền vững đã nhận định: Phát triển bền vững được cấu thành bởi bốn trụ cột là kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế chính sách [14]. Theo quan điểm này, phát triển bền vững đòi hỏi phải tích hợp các mục tiêu khác nhau từ 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Thể chế được xem như một đỉnh định danh không có chức năng như 3 đỉnh còn lại. Cũng chính điều này, khi mô hình này đưa ra đã bị chỉ trích, họ cho rằng đỉnh thể chế không đóng vai trò như 3 đỉnh còn lại nhưng vẫn được thể hiện tương tự nên dễ gây nhầm lẫn trong mô tả và phân tích [10]. Tuy có những tranh cãi về khái niệm phát triển bền vững nhưng khi thực hiện về cơ bản, tất cả đều đồng ý ba nhiệm vụ sau đây cho bất kỳ một quốc gia nào (Center for Environment Education, 2007): (i) Thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế, trong khi (ii) đảm bảo tính bền vững sinh thái, bằng cách không vượt quá năng lực của trái đất mang theo, và (iii) mang lại công bằng xã hội, bằng cách tạo ra cân bằng phân phối tốt hơn các cơ hội để sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên. 2. Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững ngành thủy sản Theo định nghĩa của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO (1998), phát triển bền vững (bao gồm nông - lâm và thủy sản), là quá trình quản lý và bảo toàn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi về công nghệ, thể chế theo cách sao cho bảo đảm được thành tựu và vẫn thoả mãn không ngừng những nhu cầu của con người trong hiện tại và cho cả các thế hệ tương lai [8]. Sự phát triển bền vững như thế sẽ bảo vệ được nguồn tài nguyên đất, nước, các nguồn gen động, thực vật, không làm thoái hoá môi trường, hợp lý về kỹ thuật, có hiệu quả về mặt kinh tế và có thể chấp nhận được về mặt xã hội. Năm 2001, Anthony đã khái quát các khía cạnh phân tích phát triển bền vững ngành thủy sản dựa vào bốn thành tố căn bản là (i) bền vững về kinh tế, (ii) bền vững về xã hội, (iii) bền vững về môi trường và (iv) bền vững về thể chế [6]. Ba trụ cột môi trường, kinh tế và xã hội là nền tảng để đánh giá tính bền vững của một ngành thủy sản. Trụ cột thể chế thế giữ vai trò tạo ra luật lệ cho các chủ thể tham gia vào ngành thủy sản hoạt động nhằm bảo bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột trên để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành thủy sản. Mô hình nghiên cứu của Anthony (2001) đã trở thành khung nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu phát triển bền vững ngành thủy sản. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 18 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Phát triển mô hình của Anthony (2001), Lâm Văn Mẫn (2006) đã đưa bộ chỉ tiêu được sử dụng như các công cụ để đánh giá tính bền vững ngành thủy sản [4] bao gồm: Các chỉ tiêu về năng lực đánh bắt; các chỉ tiêu sử dụng diện tích đất đai, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản; các chỉ tiêu về giá trị cập bến, doanh số trên mỗi đơn vị khai thác, xuất khẩu và nhập khẩu, mức tiêu thụ cá tính trên đầu người, đầu tư cho nghề cá, số lượng ngư dân, học vấn ngư dân, vốn của ngư dân và thu nhập của ngư dân; các chỉ số về tình hình trữ lượng nguồn lợi, rạn san hô, rừng ngập mặn, tình hình ô nhiễm môi trường và đa dạng sinh học. Tuy nhiên, sử dụng hiệu quả các chỉ số này đòi hỏi có một cơ sở dữ liệu lớn được thu thập trong một thời gian dài. Sự thành công trong việc sử dụng các chỉ số quản lý nghề cá bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia tích cực của các cộng đồng và những người hưởng lợi nguồn lợi thủy sản. Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Trâm Anh và cộng sự (2010) cũng đã xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống các chỉ số xác định tính bền vững của ngành thủy sản Khánh Hòa [5]. Tuy nhiên, áp dụng chỉ tiêu này vào mô hình nghiên cứu phát triển bền vững cho ngành thủy sản ở một vùng, hay địa phương (tỉnh) sẽ gặp nhiều khó khăn do các số liệu của một số chỉ tiêu không được các cơ quan quản lý thu thập, giám sát nên việc quan sát các chỉ tiêu này không khả thi và nếu người nghiên cứu tự quan sát trong tương lai cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. 3. Đề xuất mô hình nghiên cứu phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre Theo Porter (1985), hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thông thường được phân thành ba khâu: hoạt động đầu vào, sản xuất và đầu ra [11, 12]. Cả ba khâu hoạt động của doanh nghiệp trong ngành có liên quan mật thiết với với các chủ thể bên ngoài của ngành đó, từ đó chúng hình thành hoạt động cho ngành. Do đó khi áp dụng cho nghiên cứu ngành chế biến thủy sản ở Bến Tre cũng được xem xét trên ba công đoạn gồm các hoạt động đầu vào, sản xuất chế biến và đầu ra. Căn cứ vào lý thuyết phát triển bền vững của quốc gia, ngành thủy sản và đặc trưng của ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre bao gồm đầy đủ cả ba hoạt động: nuôi trồng, đánh bắt (đầu vào), hoạt động chế biến (sản xuất) và thực hiện tiêu thụ hay xuất khẩu trực tiếp (đầu ra), kết hợp với phương pháp thảo luận với chuyên gia, mô hình nghiên cứu phát triển bền vững cho ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre được khái quát trên ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường. Thể chế và quản trị nhà nước đóng vai trò điều hòa trong mối quan hệ giữa các ba trụ cột trên (hình 2). 4. Phương pháp nghiên cứu Nhằm mục đích xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của ngành chế biến thủy sản Bến Tre (thực hiện đo lường hóa các khía cạnh của mô hình nghiên cứu) tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cốt lõi là phương pháp định tính bao gồm các bước sau: Bước 1: Thảo luận tay đôi nhằm khám phá chỉ tiêu đo lường phát triển bền vững. Dựa vào lý thuyết phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản và khung phân tích để xây dựng dàn bài thảo luận với chuyên gia. Dàn bài thảo luận tay đôi được thiết kế trước hết là định nghĩa phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản để cho các chuyên gia có một cách hiểu nhất quán về phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản, kế đến là hỏi các câu hỏi nhằm khám phá các chỉ tiêu đo lường bền vững trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường; và vai trò của chính quyền trong việc điều tiết sự bền vững của từng trụ cột và sự tương tác giữa các trụ cột với nhau. Đối tượng thảo luận tay đôi là giám đốc các doanh nghiệp chế biến thủy sản, nông ngư dân nuôi trồng và đánh bắt nguyên liệu thủy sản cho chế biến, và các nhà làm chính sách có liên quan đến nuôi trồng thủy sản. Kết quả thảo luận đã khám phá được nhiều tiêu chí đo lường có tần suất xuất hiện nhiều lần bởi các chuyên gia, đồng thời cũng có những tiêu chí chưa được nhất quán bởi các chuyên gia lý thuyết chưa được đề cập đến nên cần thêm một đợt thảo luận nhóm để khẳng định sự phù hợp của chúng. Bước 2: Thảo luận nhóm nhằm kiểm chứng lại sự phù hợp của các chỉ tiêu đo lường phát triển bền vững có tầng suất xuất hiện thấp trong đợt thảo luận tay đôi cũng như các chỉ tiêu lý thuyết chưa được các chuyên gia đề cập đến trong thảo luận tay đôi. Đối tượng được mời đến thảo luận nhóm chủ yếu là các chuyên gia trong đợt thảo luận tay đôi. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chủ đề phát triển bền vững đã trở thành một đòi hỏi thực tế của các chính sách công và đã được nhìn nhận là một vấn đề căn bản của nền kinh tế xã hội, vì vậy nhiệm vụ của các cấp quản lý ngành chế biến thủy sản khi đưa ra các quyết định cần trả lời câu hỏi ngành chế biến thủy sản có phát triển Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 19 bền vững hay không? Nếu không, cần phải cải thiện những vấn đề nào? Khắc phục tất cả các hạn chế của các nghiên cứu trước đây đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho một đối tượng nghiên cứu ở phạm vi chi tiết hơn (ngành chế biến thủy sản) áp dụng cho một địa phương cụ thể (tỉnh Bến Tre) là điểm nổi bật nhất của nghiên cứu này. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre được tổng hợp ở bảng 1, giúp người nghiên cứu (cũng như các nhà hoạch định chính sách) có công cụ để đánh giá và tìm ra những vấn đề bất cập trong chuỗi phát triển của ngành. Từ đó, gợi ý cho chính quyền đề ra chủ trương, chính sách phù hợp thực tiễn và cũng giúp cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản xây dựng chiến lược phát triển bền vững. KINH TẾ Đầu vào: Nguồn cung cấp nguyên liệu; Cạnh tranh trong mua nguyên liệu; Chi phí nguyên liệu. Sản xuất: Chất lượng (công nghệ, đóng gói, bao bì); tính cạnh tranh trong giá thành. Đầu ra: Khả năng tiếp cận thị trường, chuỗi giá trị phân phối; doanh thu tiêu thụ chế biến thủy sản; đóng góp của ngành CBTS trong cơ cấu GDP. MÔI TRƯỜNG Đầu vào: Tiêu chuẩn thu mua, hoạt động chế biến bán nguyên liệu của nông ngư dân. Sản xuất: Phát thải chế biến. Đầu ra: Phát thải tiêu dùng; nhu cầu tiêu dùng tác động đến môi trường sản phẩm. Tiếp nhận nguồn đầu vào nguyên liệu từ môi trường: (i) Sự cân đối cung cầu nguyên liệu CBTS; (ii) giá trị gia tăng của các loài nguyên liệu cho hoạt động CBTS Mang lại cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động, cũng như các phúc lợi khác thông qua đóng góp vào ngân sách nhà nước XÃ HỘI Đầu vào: thu nhập của ngư dân, trình độ sản xuất bán nguyên liệu của nông/ngư dân. Sản xuất: trình độ của nguồn nhân lực tham gia sản xuất, quản trị sản xuất; thu nhập của công nhân sản xuất trực tiếp. Đầu ra: Định hướng tiêu dùng; năng lực khai thác thị trường. THỂ CHẾ VÀ QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC Phát thải ra môi trường chất thải xâm hại đến môi trường, và các chính sách thu mua tạo động cơ khai thác quá mức/bảo vệ môi trường Cung cấp cho con người người nguồn lợi điều kiện tự nhiên để nuôi trồng nguyên liệu chế biến thủy sản Xã hội có những hành vi bảo vệ hoặc xâm hại đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên và nguồn nước nuôi trồng nguyên liệu cho ngành CBTS Cung cấp lao động và tiêu dùng hàng hóa Hình 2. Mô hình nghiên cứu cho phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 20 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG B ảng 1. H ệ thống các chỉ tiêu dùng để xác định tính bền vữ ng của ngành chế biến thủy sản tỉnh B ến Tre K H ÍA C Ạ N H M Ụ C TIÊ U C Ô N G Đ O Ạ N C H Ỉ TIÊ U S inh thái và m ôi trư ờ ng - Tránh làm cạn kiệt nguồn lợ i. - B ảo tồn tính đa dạng sinh học. - B ảo vệ m ôi trư ờ ng và m ôi trư ờ ng sống của các loài thủy sản. Đ ầu vào - N ăng lự c khai thác hải sản. - D iện tích nuôi trồng thủy sản. - C ơ cấu loài thủy sản trong các hoạt động nuôi trồng, khai thác S ản xuất – chế biến - N ồng độ chất gây ô nhiễm m ôi trư ờ ng B O D 5 (m g/l) - N ồng độ chất gây ô nhiễm m ôi trư ờ ng C O D (m g/l) - N ồng độ chất gây ô nhiễm m ôi trư ờ ng A m oni (m g/l) Thị trư ờ ng và tiêu dùng - P hát thải từ hoạt động tiêu dùng. K inh tế - N âng cao vị trí của ngành chế biến thủy sản trong nền kinh tế của tỉnh B ến Tre. - N âng cao hiệu quả cho các hoạt động chế biến thủy sản - Tăng giá trị cho sản phẩm chế biến thủy sản Đ ầu vào - S ản lư ợ ng khai khác hải sản - S ản lư ợ ng nuôi trồng thủy sản S ản xuất – chế biến - S ản lư ợ ng thủy sản chế biến - C hi phí đầu tư cơ sở vật chất bình quân Thị trư ờ ng và tiêu dùng - G D P chế biến thủy sản trong ngành thủy sản của tỉnh - D oanh thu từ các hoạt động chế biến thủy sản. - Tỷ trọng giá trị giữ a các m ặt hàng thủy sản đông lạnh X ã hội - Tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng. - Tạo công việc làm - Đ a dạng hóa sinh kế cho cộng đồng - H ạn chế khoảng cách giàu nghèo - N âng cao trình độ văn hóa, đờ i sống vật chất và tinh thần - S ự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý và phát triển nguồn lợ i Đ ầu vào - S ố lao động trong lĩnh vự c khai thác thủy sản - Tỷ lệ lao động trong lĩnh vự c khai thác đư ợ c đào tạo - Thu nhập bình quân của ngư ờ i lao động trong lĩnh vự c khai thác - S ố lư ợ ng lao động trong lĩnh vự c nuôi trồng thủy sản - Tỷ lệ lao động trong lĩnh vự c nuôi trồng đư ợ c đào tạo - Thu nhập bình quân của ngư ờ i lao động trong lĩnh vự c nuôi trồng S ản xuất – chế biến - S ố lư ợ ng lao động trong lĩnh vự c chế biến - Tỷ lệ lao động trong lĩnh vự c chế biến đư ợ c đào tạo - Thu nhập bình quân của ngư ờ i lao động trong lĩnh vự c chế biến - K iểm tra sứ c khỏe và bảo hộ lao động cho công nhân Thị trư ờ ng và TD - S ự hài lòng của ngư ờ i tiêu dùng m ặt hàng thủy sản B ến Tre Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 21 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Ngành chế biến thủy sản là một chuỗi hoạt động sản xuất bao gồm ba công đoạn: Hoạt động đầu vào, sản xuất chế biến và đầu ra. Trên cơ sở lý thuyết nền về phát triển bền vững, tác giả đã xây dựng khung phân tích cho mô hình phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thảo luận chuyên gia, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho ngành chế biến thủy sản cũng được xây dựng, đây là cơ sở khoa học để lượng hóa việc đánh giá các khía cạnh cho mô hình phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản Bến Tre. Trên thực tế, một số chỉ tiêu phản ánh thực trạng của ngành chế biến thủy sản chưa được các cơ quan quản lý thu thập giám sát, đây là một trong những căn cứ để gợi ý xây dựng chính sách cho phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản ở Bến Tre. Do đó, vấn đề này cần được các cơ quan quản lý thực hiện trong thời gian tới, đồng thời cũng là hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Đảng bộ tỉnh Bến Tre, 2010. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần IX tỉnh Bến Tre, nhiệm kỳ 2010 - 2015. 2. Lâm Văn Mẫn, 2006 Phát triển bền vững ngành thủy sản đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Tiến sĩ, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. 3. Nguyễn Thị Trâm Anh và cộng sự, 2010. Xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh gái phát triển bền vững cho ngành thủy sản - Trường hợp ngành thủy sản Khánh Hòa, Tạp chí Khoa học công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5 năm 2010. 4. Nguyễn Văn Hiếu, 2013. Những vấn đề thách thức đến sự phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản Bến Tre, Tạp chí Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. 5. Nguyễn Xuân Minh, 2007. Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh. Tiếng Anh 6. Anthony. C, 2001. Sustainable fi shery system, Saint Mary University, Halifax, Nova Scotia, Canada. 7. Barbier, E. B, 1987. The concept of sustainable economic development. Environmental Conservation, Vol. 14, No. 2 (1987), pp. 101-110. 8. FAO, 1998. Guidelines for the development and use of indicators for sustainable development of marine capture fi sheries and an Australia example of their application. 9. International Development Research Centre IDRC(1997): Assessment tools. Ottawa 10. Kain,J.H, 2000. Urban supportsystems-Social and technical,socio-technical orsociotechnical. Gothenburg. 11. Porter M. E, 1985. Competitive Advantage. Free Press, New York. 12. Porter M.E, 1990. The Competitive Advantage of Nations. Free Press, New York. 13. R. REPETTO, 1986. World enough and tim: successful strategies for resource management. Yale University Press 14. Stenberg, J. 2001. Bridging gaps-Sustainable Development and local democracy processes. Gothenburg 15. WCED, 1987. Advisory Panel on Food Security, Agriculture, Forestry and Environment. Food Security, London.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfxay_dung_khung_phan_tich_va_he_thong_chi_tieu_danh_gia_phat.pdf