Vai trò của nữ giới trong gia đình qua một số nghiên cứu xã hội học

Hiện nay, để có được một đánh giá tổng hợp, chính xác về sự tham gia của hai giới vào lao động gia đình gặp khó khăn. Khó có thể xác định được thời gian nam giới dành cho công việc gia đình, hiệu quả của nó thì rất khó đánh giá về phân công lao động trong gia đình. Nếu chỉ dùng tiêu chí ai là người chủ yếu làm những công việc nhà, thậm chí bổ sung tiêu chí thời gian làm công việc nhà, thì chưa đủ để kết luận chính xác về những lý do gắn liền với sự phân công lao động theo giới trong gia đình. Vậy là vấn đề lượng hóa giá trị các công việc gia đình chưa được quan tâm một cách thích đáng, đặc biệt khó khăn hơn nhiều là mối quan hệ giữa việc phân công lao động theo giới và vấn đề bất bình đẳng giới. Một trong những yêu cầu quan trọng của việc phân tích bình đẳng giới là lượng hóa bằng tiền sự đóng góp của người phụ nữ thông qua các công việc nội trợ, hơn thế nữa, phải chỉ ra được mối liên hệ giữa những đóng góp của họ với địa vị thấp kém của phụ nữ do bị nhìn nhận không phải là trụ cột kinh tế. Bất bình đẳng sẽ diễn ra trong gia đình nếu một người vợ/hoặc chồng thực hiện công việc nhà vất vả nhưng người còn lại coi thường những công việc đó [1][2][3][12][15].

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 11/03/2022 | Lượt xem: 290 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của nữ giới trong gia đình qua một số nghiên cứu xã hội học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nguyễn Đỗ Hương Giang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/1: 213 - 217 213 VAI TRÒ CỦA NỮ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH QUA MỘT SỐ NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC Nguyễn Đỗ Hương Giang*, Lèng Thị Lan Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và đạt được công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước vào năm 2020, Việt Nam đã đề ra hàng loạt những chủ trương lớn cũng như các chính sách cụ thể. Bên cạnh vấn đề xóa đói giảm nghèo là những vấn đề xã hội khác như khả năng tiếp nhận cơ hội của hộ gia đình được tạo ra do chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi mô hình chi tiêu, giảm mức sinh, nâng cao trình độ học vấn, chăm sóc sức khỏe. Trong các vấn đề đặt ra, bình đẳng giới - nâng cao địa vị phụ nữ cần phải được lồng ghép trong các giải pháp và là điều kiện tiên quyết nhằm hướng đến phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò của phụ nữ trong gia đình qua một số nghiên cứu xã hội học trong những năm qua. Từ khoá: Vai trò, giới, gia đình,, nghiên cứu, xã hội học. MỞ ĐẦU* Bàn về phụ nữ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lời của C.Mác: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ thế nào”. Người cũng dẫn lời của Lênin: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 2, tr. 288) [11]. Tư tưởng này được khẳng định trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 và được khẳng định lại trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi và bổ sung năm 2001): “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63). Việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thực hiện “nam nữ bình quyền” là một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sự nghiệp các mạng xã hội. Việc phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là tất yếu của lịch sử phát triển con người và xã hội. * Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị ra ngày 27-7-1993 đã khẳng định: “Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Trong mỗi gia đình, phụ nữ là người đảm nhiệm các vai trò sản xuất và đóng vai chính trong vai trò tái sản xuất: tái sản xuất sinh học, tái sản xuất sức lao động và tái sản xuất ra cơ cấu cộng đồng. Trong các mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, công bằng và tiến bộ xã hội trong đó có bình đẳng giới và nâng cao địa vị phụ nữ đồng thời là mục tiêu và điều kiện để đạt được phát triển bền vững. Khi đánh giá sự phát triển từ lăng kính giới, phát triển bền vững đòi hỏi sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ ở các cấp độ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bước đầu khái lược những nghiên cứu về vai trò giới mà cụ thể ở đây là phụ nữ để làm rõ hơn bức tranh về vai trò của phụ nữ trong nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là xã hội học để từ đó chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu về giới và vai trò của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số. NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN Vai trò: Theo từ điển xã hội học Oxford: Vai trò là một khái niệm then chốt trong lý thuyết Nguyễn Đỗ Hương Giang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/1: 213 - 217 214 xã hội học. Nó nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những “vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích sự vận hành của những kỳ vọng ấy”. Vai trò giới: Theo từ điển xã hội học Oxford: cho đến những năm 1970, đây vẫn là một cách thức chủ yếu mà xã hội học thao tác hoá khái niệm về những khác biệt và mối quan hệ giữa nam và nữ, coi vai trò giới là một sản phẩm của quá trình “xã hội hoá hơn là sản phẩm của sinh học. Nó không những phải chịu những chỉ trích tương tự như lý thuyết vai trò, mà còn bởi vì nó che giấu quyền lực và bất bình đẳng trong vấn đề giới”. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NỮ GIỚI Những nghiên cứu nước ngoài: Những vai trò riêng biệt của người vợ và người chồng xuất phát từ “phân công lao động trong gia đình”. Những nghiên cứu kinh điển về Gia đình và hệ thống xã hội (Family and Social System) (1957), Elizabeth Both quan sát thấy trong một cặp vợ chồng thì có một người thường có trách nhiệm chăm lo cho gia đình về mặt tài chính, còn người kia thì đảm nhận những việc nội bộ như chăm lo nhà cửa và chăm sóc con cái. Nhưng cũng có dao động nhất định về mưc độ phân chia các vai trò của chồng và vợ. Tác giả đã nhận định rằng, ngay cả trong giai cấp lao động cũng có sự chuyển đổi về những vai trò chung của chồng và vợ, với cuộc hôn nhân lý tưởng là phải “dễ làm bạn”. Những nghiên cứu về quản lý tài chính trong gia đình cho thấy thường thì người vợ nhận được những khoản chi phí cho sinh hoạt gia đình, nhưng nhiều người vẫn không biết chồng mình kiếm được bao nhiêu. [11] Thông qua những luận điểm của lý thuyết vai trò, các nghiên cứu tập trung vào những kỳ vọng và đóng góp của đàn ông và phụ nữ, các quan hệ giới và phân công lao động có tính gia trưởng và bất bình đẳng (Dempsey, 1990, 1992; Poiner, 1990) [15]. Những nghiên cứu về vấn đề giới trong quan hệ với môi trường (các yếu tố sinh học, vật chất văn hóa xã hội của họ) đã chỉ ra những hậu quả của môi trường trong phát triển đến sức khỏe và phúc lợi của nam giới và phụ nữ. (Panelli & Gallagher, 2003) [6]. Quá trình phân tích địa vị phụ nữ và vai trò giới ở các nước đang phát triển tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực tái sản xuất; không chỉ trong phát triển kinh tế mà cả trong cấu trúc văn hóa xã hội. Có thể chỉ ra một số chủ đề chính được khai thác trong các nghiên cứu này là ở hộ gia đình, việc thực hiện vai trò trong sản xuất và tái sản xuất. Địa vị và vai trò thường được xác định trong các thiết chế xã hội như gia đình, cộng đồng. Phát triển và biến đổi xã hội dẫn đến biến đổi trong các thiết chế. Đặc điểm của những biến đổi này thể hiện trong sự thay đổi địa vị và vai trò gắn liền với các thiết chế. “Gia đình và cộng đồng là những tổ chức xã hội ảnh hưởng đến địa vị và vai trò của phụ nữ. Hộ gia đình là một đơn vị đa chức năng mà ở đó diễn ra các quá trình từ tái sản xuất về mặt sinh học cũng như tái sản xuất về mặt xã hội, đến quá trình xã hội hóa, nuôi dưỡng và ra các quyết định” (Lynne Brydon. 1989)[6]. Những nghiên cứu trong nước: Ở Việt nam, bình đẳng giới không chỉ dẫn đến tăng trưởng kinh tế mà còn khuyến khích cho sự đạt được các mục tiêu phát triển khác. Trong các mục tiêu xã hội, bình đẳng giới giảm tỷ lệ tăng trưởng dân số qua giảm tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử vong, giáo dục tốt hơn cho con cái và điều này dẫn đến phát triển bền vững nguồn lực con người trong tương lai [12]. Đặc biệt trong các nước đang phát triển, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và dân số theo hướng bền vững sẽ kéo theo sự bền vững về môi trường (Bùi Thế Cường, 2006) [9] “Hiểu biết giới nghĩa là hiểu biết những cơ hội, những cản trở và những tác động của sự biến đổi đến cả nam giới và nữ giới” (UNFPF. 2000). Bình đẳng giới là một trong những điều kiện tiên quyết cho phát triển bền vững trong một xã hội đang trong quá trình biến đổi [9], khi phụ nữ có nhiều vai trò hơn Nguyễn Đỗ Hương Giang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/1: 213 - 217 215 trong sản xuất và quyền quyết định, sự phát triển sẽ nhanh hơn và hướng đến bền vững hơn về kinh tế, xã hội và môi trường. Tác giả Mai Huy Bích đã nhận xét: “Theo dõi tiến trình đưa khoa học về giới vào đời sống học thuật Việt Nam trong vòng 20 năm trở lại đây, không thể không ghi công cho các công trình nghiên cứu phụ nữ học và nhất là những công trình nghiên cứu gia đình. Có thể nói rằng lịch sử nghiên cứu, phân tích giới ở Việt Nam không chủ yếu triển khai bằng những công trình khoa học “thuần chất” về phân tích giới, mà chủ yếu tìm cách khoan sâu chiều kích giới trong sự vận động của các hiện tượng kinh tế, xã hội. Một trong những thành công nổi bật trong thập kỷ vừa qua là sự chín muồi hơn về phương pháp luận của các nghiên cứu về thiết chế gia đình Việt Nam đương đại. Và chính thành tựu đó đã phần nào được khai thác để khám phá các tương quan giới trong gia đình và trong xã hội. Có nhà xã hội học đã lưu ý giới học thuật về vấn đề phải đưa giới vào khung phân tích gia đình ; rằng theo quan điểm giới, chẳng những vợ và chồng cảm nghiệm đời sống gia đình theo những cách khác nhau, mà trong nhiều trường hợp, họ còn không bình đẳng với nhau.[2]. Những công trình nghiên cứu gia đình có quy mô mẫu khảo sát toàn quốc và các mẫu nhỏ hơn, đã mở ra những khả năng to lớn cho những khám phá về bất bình đẳng giới trong xã hội, đã mang lại những kết quả phân tích giới có ý nghĩa quan trong trong những quy luật biến đổi của gia đình thời hiện đại [14] [18]. Trong một công trình khác của tác giả Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh, 2008, đã khảo sát phụ nữ và nam giới với tư cách một thành viên gia đình và với tư cách người lao động tham gia sản xuất xã hội để xem xét các cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ và nam giới, cũng như địa vị của phụ nữ và nam giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội.[13]. Những nghiên cứu gia đình kết hợp để nghiên cứu giới đã bắt đầu có những khai thác ở khía cạnh học thuật, đã có những đóng góp đáng kể trong phát triển lý thuyết xã hội về gia đình và trong nghiên cứu các động thái biến đổi của gia đình. [1][12] [17] Khi xem xét về vấn đề phụ nữ trong phát triển (WID) trong khuôn khổ nghiên cứu xã hội học về giới ta sẽ thấy có vấn đề “giới và phát triển” (GAD), đó là những chủ đề đã được đặt ra trên phạm vi toàn cầu xuyên suốt thế kỷ XX. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về vấn đề giới trên phạm vi toàn cầu, 2001 chỉ ra rằng: “Trong những thập niên vừa qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của đời sống và trên khắp thế giới. Bản chất và mức độ phân biệt đối xử ở các nước và các khu vực là rất khác nhau, nhưng hình thái phân biệt đối xử thì nổi bật. Không một khu vực nào của các nước đang phát triển, phụ nữ lại có quyền bình đẳng hoàn toàn với nam giới”. Đó cũng là tình hình tương tự ở Việt Nam. Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: Sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất như đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng. Phụ nữ ít được tham gia trong bộ máy lãnh đạo các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, xã hội ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi về y tế, giáo dục”[9]. Đó chính là nhân tố cản trở những đóng góp của lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội. Xét về khía cạnh phân công lao động theo giới trong gia đình thì sự biến đổi của xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, kinh tế thị trường đã tạo ra cơ hội việc làm cho phụ nữ và sự tham gia của họ vào lực lượng lao động xã hội , từ đó sự đóng góp của phụ nữ vào thu nhập gia đình tăng lên, góp phần đáng gia tăng sự tham gia của người chồng vào các công việc gia đình. Các nghiên cứu đã chỉ ra các phương thức đo lường sự đóng góp của phụ nữ về quyền Nguyễn Đỗ Hương Giang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/1: 213 - 217 216 quyết định cuối cùng trong một số lĩnh vực như sản xuất/kinh doanh; mua bán/xây sửa nhà đất; chi tiêu hàng ngày; mua sắm đồ đạc đắt tiền; tổ chức giỗ tết; v.v nhưng chưa chú ý đến tính quá trình và tương tác giữa vợ và chồng trong việc ra quyết định [7]. Việc đo lường quyền quyết định của phụ nữ trong gia đình như hiện nay có giải đáp được câu hỏi về bình đẳng giới? Quá trình phân công lao động trong gia đình tập trung chủ yếu là công việc nội trợ, một loại hình gần như kết quả có thể đoán trước, đó là người phụ nữ làm là chính. Sản xuất, kinh doanh gia đình, giao tiếp, v.v. Ít được đề cập đến hoặc chỉ được phân tích một cách riêng rẽ. Những cống hiến của quan điểm “Giới và Phát triển” trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và những ưu thế của nó so với tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển” cần được khai thác cụ thể hơn nữa.[1][15]. KẾT LUẬN Hiện nay, để có được một đánh giá tổng hợp, chính xác về sự tham gia của hai giới vào lao động gia đình gặp khó khăn. Khó có thể xác định được thời gian nam giới dành cho công việc gia đình, hiệu quả của nó thì rất khó đánh giá về phân công lao động trong gia đình. Nếu chỉ dùng tiêu chí ai là người chủ yếu làm những công việc nhà, thậm chí bổ sung tiêu chí thời gian làm công việc nhà, thì chưa đủ để kết luận chính xác về những lý do gắn liền với sự phân công lao động theo giới trong gia đình. Vậy là vấn đề lượng hóa giá trị các công việc gia đình chưa được quan tâm một cách thích đáng, đặc biệt khó khăn hơn nhiều là mối quan hệ giữa việc phân công lao động theo giới và vấn đề bất bình đẳng giới. Một trong những yêu cầu quan trọng của việc phân tích bình đẳng giới là lượng hóa bằng tiền sự đóng góp của người phụ nữ thông qua các công việc nội trợ, hơn thế nữa, phải chỉ ra được mối liên hệ giữa những đóng góp của họ với địa vị thấp kém của phụ nữ do bị nhìn nhận không phải là trụ cột kinh tế. Bất bình đẳng sẽ diễn ra trong gia đình nếu một người vợ/hoặc chồng thực hiện công việc nhà vất vả nhưng người còn lại coi thường những công việc đó [1][2][3][12][15]. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Nhờ kết quả của các nghiên cứu xã hội học, kinh tế học trong những năm qua, chúng ta thấy nhu cầu thực sự cấp thiết của việc nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong quá trình tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững ở nông thôn Việt Nam hiện nay, đặc biệt là nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số. Qua đó, các công trình này sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho những nhà lãnh đạo, quản lý, nhất là nam giới thấy được ý nghĩa sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế gia đình nói riêng và sự phát triển cộng đồng nói chung, hướng tới phát triển bền vững. Nguyễn Đỗ Hương Giang và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 112(12)/1: 213 - 217 217 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Trần Thị Vân Anh (2001), “Giới và phát triển nông thôn”, tài liệu tập huấn phiển triển bền vững nông thôn của chương trình VNRP. [2]. Mai Huy Bích (2009), Giáo trình Xã hội học giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. [3]. Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003, “Giới và công tác giảm nghèo”, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội. [4]. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân, (1996), “Phụ nữ nghèo nông thôn trong nền kinh tế thị trường”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. [5]. Đỗ Thị Bình (1997), Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. [6]. Lynne Brydon (1989), Women in the World- Gender issues in Rural and Urban Areas. [7]. Nguyễn Đỗ Hương Giang (2011), “Sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” - Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên. [8]. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. [9]. Vũ Tuấn Huy chủ biên (2004), “Xu hướng gia đình ngày nay”, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. [10]. Đặng Cảnh Khanh (2003), “Văn hóa gia đình trong các chiều cạnh của cơ cấu xã hội”, Tạp chí Xã hội học, số 4. [11]. Michael Anderson và đồng sự (đồng chủ biên) (1994), The Social and Political Economy of the Household (Kinh tế học chính trị và xã hội về hộ gia đình). [12]. Nguyễn Linh Khiếu (2001), “Gia đình và phụ nữ trong biến đổi văn hoá - xã hội nông thôn”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. [13]. Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009), Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. [14]. Vũ Mạnh Lợi (2009), “Giới và các vấn đề giới ở Việt Nam”, In trong Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh đồng chủ biên: Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới, tr.231-249. [15]. Lê Thị Quý (2009), Giáo trình xã hội học giới, Nxb giáo dục Việt nam. [16]. Lê Thị Vinh Thi (1993), Kinh tế hộ gia đình và vấn đề giáo dục phụ nữ nông dân, Nxb Khoa học xã hội. [17]. Hoàng Bá Thịnh (2008), Giáo trình xã hội học về giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. [18]. Lê Ngọc Văn, (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội. SUMMARY SEVERAL SOCIOLOGICAL REASEARCHES ON WOMEN ROLES IN THEIR FAMILY Nguyen Do Huong Giang*, Leng Thi Lan College of Agriculture and Forestry Towards the target of sustainable development and achieve industrialization and modernization in 2020, Viet Nam has set out a series of major policy and specific policy. Besides poverty reduction issues are social issues, such as the ability to recognize opportunities generated by households produced by economic restructuring, changing in spending patterns, decreased fertility, improving education, health care. Among the question, gender equality - improving the status of women should be integrated in the solution and is a prerequisite towards sustainable development in the coming period. This paper focuses on the role of women through a number of social studies in recent years. Key words: Role, women, family, sociology, research. Phản biện khoa học: TS. Ngô Thị Thanh Quý – Trường ĐH Sư phạm - ĐHTN *

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvai_tro_cua_nu_gioi_trong_gia_dinh_qua_mot_so_nghien_cuu_xa.pdf