Thực trạng và giải pháp an ninh lương thực tại chỗ cho đồng bào dân tộc Mông huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái

* Đề xuất với người nông dân huyện Mù Cang Chải - Người dân cần có ý thức tự vươn lên thoát nghèo - Chủ động tham gia, thực hiện các chương trình khuyến nông - Tiếp tục mở rộng diện tích ruộng bậc thang - Tăng cường đầu tư cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi Kết luận: An ninh lương thực là một vấn đề không chỉ riêng của hộ nông dân mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể. Với kết quả nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào các chính sách, giải pháp của địa phương nhằm tăng khả năng đáp ứng an ninh lương thực tại chỗ cho huyện, cũng như giúp các hộ nông dân đồng bào Mông tự chủ được trong vấn đề an ninh lương thực cho chính hộ gia đình mình.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 25/03/2022 | Lượt xem: 149 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp an ninh lương thực tại chỗ cho đồng bào dân tộc Mông huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nguyễn Quang Hợp và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 64(02): 16 - 21 16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP AN NINH LƢƠNG THỰC TẠI CHỖ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC MÔNG HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI Nguyễn Quang Hợp, Nguyễn Thị Gấm Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT An ninh lƣơng thực đã và đang là một vấn đề nóng bỏng không chỉ của Việt Nam, mà của tất cả các nƣớc trên thế giới. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, hàng năm xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo và đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu lƣơng thực. Tuy nhiên, an ninh lƣơng thực cũng là một vấn đề nan giải của Việt Nam, nhất là ở những khu vực vùng sâu, vùng xa nhƣ huyện Mù Cang Chải - Tỉnh Yên Bái, một trong số những huyện nghèo nhất của Việt Nam. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng sản xuất lƣơng thực và khả năng đảm bảo lƣơng thực của các hộ nông dân đồng bào Mông huyện Mù Cang Chải; từ kết quả nghiên cứu đề tài đã đề ra một số đề xuất đối với UBND huyện Mù Cang Chải cũng nhƣ những hộ đồng bào dân tộc Mông nhằm thực hiện an ninh lƣơng thực tại chỗ. Key words: an ninh lương thực, Mù Cang Chải, đất dốc, ruộng bậc thang, vùng cao *ĐẶT VẤN ĐỀ An ninh lƣơng thực (ANLT) đã và đang là một vấn đề nóng bỏng của không chỉ Việt Nam, mà của tất cả các nƣớc trên thế giới. An ninh lƣơng thực là một khái niệm động đƣợc định nghĩa rất nhiều trong các nghiên cứu và chính sách. Theo nghĩa hẹp ANLT là “sự sẵn có của nguồn cung lƣơng thực thế giới ở mọi lúc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện biến động về sản xuất và giá cả lúa gạo” [Hội nghị lƣơng thực thế giới, 1974]. Trải qua nhiều thời gian, khái niệm về ANLT cũng có nhiều những thay đổi cho phù hợp hơn. Hội nghị Lƣơng thực thế giới năm 1996 đƣa ra khái niệm về an ninh lƣơng thực với mức độ phức tạp hơn: “ANLT đạt đƣợc ở mỗi cá nhân, mỗi hộ, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và cấp độ toàn cầu khi tất cả mọi ngƣời, ở mọi lúc, mọi nơi đều có đủ các chất dinh dƣỡng cho cuộc sống”. Định nghĩa này đã đƣợc định nghĩa lại vào năm 2001 trong chƣơng trình ANLT năm 2001 “ANLT là một trạng thái mà không lúc nào con ngƣời bị đói – nghĩa là họ có đủ các chất dinh dƣỡng cho cuộc sống hiệu quả, hoạt bát và khỏe mạnh”. Để đánh giá về an ninh lƣơng thực, ngƣời ta xem xét các chỉ tiêu sau: Sự sẵn có và ổn định của nguồn cung; khả năng tiếp cận. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU * Tel:0912805980 * Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá đƣợc thực trạng ANLT của huyện Mù Cang Chải – Yên Bái, qua đó đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng ANLT cho huyện. * Nội dung nghiên cứu: các nhân tố ảnh hƣởng đến sản xuất lƣơng thực của hộ và khả năng đáp ứng lƣơng thực tại chỗ của hộ, qua đó chỉ ra các giải pháp nâng cao sản xuất lƣơng thực và ANLT cho hộ. * Phương pháp nghiên cứu: Để đánh giá thực trạng an ninh lƣơng thực của các hộ gia đình dân tộc Mông huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của ngƣời dân. Phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nghiên, số lƣợng mẫu lựa chọn là 100 hộ gia đình tại hai xã Chế Cu Nha và La Pán Tẩn đã đƣợc chọn ngẫu nhiên làm mẫu để điều tra và nghiên cứu. Để xử lý thông tin, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tổ và phƣơng pháp phân tích hồi quy (hàm sản xuất Cobb-Douglas) để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tình hình an ninh lƣơng thực của các hộ gia đình. Hàm Cobb-Douglas có dạng tổng quát: i iXXXAY  ...22 1 10 Trong đó: Y: Biến phụ thuộc ; A là hệ số Βi (i = 1-n) là các hệ số co dãn của các biến độc lập Xi: là các biến độc lập định lƣợng ( ___ ,1 ni  ) KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Nguyễn Quang Hợp và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 64(02): 16 - 21 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Thực trạng An ninh lƣơng thực của huyện Mù Cang Chải Đặc điểm huyện Mù Cang Chải Huyện Mù Cang Chải là một huyện vùng cao, nằm ở phía tây của tỉnh Yên Bái, cách trung tâm thành phố Yên Bái gần 200 km. Huyện có diện tích là 1199.3 km2, nằm dƣới chân dãy núi Hoàng Liên Sơn, ở độ cao 1000 m so với mực nƣớc biển. Huyện có địa hình đồi núi cao, xen lẫn các thung lũng xâm thực, có trên 95% diện tích là núi cao, độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh do đó gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện giao thông và trở ngại đối với phát triển kinh tế, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Thành phần dân cƣ của huyện chủ yếu là đồng bào Mông chiếm tới 91.5%, còn lại là ngƣời Thái, ngƣời Kinh,Theo số liệu của Phòng thống kê huyện thì dân số của huyện năm 2006 là 44105 ngƣời, năm 2007 là 44950 ngƣời, năm 2008 là 46265 ngƣời. Thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện * Diện tích sản xuất lƣơng thực của huyện Mù Cang Chải Bảng 01 : Diện tích các loại cây lƣơng thực của huyện qua 3 năm (ĐVT: ha) Chỉ tiêu Năm Tốc độ tăng BQ 2006 2007 2008 Cây lƣơng thực 6576,40 6756,30 6948,70 102,79 Lúa 3943,00 4085,00 4267,30 104,03 Cây màu 2633,40 2671,30 2681,40 100,90 Ngô 1886,00 1915,00 1920,30 100,90 Khoai lang 65,00 66,00 66,50 101,14 Sắn 356,00 359,00 359,00 100,42 Rau, đậu 326,40 331,30 335,60 101,40 (Nguồn: Niên giám thống kê 2006- 2008) Diện tích trồng các loại cây lƣơng thực của huyện có xu hƣớng tăng lên. Diện tích cây lƣơng thực qua 3 năm tăng 2,79%. Trong đó, tăng nhiều nhất là cây lúa với 4,03%, từ 3.943 ha năm 2006 lên 4.267,3ha năm 2008. Diện tích đất trồng lúa tăng lên là do huyện có chủ trƣơng mở rộng diện tích đất ruộng bậc thang để trồng cây lúa nƣớc. Tuy nhiên, qua bảng số liệu ta cũng có thể nhận thấy diện tích đất phục vụ sản xuất lƣơng thực rất thấp, điều đó ảnh hƣởng tới khả năng đảm bảo an ninh lƣơng thực tại chỗ của huyện. * Sản lƣợng lƣơng thực của huyện Mù Cang Chải Bảng 02: Sản lƣợng lƣơng thực của huyện qua 3 năm (ĐVT: Tấn) Chỉ tiêu Năm Tốc độ tăng BQ 2006 2007 2008 SL thóc 10083,80 11179,00 11803,8 108,20 SL ngô 3756,91 3757,23 3744,58 99,83 SL khoai 265,00 265,00 267,53 100,47 SL sắn 3383,06 3525,74 3526,81 102,10 SLlƣơng thực có hạt 13840,71 14936,23 15548,38 105,98 SLlƣơng thực có hạt BQ (kg/ng/ năm 313,81 332,28 336,12 103,49 (Nguồn: Phòng thống kê huyện MCC) Sản lƣợng lƣơng thực của huyện có sự tăng trƣởng liên tục qua 3 năm. Tốc độ tăng năm 2007 so với năm 2006 tƣơng ứng là 10,86%, năm 2008 so với năm 2007 là 5,59%. Đặc biệt là sản lƣợng thóc với tốc độ tăng bình quân 8,2%, năm 2006 sản lƣợng thóc là 10083,8 tấn, năm 2008 tăng lên 11803,8 tấn. Sản lƣợng lƣơng thực có hạt của huyện không ngừng tăng lên qua 3 năm, tốc độ phát triển bình quân đạt 103,49%. Tuy nhiên, vẫn thấp hơn nhiều so với mức bình quân lƣơng thực vùng núi phía Bắc (381,35 kg) và cả nƣớc (469,50kg). Mặc dù có sự tăng trƣởng về sản lƣợng lƣơng thực có hạt nhƣng sự tăng trƣởng ấy vẫn chƣa đáp ứng đủ nhu cầu lƣơng thực cho ngƣời dân, cảnh thiếu đói vẫn diễn ra. Huyện Mù Cang Chải cần phải nỗ lực hơn nữa để có thể tăng nhanh sản lƣợng lƣơng thực đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân. Thực trạng an ninh lương thực của các hộ nông dân huyện Mù Cang Chải Nguyễn Quang Hợp và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 64(02): 16 - 21 18 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên * Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ nghiên cứu Bảng 03: Tình hình đất đai của nhóm hộ nghiên cứu (ĐVT: Sào/hộ) Chỉ tiêu Hộ nghèo Hộ trung bình 1. Tổng diện tích đất 89,55 182,79 Đất trồng cây hàng năm 23,37 32,67 - Lúa 16,54 22,39 - Ngô 6,83 10,28 Đất lâm nghiệp 66,15 150,11 - Rừng trồng 22.55 19,70 - Rừng bảo vệ 43.60 130,41 (Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra) Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp của các hộ là ít, nhất là ở nhóm hộ nghèo diện tích đất nông nghiệp, bình quân 23,37 (sào/hộ), nhóm hộ trung bình diện tích đất nông nghiệp bình quân là 32,67 (sào/hộ). Diện tích đất nông nghiệp ít, ảnh hƣởng nhiều đến kết quả sản xuất lƣơng thực và đảm bảo ANLT của ngƣời dân. Diện tích đất lâm nghiệp của các hộ chiếm tỷ trọng lớn, nhƣng việc sử dụng diện tích đất này vào sản xuất lại thấp, chủ yếu là đất rừng khoanh nuôi bảo vệ. Lúa và ngô là hai cây trồng chính mà nhân dân đồng bào vùng cao huyện Mù Cang Chải trồng nhiều để đảm bảo tình hình an toàn lƣơng thực tại chỗ và xoá đói khi giáp hạt. Trong đó, lúa trồng trên ruộng bậc thang là cây trồng chủ yếu của ngƣời dân. Thu nhập từ cây trồng này chiếm phần lớn trong thu nhập từ trồng trọt của hộ. Bảng 04: Thu nhập từ một số cây trồng chính của nhóm hộ Chỉ tiêu ĐVT Nhóm hộ nghèo Nhóm hộ trung bình Tổng thu nhập từ trồng trọt Đồng 8.082.227 14.143.088 - Lúa nƣơng Đồng 268.787 341.764 - Lúa ruộng bậc thang Đồng 6.118.939 11.044.854 - Ngô Đồng 1.520.681 2.756.470 -Lúa thấp Đồng 173.863 0 TN BQ/ tháng Đồng 116.414 298.289 SL lƣơng thực có hạt bình kg 232,07 409,53 quân/ngƣời/năm (Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra ) Bảng số liệu cũng cho thấy, mức độ an ninh lƣơng thực trong vùng có sự khác biệt rất rõ rệt giữa hai nhóm hộ. Nhóm hộ nghèo có thu nhập bình quân đạt 116.414 đồng/ngƣời, sản lƣợng lƣơng thực có hạt bình quân 232,07 kg/ngƣời, thấp hơn nhiều so với nhóm hộ không nghèo. Điều đó cho thấy huyện Mù Cang Chải còn nhiều việc phải làm để thực hiện đƣợc an ninh lƣơng thực tại chỗ cho ngƣời dân. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng an ninh lương thực của các hộ dân Để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng an ninh lƣơng thực cho các hộ đồng bào dân tộc Mông, chúng tôi sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích. Trong đó: Biến phụ thuộc (Y) là: sản lƣợng lƣơng thực có hạt BQ/ngƣời/năm Các biến độc lập gồm: Nhân khẩu của hộ (X1); Tổng sản lƣợng thóc (X2); Tổng sản lƣợng ngô (X3); Tổng nguồn vốn (X4); Trình độ học vấn chủ hộ (X5). Kết quả phân tích hồi quy như sau: Hàm hồi quy có dạng: Ln(Y) = 0,6504 – 1,0202Ln(X1)*** + 0,7594Ln(X2)*** + 0,2393Ln(X3)*** + 0,0002Ln(X4)* - 0,0072Ln(X5) (Ghi chú: *: Độ tin cậy đạt 90%; **: Độ tin cậy đạt 95%; ***: độ tin cậy đạt 99%) Nhận xét bài toán: Trong các biến độc lập đƣa vào mô hình, chỉ có các biến: nhân khẩu của hộ, sản lƣợng lƣơng thóc; sản lƣợng ngô là đủ độ tin cậy về mặt thống kê để kết luận có sự biến động của các biến này có tác động tới sản lƣợng lƣơng thực có hạt bình quân đầu ngƣời. Biến trình độ học vấn của chủ hộ và vốn của hộ phản ánh không rõ ràng. - X1( Tổng nhân khẩu) có P-value = 1,93.10- 74<0,01 có nghĩa là hệ số của biến này có ý nghĩa ở mức α=1%. Hệ số của X1=-1,02 có nghĩa là trong điều kiện trung bình và các yếu tố khác không đổi thì khi tăng nhân khẩu lên 1% sẽ làm cho sản lƣợng lƣơng thực có hạt BQ giảm đi 1,02%. Nguyễn Quang Hợp và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 64(02): 16 - 21 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - X2 (Tổng SL thóc ) có P-value =2,69.10- 78<0,01 có nghĩa là hệ số của biến này có ý nghĩa ở mức α=1%. Hệ số của X2=0,7594 có nghĩa là trong điều kiên trung bình và các yếu tố khác không đổi khi tăng sản lƣợng thóc lên 1% thì làm cho sản lƣợng lƣơng thực có hạt BQ/ngƣời tăng 0,7594%. - X3 (Tổng SL ngô ) có P-value =8,85.10- 47<0,01 có nghĩa là hệ số của biến này có ý nghĩa ở mức α=1%. Hệ số của X3=0,2393 có nghĩa là trong điều kiên trung bình và các yếu tố khác không đổi khi tăng sản lƣợng ngô lên 1% thì làm cho sản lƣợng lƣơng thực có hạt BQ/ngƣời tăng 0,2393%. Từ kết quả phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hƣởng đến an ninh lƣơng thực của các hộ, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Thứ nhất, tình hình đảm bảo ANLT tại chỗ của huyện Mù Cang Chải là rất thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời dân. Thứ hai, nguồn để đáp ứng ANLT của huyện Mù Cang Chải chủ yếu phụ thuộc vào SX nông nghiệp, trong khi đó diện tích đất nông nghiệp và kết quả sản xuất nông nghiệp lại thấp. Thứ ba, tình trạng đông con, thiếu lao động là một nhân tố ảnh hƣởng quan trọng đến đảm bảo ANLT của ngƣời dân trong huyện. Thứ tư, sản lƣợng lúa và ngô là hai yếu tố quan trọng góp phần giải quyết an ninh lƣơng thực cho đồng bào dân tộc Mông của huyện Mù Cang Chải. Một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lƣơng thực cho huyện Mù Cang Chải Nhu cầu về an ninh lương thực của người dân Để đánh giá nhu cầu lƣơng thực nhằm đảm bảo an ninh lƣơng thực cho ngƣời dân, tác giả dựa trên một chỉ tiêu chính là năng lƣợng cần thiết cho một ngƣời trƣởng thành trong một ngày tồn tại và làm việc bình thƣờng theo tổ chức Nông lƣơng thế giới ( FAO, 1998) đƣa ra. Cách tính dựa theo giả thiết rằng tất cả năng lƣợng đƣợc quy đổi ra gạo và tất cả thu nhập của hộ trƣớc tiên dung để mua lƣơng thực. Kết quả nhƣ sau: Bảng 05: Thu nhập cần thiết để đảm bảo ANLT của nhóm hộ nghiên cứu Chỉ tiêu ĐVT Hộ nghèo Hộ trung bình Nhân khẩu quy ng 6,92 6,38 Lƣợng gạo cần cả năm Kg 2435,59 2245,53 Lƣợng gạo quy tiền đ 19.484.720 17.964.240 Thu nhập thực của hộ đ 11.982.569 26.056.241 Thặng dƣ thu nhập ANLT đ -7.502.151 8.092.001 (Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra) Ghi chú: Năng lượng cần thiết một người/ngày là 2700 kcal (FAO,1998) Năng lượng trao đổi của 1 kg gạo là 2800 kcal (FAO,1998) Một năm = 365 ngày, Giá gạo trung bình tại thời điểm nghiên cứu ở MCC là 8000đ/kg (2) = (1)*(2700/2800)*365; (3) = (2) * 8000; (5) = (4) – (3) Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy đƣợc nếu toàn bộ thu nhập của hộ đƣợc dùng mua lƣơng thực thì chỉ có nhóm hộ trung bình đảm bảo đƣợc vấn đề lƣơng thực của mình và còn một phần thặng dƣ thu nhập dành cho chi tiêu dùng thiết yếu. Trong khi đó, nhóm hộ nghèo thì không thể đảm bảo đƣợc vấn đề lƣơng thực của chính gia đình mình, phần thu nhập thực tế của nhóm hộ này không đủ để đảm bảo vấn đề ANLT. Chính vì vậy, mà hàng năm tình trạng thiếu ăn thƣờng xuyên xảy ra đối với nhóm hộ này. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện ANLT cho huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái * Đề xuất với UBND huyện Mù Cang Chải - Về vấn đề kế hoạch hóa gia đình: chính quyền cần làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng tới từng hộ gia đình, phải sát với thực tế và nội dung tuyên truyền cần phong phú hơn. Phối kết hợp giữa việc vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình với vận động và phát triển kinh tế hộ, vì chỉ khi nào gắn đƣợc với những lợi ích thiết thực trong phát triển kinh tế với vận động thì khi đó cuộc vận động mới thành công. - Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn: cần chú trọng phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi đại gia súc nhƣ trâu, bò, dê; cần xây dựng các chính sách cho phát triển Nguyễn Quang Hợp và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 64(02): 16 - 21 20 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên nghề rừng; cần xây dựng chính sách hỗ trợ ngƣời dân phát triển ruộng bậc thang, tăng cƣờng công tác khuyến nông để nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. - Về vấn đề cơ sở hạ tầng: từng bƣớc mở rộng và kiên cố các trục đƣờng liên xã liên thôn, tạo điều kiện cho sản xuất và sinh hoạt của các hộ đồng bào; đáp ứng nhu cầu về điện cho sản xuất và đời sống của ngƣời dân; phát triển hệ thống điện thoại đến 100% các xã trong huyện, tăng cƣờng số đầu cáp, có chính sách hỗ trợ nông dân lắp đặt điện thoại. - Về vấn đề vốn: tăng cường công tác cho vay, hỗ trợ vốn cho các hộ dân phát triển sản xuất. Chính quyền địa phƣơng nên thành lập các mô hình hợp tác xã tín dụng ngay ở địa phƣơng để huy động cũng nhƣ hỗ trợ vốn kịp thời cho ngƣời cần vốn; huyện cũng cần phải xây dựng quỹ xóa đói giảm nghèo riêng để hỗ trợ nhiều mặt cho các hộ nghèo ở nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng sau vùng xa. - Về vấn đề đất đai: tiếp tục giao quyền sử dụng đất lâu dài cho ngƣời dân để họ yên tâm sản xuất; cần có chính sách hỗ trợ khai phá (nhất là ruộng bậc thang), đảm bảo ngƣời có công khi phá đƣợc khai thác mảnh đất đó trong một thời gian nhất định hoặc đƣợc cấp sổ đỏ; * Đề xuất với người nông dân huyện Mù Cang Chải - Người dân cần có ý thức tự vươn lên thoát nghèo - Chủ động tham gia, thực hiện các chương trình khuyến nông - Tiếp tục mở rộng diện tích ruộng bậc thang - Tăng cường đầu tư cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi Kết luận: An ninh lƣơng thực là một vấn đề không chỉ riêng của hộ nông dân mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể. Với kết quả nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào các chính sách, giải pháp của địa phƣơng nhằm tăng khả năng đáp ứng an ninh lƣơng thực tại chỗ cho huyện, cũng nhƣ giúp các hộ nông dân đồng bào Mông tự chủ đƣợc trong vấn đề an ninh lƣơng thực cho chính hộ gia đình mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Ngô Quang Huy: “ Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên trong hộ gia đình tới thu nhập và an toàn lương thực của hộ nông dân huyện Định Hóa – Tỉnh Thái Nguyên”, đề tài thạc sĩ năm 2007. [2]. Phòng thống kê huyện Mù Cang Chải – Yên Bái, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Mù Cang Chải năm 2007. [3]. Phòng NN và PTNT tỉnh Yên Bái, Báo cáo tổng kết năm 2008. [4]. PGS. TS Trần Chí Thiện, TS Đỗ Anh Tài, TS Patricia Sneesby (2007), “Cơ sở cho phát triển nông thôn theo vùng ở Việt Nam khu vực miền núi phía Bắc”, Nxb Nông nghiệp 2007. [5]. Phòng thống kê huyện Mù Cang Chải, Niên giám thống kê năm 2007. [6]. Tôn Tích Lan Giao “Nghiên cứu thực trạng và định hƣớng sử dụng đất trồng lúa nƣớc với nhiệm vụ an ninh lƣơng thực trên địa bàn Sơn La”, luận văn thạc sĩ năm 2004. [7]. Trang website: www.tapchikinhtedubao.mpi.gov.vn, : www.gso.gov.vn, www.giadinh.net, www. hoinongdan.org.vn, www.agroviet.gov.vn Phụ lục 1: Kết quả hàm Cobb – Douglas Regression Statistics Multiple R 0.995 R Square 0.989 Adjusted R Square 0.989 Standard Error 0.058 Observations 100.000 ANOVA df SS MS F Significance F Nguyễn Thị Quốc Dung và cs Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 63(1): 40 - 45 21 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Regression 5 29.483 5.897 1757.562 0.000 Residual 94 0.315 0.003 Total 99 29.799 Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Intercept 0.650 0.063 10.2823v 0.000 0.525 0.776 Tổng nhân khẩu -1.020 0.018 - 56.6224v 0.000 -1.056 -0.984 Tổng SL thóc 0.760 0.012 62.5058v 0.000 0.735 0.784 Tổng SL Ngô 0.239 0.009 27.5304v 0.000 0.222 0.257 Vốn vay 0.000 0.001 0.226 0.822 -0.002 0.002 Trình độ học vấn -0.007 0.007 -1.031 0.305 -0.021 0.007 REAL SITUATION AND SOLUTION ON THE LOCAL FOOD SECURITY FOR MONG ETHNIC PEOPLE IN MU CANG CHAI DISTRICT, YEN BAI PROVINCE Nguyen Quang Hop, Nguyen Thị Gam2 Economics and Business Administration, Thai Nguyen University SUMMARY Food security has been a burning issue not only for Vietnam, but for all over the world. Vietnam is an agricultural country, and exports more than 4 million tones of rice, a second rice exporter in the world. However, food security is a difficult issue for the country, especially for the mountainous and remote areas like Mu Cang Chai, one of the poor districts of Vietnam. This paper examines the current circumstance of food production and ability to ensure food of Mong households in Mu Cang Chai District. Based on research findings, some recommendations are proposed for the Mu Cang Chai People Committee and Mong households in the study area to consider in order to implement food security locally. Key words: food security, Mu Cang Chai, sloping land, terraced field, uplands 2 Tel:0912805980

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthuc_trang_va_giai_phap_an_ninh_luong_thuc_tai_cho_cho_dong.pdf
Tài liệu liên quan