Trung du và miền núi Bắc Bộ – một vùng văn hóa dân tộc học đặc thù - (Đánh giá dưới góc độ địa lí kinh tế – xã hội) - Dương Quỳnh Phương

Vùng rẻo thấp: là những nơi địa hình thấp, độ cao tuyệt đối trung bình dưới 300m, nguồn nước dồi dào, cư dân chủ yếu là các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay. Điều kiện sống và môi trường sinh thái thuận lợi hơn, do vậy, phương thức sử dụng đất tập trung vào lúa nước; nền nông nghiệp đã định canh từ khá sớm. Nhìn chung, sự phân chia khu vực miền núi thành 3 hệ canh tác theo độ cao địa hình (theo rẻo) chỉ là tương đối và có tính quy ước, song có thể khẳng định, để thích ứng với điều kiện đất đai, địa hình, khí hậu. của khu vực miền núi, đồng bào các dân tộc thích ứng với hoàn cảnh địa lý của cuộc sống bằng những phương thức canh tác khác nhau. Cho dù hoàn cảnh nào thì con người cũng tìm ra được các phương thức ứng xử phù hợp với điều kiện tự nhiên và môi trường mà họ sinh sống. Trong toàn bộ hoạt động kinh tế đa dạng của các dân tộc, hoạt động trồng trọt vẫn là nhân tố quyết định sự tồn tại của cộng đồng, hoạt động chăn nuôi và dịch vụ hỗ trợ. Có thể nói, trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, gắn bó lâu đời. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, song đều có chung truyền thống yêu nước, đoàn kết, đấu tranh cách mạng, kiên cường chống ngoại xâm, tích cực trong công cuộc đổi mới của đất nước. Đây là một vùng văn hóa dân tộc đặc thù, điều đó thể hiện ở sự đa ngữ hệ, đa thành phần. Tính đặc thù đó còn thể hiện trong sự khác biệt về tập quán sản xuất của các dân tộc cũng như sự phù hợp của các hệ canh tác theo rẻo địa hình (cao, giữa và thấp). Chiến lược phát triển bền vững vùng trung du và miền núi Bắc Bộ phụ thuộc vào việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của các vùng văn hóa dân tộc độc đáo này

pdf6 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Lượt xem: 111 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Trung du và miền núi Bắc Bộ – một vùng văn hóa dân tộc học đặc thù - (Đánh giá dưới góc độ địa lí kinh tế – xã hội) - Dương Quỳnh Phương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 1 TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ – MỘT VÙNG VĂN HÓA DÂN TỘC HỌC ĐẶC THÙ (Đánh giá dưới góc độ địa lí kinh tế – xã hội) Dương Quỳnh Phương (Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên) Cơ cấu hành chính – lãnh thổ của vùng trung du – miền núi Bắc Bộ gồm 15 tỉnh, trong đó 11 tỉnh thuộc tiểu vùng Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ; 4 tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình. Đây là vùng văn hóa có nhiều đặc thù, trong đó Việt Bắc là một khu vực gắn bó với thời kỳ lịch sử oanh liệt của cả dân tộc, tộc người chủ thể Tày – Nùng với lịch sử và văn hóa của họ đã góp phần vào sự thống nhất trong đa dạng văn hóa vùng và cả nước. Tây Bắc là địa bàn cư trú của các dân tộc Thái, Mông, Dao, Mường, Khơ Mú, La Ha, Xinh Mun, Tày... Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng, đa dạng, thể hiện sắc nét, không thể phủ nhận được. 1. Đặc điểm về dân cư và dân tộc Trung du - miền núi Bắc Bộ được cả nước biết đến như một vùng địa lí dân tộc học độc đáo. Các dân tộc trong vùng thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau: Các nhóm Hán - Hoa, Tạng - Miến, Mông, Dao; Các nhóm Việt - Mường, Môn Khơ Me; Các nhóm: Tày - Thái, Ka Đai. Trong số hơn 30 dân tộc ít người cư trú xen kẽ từ lâu đời nơi đây, một số dân tộc có số dân đông ở vùng Đông Bắc: Tày, Nùng...; Ở Tây Bắc: Thái, Mường... Các dân tộc Mông, Dao cư trú trên rẻo cao ở cả Đông Bắc và Tây Bắc, nhưng tập trung khá đông ở các vùng cao biên giới Việt - Trung, nhất là ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Một số dân tộc cư trú vùng biên giới thường có quan hệ thân tộc với các địa phương bên kia quốc giới. Các dân tộc ít người tuy có số dân và trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau, nhưng nhìn chung mỗi dân tộc đều có kinh nghiệm trong một số lĩnh vực như trồng cây công nghiệp (bông, chè), cây ăn quả, chăn nuôi, làm nghề thủ công. Các hoạt động công nghiệp, dịch vụ, văn hóa, khoa học kĩ thuật đều có sự tham gia của các dân tộc ít người. Trong cộng đồng các dân tộc cư trú ở trung du - miền núi Bắc Bộ, người Việt (Kinh) chiếm số đông, tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh trung du và đô thị các tỉnh miền núi. Dân tộc Việt có nhiều kinh nghiệm thâm canh lúa nước, có các nghề thủ công đạt mức độ tinh xảo, có truyền thống làm nghề sông biển. Người Việt là lực lượng đông đảo có hoạt động sản xuất trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, khoa học kĩ thuật. Theo kết quả điều tra dân số 1.4.1999, trung du - miền núi Bắc Bộ có số dân 11.092,5 nghìn người, chiếm 14,76% dân số cả nước. Năm 2005, số dân trong vùng đạt 11.924 nghìn người, bằng 14,3% dân số cả nước. Tuy nhiên, có sự chênh lệch lớn về mật độ dân số giữa Tây Bắc và Đông Bắc, tương ứng 69 và 147 người/km2. Tây Bắc là vùng có mật độ dân số thấp nhất so với các vùng trong cả nước; trong đó Lai Châu có mật độ thấp nhất toàn quốc (35 người/km2). Theo dự báo dân số đến năm 2024, trung du - miền núi Bắc Bộ sẽ có số dân 14.062,1 nghìn người nếu theo phương án dự báo ở mức thấp (mức sinh giảm); nếu theo mức sinh không đổi, sẽ đạt 15.372,8 nghìn người, tương ứng chiếm 14,2% và 14,5% dân số cả nước. Bảng 1. Địa bàn cư trú chủ yếu của một số dân tộc theo các tỉnh vùng trung du – miền núi Bắc Bộ 51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 2 Tỉnh Dân tộc Hà Giang Cao Bằng Bắc Kạn Tuyên Quang Lào Cai Yên Bái Thái Nguyên Lạng Sơn Quảng Ninh Bắc Giang Phú Thọ Điện Biên Lai Châu Sơn La Hòa Bình Kinh X x x x x x x x x x x x x x x Tày x x x x x x x Thái x x x x Mường x x Nùng x x x x x x Mông x x x x x x x Dao x x x x x x x x x x x x Sán Chay x x x x x x x x Sán Dìu x x x x Khơ Mú x x x x Giáy x x x x x Hà Nhì x x x Lào x x x x Xinh Mun x x x La Chí x x Phù Lá x x x x x La Hủ x x Kháng x x x Lự x x x Pà Thẻn x x Lô Lô x x x Mảng x x Bố Y x x x x Cơ Lao x La Ha x x Cống x x Ngái x x x x x x Si La x x Pu Péo x Đại bộ phận dân số của vùng trung du – miền núi Bắc Bộ sống ở nông thôn. Tỉ lệ dân sống ở thành thị rất thấp, chỉ chiếm khoảng 18% so với tỉ lệ trung bình cả nước là 27% (2007). Quần cư nông thôn miền núi Bắc Bộ tuy đa dạng, nhưng có thể quy về hai loại hình chủ yếu: quần cư nông thôn truyền thống và quần cư nông thôn thời kỳ đổi mới. Quần cư nông thôn truyền thống phản ánh đặc điểm văn hóa cư trú của cộng đồng các dân tộc. Đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường thường cư trú thành các bản dựa theo địa hình sườn núi có nguồn nước và đất bằng, dọc theo các thung lũng sông suối. Các dân tộc rẻo cao như Dao, Mông thường sống thành các làng bản trên các địa bàn tương đối cao, trên 500m, phân bố rải rác với các tụ cư dăm ba nóc nhà chênh vênh trên các sườn dốc địa hình núi đất hoặc núi đá, nhất thiết phải có nguồn nước và nương rẫy bậc thang. Một số dân tộc sống ở vùng trung du thường ở nhà trệt, rải rác trên các gò đồi, xen kẽ những cánh đồng tương đối bằng phẳng. 2. Đặc thù sản xuất của một số dân tộc Tập quán sản xuất của mỗi dân tộc phản ánh sự thích ứng với một hoàn cảnh địa lý nhất định. Một vài dân tộc trong cùng một ngữ hệ có khá nhiều điểm tương đồng với nhau trong tập quán sản xuất. Trong cộng đồng các dân tộc ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, các dân tộc 51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 3 thuộc cùng ngữ hệ và cư trú trên những địa hình tương đối giống nhau đều có nhiều điểm tương đồng nhau về tập quán sản xuất (bảng 2). Nhìn chung, người Kinh thường cư trú trên những địa bàn có điều kiện phát triển sản xuất. Trong nông nghiệp, do có điều kiện đất đai và nguồn nước tưới thuận lợi cho canh tác nên từ lâu họ đã có truyền thống thâm canh, đắp đê, làm thủy lợi để trồng lúa nước và hoa màu. Ngoài những kinh nghiệm thâm canh lúa nước, họ còn có những tập quán sử dụng đất đai hợp lý ở những vùng đồi, núi có độ dốc nhỏ. Các thành phần cây lấy gỗ, cây ăn quả và cây nông nghiệp được sắp xếp hợp lý theo đường bình độ hoặc kế tiếp nhau theo thời vụ với các hệ canh tác: nông lâm kết hợp, các mô hình: VAC, RVAC. Người Việt (Kinh) nhờ tập quán sản xuất nông lâm nghiệp thâm canh và sự nhạy bén với nền kinh tế thị trường, nên phần lớn địa bàn cư trú của họ trở thành vùng sản xuất hàng hóa. Có thể lấy một ví dụ điển hình ở tỉnh Thái Nguyên, nhiều xã thuộc các huyện Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương, các xã phía nam huyện Đồng Hỷ và một số xã dọc theo quốc lộ 1B huyện Võ Nhai đã trở thành vùng chuyên canh chè rộng lớn. Thương hiệu chè Tân Cương đang chiếm thị phần đáng kể trong nước và xuất khẩu. Trong thời gian gần đây, nhiều hộ gia đình người Kinh phát triển kinh tế trang trại, kết hợp cả trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là trồng các loại cây lấy gỗ, cây ăn quả và chăn nuôi bò, dê, lợn, gia cầm. Bảng 2. Đặc điểm phân bố và tập quán sản xuất của các dân tộc Dân tộc Địa bàn phân bố chủ yếu Tập quán canh tác Định cư Kinh Phân bố rộng tại vùng đồng bằng đồi, phân bố xen kẽ tại vùng thấp các huyện miền núi Thâm canh nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản (nuôi cá ao hồ); thâm canh cây công nghiệp hàng năm: lạc, đỗ tương, rau quả; cây công nghiệp lâu năm: chè (đặc biệt là chè đặc sản Tân Cương); quế (Yên Bái), hồi (Lạng Sơn), vải (Bắc Giang) Định cư thành làng lâu đời tại các đồng bằng đồi; định cư xen kẽ với các dân tộc thiểu số: Tày, Nùng, Sán Dìu và một số dân tộc khác. Tày Diện phân bố rộng hầu khắp vùng núi thấp và thung lũng chân núi Canh tác lúa nước là chủ yếu ở các miền đất thấp và nương rẫy trên đất dốc. Là cộng đồng có vai trò chính (sau dân tộc Kinh) trong phát triển kinh tế của tỉnh. Định cư thành bản làng lâu đời ở các miền đất thấp. Nùng Ruộng nước và nương rẫy, trong đó nương rẫy có vai trò quan trọng trong sản xuất ra sản phẩm hàng ngày. Sán Dìu Ruộng nước, nương rẫy và cây hoa màu Định cư thành các bản làng trên các triền núi thấp và trên các gò đồi. Sán Chay Trồng cây lương thực chiếm vị trí hàng đầu. Định cư thành các bản làng gần nguồn nước, đất đai, rừng núi thuận lợi cho canh tác lúa nước. Mông Phân bố chủ yếu ở vùng cao Định canh nương rẫy và ruộng bậc thang Định cư theo cụm bản nhỏ và một bộ phận du cư Dao Phạm vi phân bố ở cả vùng giữa và vùng cao. Định canh nương rẫy là chủ yếu và một phần ruộng nước Định cư theo các cụm bản nhỏ Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu thực địa của tác giả, năm 2003 – 2005. 51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 4 Trong quá trình định cư, các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu và Sán Chay thường lựa chọn cho mình những địa bàn thuận lợi để sinh sống và sản xuất. Cư trú ven những cánh đồng khá màu mỡ ở các thung lũng miền núi của vùng, người Tày đã tạo lập được một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển. Trên các khu vực người Tày sinh sống có hầu hết các loại cây trồng thích hợp với khí hậu miền Bắc nước ta. Ngoài lúa, ngô là cây lương thực chính, đồng bào còn trồng các loại cây hoa màu như: khoai lang, khoai sọ, củ từ, rau đậu mùa nào thức ấy. Tính đa dạng của sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm sản xuất của đồng bào. Kỹ thuật làm đất gắn liền với tính đa dạng của công cụ. Cơ cấu mùa vụ khá đa dạng, trên những chân ruộng nước đồng bào thường trồng hai vụ lúa mùa và đông xuân, ở chân ruộng cạn trồng ngô, khoai lang, rau đậu, đỗ trắng Người Nùng ít có điều kiện trồng lúa nước hơn người Tày. Nhờ tích lũy được kinh nghiệm, người Nùng khá thành thạo trong việc làm nương rẫy. Để tăng độ ẩm cho đất và tăng năng suất cây trồng, ngoài cách bón phân đồng bào còn trồng xen các loại cây khác như ngô xen cây đậu nho nhe. Một bộ phận dân tộc Nùng sống ở vùng thấp thì hoạt động sản xuất chính là làm ruộng nước và họ cũng canh tác ruộng nước giống như các dân tộc lân cận. Đối với dân tộc Sán Chay, trồng trọt vẫn là hoạt động sản xuất chủ đạo. Họ đã tuyển chọn và sử dụng bộ giống cây trồng tương đối phong phú. Đối với họ, giải pháp kỹ thuật truyền thống của việc trồng trọt là gắn chặt với điều kiện tưới tiêu. Vì thế nơi khai phá ruộng phải là những địa điểm gần nguồn nước, có thể dẫn nước vào được bằng máng hoặc mương rãnh. Còn người Sán Dìu canh tác trên các loại ruộng nước trên những cánh đồng tương đối bằng phẳng, ruộng cạn trên các nương đồi, ruộng bậc thang ở trên những độ cao khác nhau bao quanh lấy các ven đồi, ven núi. Trên các loại ruộng này, bà con đã trồng lúa, ngô, khoai sắn, các loại cây hoa màu và rau củ quả. Trong gia đình người Sán Dìu có sự phân công khá rõ nét giữa các thành viên. Trong chăn nuôi, các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu đều nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, ngựa), gia cầm (gà, vịt, chim), nghề nuôi ong cũng khá phát triển ở các xã gần rừng. Chăn nuôi chủ yếu lấy phân bón, sức kéo, thịt Nhiều gia đình ở vùng thấp còn có ao thả cá, diện tích vài chục đến vài trăm mét vuông. Một số nơi đồng bào còn thả cá ruộng vừa làm sạch ruộng vừa cải thiện bữa ăn. Các nghề thủ công tuy là nghề phụ nhưng cũng khá phát triển trong làng bản. Đối với dân tộc Tày và Nùng, nổi bật nhất là nghề trồng bông, chàm, kéo sợi, dệt vải, nhuộm chàm. Ngoài ra còn đan lát, nghề mộc, rèn, làm gạch ngói, nung vôi. Các nghề thủ công này đều mang tính chất mùa vụ, chủ yếu vào thời gian nông nhàn. Với các dân tộc Mông và Dao, xét về mặt phân hóa không gian theo đai cao, thì đây là hai dân tộc cư trú ở độ cao cao nhất so với các dân tộc khác; đó cũng là khu vực hiện còn diện tích rừng và đất rừng khá lớn. Về phong tục tập quán, hai dân tộc này có tập quán du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy. Hiện nay, đại bộ phận người Mông, Dao về cơ bản đã ổn định cuộc sống định canh, song hoạt động sản xuất vẫn theo phương thức cổ truyền là canh tác nương rẫy và chăn nuôi đại gia súc. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau mầu như: bầu, bí, khoai lang, su hào, cải làn; vật nuôi chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lợn, gà. Các giống cây trồng, vật nuôi lấy từ nguồn gốc địa phương và hình thức chăn thả tự nhiên. 51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 5 Những năm gần đây một số nơi có đồng bào dân tộc Dao và các dân tộc khác trên địa bàn của vùng đã tham gia vào chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội. Nhìn chung khi triển khai các chương trình trồng và bảo vệ rừng, một số hộ gia đình đã áp dụng theo đúng quy trình đã được phổ biến, kết hợp với chăn nuôi và trồng thêm một số cây ăn quả, bước đầu hình thành mô hình sản xuất phù hợp với môi trường vùng cao. Như vậy, bên cạnh các hệ canh tác cổ truyền là làm ruộng nước, ruộng bậc thang, nương rẫy, giờ đây cùng với sự phát triển của cả nước và sự phát triển của mỗi dân tộc, đồng thời với việc xuất hiện một số hệ thống mới về sử dụng đất đã có thêm nhiều loại hình canh tác như: vườn - ao - chuồng, vườn - rừng, các trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm... 3. Các hệ canh tác chủ yếu của một số dân tộc Hoàn cảnh địa lý nào thì có hệ thống canh tác ấy. Mỗi dân tộc, mỗi tiểu vùng đều có hệ canh tác đặc trưng, biểu thị sự thích ứng và thích nghi của mỗi dân tộc với điều kiện sống của họ để tồn tại và phát triển. Căn cứ vào đặc điểm của môi trường tự nhiên và một số các yếu tố khác, Ngô Đức Thịnh đã chia khu vực miền núi Việt Nam thành 3 tiểu vùng cư trú, canh tác khác nhau theo bậc địa hình: rẻo thấp, rẻo giữa, rẻo cao. Cách phân chia này phù hợp với sự phân hóa không gian theo đai cao ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ. Vùng rẻo cao: là những nơi địa hình cao, hiểm trở, thường có độ cao tuyệt đối trên 600 m. Đây là vùng sâu nhất, xa nhất và khó khăn nhất trong vùng, chủ yếu là địa bàn cư trú của hai dân tộc Mông và Dao với hệ canh tác và phương thức canh tác truyền thống. Phương thức sử dụng đất tập trung vào cây lương thực, nương rẫy và vật nuôi là đại gia súc. Trên 70% sản lượng lương thực của các nông hộ trên địa bàn này là ngô, lúa nương; mỗi hộ có ít nhất là 1 con trâu, 1 con bò hoặc 1 con ngựa. Hệ canh tác này đã và đang thích ứng với điều kiện sống của họ. Vùng rẻo giữa: là vùng trung gian giữa rẻo cao và rẻo thấp, các dân tộc cư trú chủ yếu là: Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Lô Lô, Thái hệ canh tác có tính chất pha trộn giữa vùng rẻo cao và rẻo thấp. Trên địa bàn này đồng bào vừa làm ruộng nước, vừa canh tác nương rẫy trên những sườn dốc có khi tới 450. Do biết thích ứng với điều kiện tự nhiên và môi trường sống, nên đồng bào đã biết đa dạng hóa phương thức sử dụng đất bằng cách trồng lúa nước ở những nơi đất thấp ven sông suối, các thung lũng; trồng các cây lương thực chịu hạn trên nương rẫy. Vùng rẻo thấp: là những nơi địa hình thấp, độ cao tuyệt đối trung bình dưới 300m, nguồn nước dồi dào, cư dân chủ yếu là các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay. Điều kiện sống và môi trường sinh thái thuận lợi hơn, do vậy, phương thức sử dụng đất tập trung vào lúa nước; nền nông nghiệp đã định canh từ khá sớm. Nhìn chung, sự phân chia khu vực miền núi thành 3 hệ canh tác theo độ cao địa hình (theo rẻo) chỉ là tương đối và có tính quy ước, song có thể khẳng định, để thích ứng với điều kiện đất đai, địa hình, khí hậu... của khu vực miền núi, đồng bào các dân tộc thích ứng với hoàn cảnh địa lý của cuộc sống bằng những phương thức canh tác khác nhau. Cho dù hoàn cảnh nào thì con người cũng tìm ra được các phương thức ứng xử phù hợp với điều kiện tự nhiên và môi trường mà họ sinh sống. Trong toàn bộ hoạt động kinh tế đa dạng 51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 6 của các dân tộc, hoạt động trồng trọt vẫn là nhân tố quyết định sự tồn tại của cộng đồng, hoạt động chăn nuôi và dịch vụ hỗ trợ. Có thể nói, trung du và miền núi Bắc Bộ là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, gắn bó lâu đời. Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, song đều có chung truyền thống yêu nước, đoàn kết, đấu tranh cách mạng, kiên cường chống ngoại xâm, tích cực trong công cuộc đổi mới của đất nước. Đây là một vùng văn hóa dân tộc đặc thù, điều đó thể hiện ở sự đa ngữ hệ, đa thành phần. Tính đặc thù đó còn thể hiện trong sự khác biệt về tập quán sản xuất của các dân tộc cũng như sự phù hợp của các hệ canh tác theo rẻo địa hình (cao, giữa và thấp). Chiến lược phát triển bền vững vùng trung du và miền núi Bắc Bộ phụ thuộc vào việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của các vùng văn hóa dân tộc độc đáo này  Summary To study northern Viet Nam moutainours areas as an original ethnogrphi region from the point of socio - economic geographi In the general regional scheme of ethonographical areas of Viet Nam the northern midland and mountian region is seen as an original ethonographical one characterised by diversifies on languages and ethnic membery features (3 of 4 langual systemes and 30 ethnic minorities officially registrated in Viet Nam) as well as original cultural vallues. These ethnographical features is also disposed in traditional prodution customs and habits as wel as in cultivated systerms followed by land height (high, medium and low). In the author’s opinion sustainable development strategy would be depend on percerving and developing cultural vallues of the original ethnographi of the region. Tài liệu tham khảo [1]. Bộ Văn hóa - Thông tin, Viện Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2005), 45 năm Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, (Tuyển tập bài viết của các tác giả trong và ngoài bảo tàng từ năm 1960 - 2005), Nhà in Thái Nguyên. [2]. Kỷ yếu hội thảo Quốc tế Việt Nam học, Hà Nội 2008. [3]. Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường (1999), Nghiên cứu phát triển bền vững miền núi Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hội thảo quốc gia, HN. [4]. Dương Quỳnh Phương, Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên đất và rừng ở tỉnh Thái Nguyên – hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, Luận án TS, HN 2007. [5]. Vũ Như Vân, Nguyễn Xuân Trường, Dương Quỳnh Phương (2006), Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Lưu hành nội bộ, Thái Nguyên.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbrief_1049_9530_9_0855_2053148.pdf