So sánh hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa thủy sản tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

2.3. Đối với người dân Cần thay đổi quan niệm trong sản xuất, từ bỏ những quan điểm sản xuất lạc hậu, không hiệu quả tích cực tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức do trung tâm khuyến nông tổ chức, tăng cường học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật. Áp dụng các phương pháp này vào hoạt động sản xuất của mình, trên cơ sở đó trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, đoàn kết, tự giác, có trách nhiệm trong việc phòng chống dịch bệnh, giữ sạch môi trường và nguồn nước. Nên chuyển sang mô hình canh tác 2 lúa 1 thủy sản thay thế mô hình lúa đơn truyền thống, làm được điều này vừa giúp hộ nông dân tăng thu nhập và về mặt xã hội làm giảm tác nhân gây ô nhiểm môi trường.

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 26/03/2022 | Lượt xem: 68 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa thủy sản tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 22 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA ĐƠN VÀ LÚA THỦY SẢN TẠI HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG COMPARING FINANCIAL EFFECTIVENESS OF THE AQUATIC- RICE AND SINGLE RICE MODELS IN LONG MY DISTRICT, HAU GIANG PROVINCE Nguyễn Đăng Đức1, Trần Tất Đăng2, Lê Kim Long3 Ngày nhận bài: 17/6/2014; Ngày phản biệ n thông qua: 25/7/2014; Ngày duyệt đăng: 01/12/2014 TÓM TẲT Mô hình lúa thủy sản là một trong những mô hình áp dụng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; phân tích các chỉ số tài chính, so sánh hiệu quả tài chính của mô hình lúa đơn và mô hình lúa thủy sản; từ đó đề xuất được một số giải pháp cơ bản và khả thi phù hợp để phát triển các mô hình tại địa bàn nghiên cứu. Qua nghiên cứu có thể kết luận rằng: hộ nông dân áp dụng mô hình sản xuất lúa thủy sản mang lại hiệu quả cao hơn so với mô hình sản xuất lúa đơn. Cụ thể tổng chi phí của mô hình lúa thủy sản tiết kiệm so với mô hình lúa đơn là 9.816.549 đồng/ha. Thu nhập của mô hình lúa thủy sản tăng hơn mô hình lúa đơn là 17.866.100 đồng/ha. Từ khóa: hiệu quả tài chính, lúa đơn, lúa thủy sản, Long Mỹ ABSTRACT The aquatic rice model is one of the models applied to the economic restructuring in agriculture. This study aimed to assess the status of rice production in Long My district, Hau Giang Province; analysis of fi nancial ratios, compare the fi nancial effectiveness of the application single model and the aquatic rice; which proposes a number of basic, feasible and suitable solutions to develop the models in the study area. Through research it can be concluded that farmers applied the aquatic rice production brings higher effi ciency compared to single model for rice production. Specifi cally the total cost of the aquatic rice model savings compared to single model is 9816549 VND/ ha. The income of the aquatic rice model increased over single model is 17.8661 million VND / ha. Keywords: Financial effectiveness, single rice, aquatic rice, Long My 1 Nguyễn Đăng Đức: Cao học Quản trị kinh doanh 2011 – Trường Đại học Nha Trang 2 Trần Tất Đăng: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 – Trường Đại học Nha Trang 3 TS. Lê Kim Long: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã và đang đóng góp quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế đất nước, với diện tích gần 4 triệu ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước, trong đó lúa gạo của vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào việc cung ứng nhu cầu trong nước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Sau lúa là nuôi trồng và khai thác thủy sản... Hậu Giang là một tỉnh được tái lập từ năm 2004, có vị thế hết sức quan trọng của vùng ĐBSCL, vị trí nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm của ĐBSCL, giữ vai trò trung tâm giao lưu kinh tế của tiểu vùng Tây Nam sông Hậu và tiểu vùng Bắc bán đảo Cà Mau, có diện tích đất nông nghiệp 140,271 ha [2] chiếm 87,53% đất tự nhiên. Long Mỹ là một huyện nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 35.203 hecta [1]. Trước đây, canh tác nông nghiệp truyền thống của người dân chủ yếu là trồng lúa đơn. Để hướng tới sự phát triển bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, bắt đầu từ năm 2008, nghị quyết của Huyện ủy huyện Long Mỹ đã chỉ đạo huyện phải có 75% diện tích đất nông nghiệp Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 23 đạt giá trị sản xuất từ 50 triệu đồng/ha trở lên và đạt lợi nhuận 40% trên diện tích canh tác [3]. Chính vì vậy, UBND huyện đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn phối hợp với các ngành chức năng hướng dẫn bà con nông dân thực hiện nhiều mô hình sản xuất để chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp phấn đấu đạt được mục tiêu về giá trị sản xuất và lợi nhuận theo nghị quyết của Huyện ủy. Mô hình lúa thủy sản là một trong những mô hình áp dụng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, từ năm 2008 đến nay chưa có một nghiên cứu nào để đánh giá hiệu quả của các mô hình sản xuất lúa của huyện. Để có căn cứ thuyết phục người dân chuyển đổi mô hình sản xuất thì câu hỏi “Liệu mô hình lúa - thủy sản có thực sự mang lại hiệu quả tài chính cao hơn mô hình đơn canh lúa?” cần phải được trả lời. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng sản xuất lúa tại huyện hiện nay, đồng thời so sánh hiệu quả tài chính của mô hình lúa đơn và mô hình lúa thủy sản. II. CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết Hiệu quả tài chính thường được đánh giá dựa vào các chỉ tiêu: Kết quả/Chi phí, Kết quả/Doanh thu, Doanh thu/Chi phí, Kết quả/Vốn chủ sở hữu [3], [5]. Trong nghiên cứu này, do người nông dân chỉ quan tâm tới thu nhập và không có dữ liệu về đất thuê nên chỉ số kết quả của hoạt động sản xuất được thay thế bằng thu nhập. Mặt khác, do không đo lường được chi phí đất đai nên chỉ số vốn chủ sở hữu cũng không được tính toán. Các chỉ số sau được sử dụng : Thu nhập/Chi phí (TN/CP): là chỉ số được tính bằng cách lấy tổng thu nhập chia cho tổng chi phí. Tỷ số này cho biết một đồng chi phí đầu tư, chủ thể đầu tư sẽ thu lại được bao nhiêu đồng thu nhập. Thu nhập/Doanh thu (TN/DT): là chỉ số được tính bằng tỷ số tổng thu nhập chia cho tổng doanh thu. Tỷ số này cho biết được trong một đồng doanh thu hộ nông dân có được sẽ có bao nhiêu đồng thu nhập. Doanh thu/chi phí (DT/CP): cho biết rằng một đồng chi phí mà hộ nông dân bỏ ra đầu tư sẽ thu lại được bao nhiêu đồng doanh thu. 2. Phương pháp nghiên cứu 2.1. Dữ liệu nghiên cứu 2.1.1. Địa bàn và qui mô nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những nông dân áp dụng mô hình sản xuất lúa đơn và mô hình lúa - thủy sản tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2011, tổng số mẫu là 302 mẫu, trong đó 133 mẫu hộ sản xuất lúa đơn, 169 mẫu hộ sản xuất lúa - thủy sản. Địa bàn nghiên cứu được chọn là 10/15 đơn vị xã thị trấn của huyện Long Mỹ, gồm: xã Long Trị, Long Trị A, Vĩnh Viễn, Lương Tâm, Lương Nghĩa, Thuận Hưng, Xà Phiên, Long Bình, Long Phú và thị trấn Trà Lồng. 2.1.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản bằng cách dựa vào danh sách các hộ nuôi, sau đó rút thăm ngẫu nhiên không lặp lại từ danh sách lập để chọn ra các hộ cần điều tra. Số liệu thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ. Thời gian phỏng vấn được tiến hành vào năm 2011. 2.2. Phương pháp phân tích dữ liệu Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá 2 mô hình. Phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập để kiểm định sự khác biệt của 2 mô hình về thu nhập, chi phí, doanh thu. Kiểm định trung bình mẫu độc lập: khi hai yếu tố nghiên cứu là biến định tính và định lượng. Kiểm định trung bình mẫu độc lập cho biết giá trị trung bình của một yếu tố thuộc vào hai nhóm độc lập có sự khác biệt hay không. Theo lý thuyết về kiểm định trung bình mẫu độc lập, kết quả xảy ra hai trường hợp: + Trường hợp 1: Nếu giá trị Sig. Trong kiểm định Levene’s nhỏ hơn 0,05 ta sẽ sử dụng kết quả kiểm định t ở phần phương sai không bằng nhau. Nếu p-value của giá trị t < 0,05 thì ta kết luận giá trị trung bình của yếu tố 2 nhóm là khác biệt có ý nghĩa với độ tin cậy α (α=95%) [4], [6]. + Trường hợp 2: Nếu giá trị Sig. Trong kiểm định Levene’s >= 0,05 ta sẽ sử dụng kết quả kiểm định t ở phần phương sai bằng nhau. Nếu p-value của giá trị t < 0,05 thì ta kết luận giá trị trung bình của yếu tố 2 nhóm là khác biệt có ý nghĩa với độ tin cậy α (α=95%) [4], [6]. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Kết quả so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng hợp của hai mô hình Qua phân tích và đánh giá kết quả áp dụng hai mô hình sản xuất của nông dân trên địa bàn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ta có thể đưa ra kết luận rằng: hộ nông dân áp dụng mô hình sản xuất lúa thủy sản mang lại kết quả cao hơn so với mô hình sản xuất lúa đơn. Theo số liệu tại bảng 1 dưới đây, ta có kết quả nghiên cứu 302 hộ nông dân sản xuất lúa đơn Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 24 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG và lúa thủy sản năm 2011 tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang cho kết quả hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình lúa thủy sản có thu nhập trung bình 57.704.396 đồng/ha/năm cao hơn thu nhập trung bình của mô hình lúa đơn là 39.838.296 đồng/ ha/năm [3]. Giá trị Sig. trong kiểm định Levene’s Test <0,05, chứng tỏ phương sai của hai mô hình khác nhau, dựa vào kết quả kiểm định t trong phần phương sai không bằng nhau, giá trị Sig. trong kiểm định t<0,05 ta kết luận có sự khác biệt về thu nhập của hai mô hình. Ta có thể đưa ra kết luận, với độ tin cậy 95%, thu nhập của mô hình lúa thủy sản tốt hơn mô hình lúa đơn. Doanh thu trung bình của hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình lúa thủy sản là 106.081.866 đồng/ ha/năm cao hơn doanh thu trung bình của hộ nông dân sản xuất lúa đơn 98.032.315 đồng/ha/năm [3]. Kết quả kiểm định sự bằng nhau của 2 phương sai, giá trị Sig. trong kiểm định Levene’s Test của tổng doanh thu <0,05, chứng tỏ phương sai của hai mô hình khác nhau, dựa vào kết quả kiểm định t trong phần phương sai không bằng nhau, giá trị Sig. trong kiểm định t <0,05 ta kết luận có sự khác biệt về doanh thu của hai mô hình. Vì vậy, với độ tin cậy 95%, doanh thu của mô hình lúa thủy sản tốt hơn mô hình lúa đơn (với mức bình quân 8.049.551 đồng/ha) [3]. Bảng 1. Tổng hợp kết quả nghiên cứu 2 mô hình Chỉ tiêu Mô hình lúa thủy sản Mô hình lúa đơn Chênh lệch Kiểm định Levene’s Kiểm định t Kết luậnMức ý nghĩa (sig.) Mức ý nghĩa (sig.) CP (đ/ha) 48.377.470 58.194.019 -9.816.549 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 DT (đ/ha) 106.081.866 98.032.315 8.049.551 Phương sai bằng nhau 0,000 0,006 Có Phương sai không bằng nhau 0,003 TN (đ/ha) 57.704.396 39.838.296 17.866.100 Phương sai bằng nhau 0,001 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 DT/CP (lần) 2,19 1,68 0,51 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 TN/CP (lần) 1,19 0,68 0,51 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 TN/DT (lần) 0,54 0,41 0,13 Phương sai bằng nhau 0,036 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 Theo bảng 1, tổng chi phí của hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình lúa thủy sản 48.377.470 đồng/ha/năm cao hơn chi phí mô hình lúa đơn 58.194.019 đồng/ha/năm [3]. Giá trị Sig. trong kiểm định Levene’s Test của tổng chi phí: <0,05, chứng tỏ phương sai của hai mô hình khác nhau, dựa vào kết quả kiểm định t trong phần phương sai không bằng nhau, giá trị Sig. trong kiểm định t <0,05 ta kết luận có sự khác biệt về chi phí của hai mô hình. Ta có thể kết luận, với độ tin cậy 95%, chi phí của mô hình lúa thủy sản tiết kiệm hơn mô hình lúa đơn (mức bình quân 9.816.549 đồng/ha) [3]. Tỷ suất thu nhập trên chi phí của mô hình lúa thủy sản là 119%, điều này nói lên khi hộ nông dân đầu tư 1.000 đồng chi phí vào việc sản suất thì có được thu nhập 1.190 đồng. Trong khi đó, tỷ suất thu nhập trên chi phí của mô hình lúa đơn là 68%, đều này nói lên hộ nông dân đầu tư 1.000 đồng chi phí vào việc sản suất thì có được thu nhập 680 đồng. Dựa vào kết quả trên ta có thể đưa ra kết luận mô hình sản xuất lúa thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với mô hình sản xuất lúa đơn. Nhưng hiện tại, mô hình lúa đơn tại huyện Long Mỹ có 3 vụ lúa trong năm và mô hình lúa - thủy sản có 2 vụ lúa trong năm... Hơn nữa, theo kết quả tính toán tại bảng 1 ta thấy thu nhâp, doanh thu và chi phí của 2 mô hình đều có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên hai mô hình điểm giống nhau là đều sản xuất lúa, điểm khác nhau là có nuôi thủy sản và không nuôi thủy sản, để có cơ sở so sánh và đánh giá hiệu quả của từng mô hình cần phải so sánh điểm chung về lúa chính. Vì vậy, chúng ta cần đi đánh giá trung bình 1 vụ lúa của hai mô hình (thông qua các chỉ tiêu về chi phí sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật). Kết quả cụ thể được thể hiện nội dung tiếp theo. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 25 2. Kết quả nghiên cứu trung bình 1 vụ lúa của 2 mô hình Theo kết quả bảng 2 dưới đây, tổng chi phí bình quân 1 vụ lúa mô hình lúa thủy sản tiết kiệm hơn mô hình lúa đơn 200.000 đồng/ha. Đặc biệt là chi phí nông dược, mô hình lúa thủy sản tiết kiệm hơn mô hình lúa đơn là 680.000 đồng/ha, điều này cho thấy sử dụng thuốc nông dược cho vụ lúa mô hình lúa thủy sản ít hơn mô hình lúa đơn, đã hạn chế tác nhân gây ô nhiễm môi trường do sử dụng nông dược trong nông nghiệp gây ra, hơn nữa về mặt tài chính hiệu quả mô hình lúa thủy sản cao hơn mô hình lúa đơn, cụ thể là thu nhập bình quân 1 vụ lúa của mô hình lúa thủy sản là 22.148.000 đồng/ha, còn mô hình lúa đơn thu nhập được 13.279.000 đồng/ha. Chênh lệch thu nhập giữa mô hình lúa thủy sản và lúa đơn là 8.869.000 đồng/ha [3]. Thu nhập của hộ nông dân sản xuất theo mô hình lúa thủy sản có thu nhập cao hơn hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình lúa đơn truyền thống là do năng suất cao hơn, chi phí tiết kiệm hơn + Năng suất theo bảng 2 hộ nông dân sản xuất bình quân 1 vụ lúa theo mô hinh lúa thủy sản là 6,5 tấn/ha, còn mô hình lúa đơn truyền thống là 5,27 tấn/ha, chênh lệch giữa mô hình lúa thủy sản và lúa đơn là 1,23 tấn/ha [3]. + Giá bán: lúa sản xuất ra theo mô hình lúa thủy sản lúa có giá bán cao hơn lúa sản xuất của mô hình lúa đơn 180 đồng/kg, có thể nói hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình lúa thủy sản sử dụng giống lúa chất lượng cao nên giá bán ra cao hơn giống lúa thường, chính vì vậy chi phí giống đầu của mô hình lúa thủy sản cao hơn lúa mô hình lúa đơn 70.000 đồng/ha [3]. Bảng 2. So sánh giá trị trung bình 1 vụ lúa của 2 mô hình Chỉ tiêu Mô hình lúa thủy sản Mô hình lúa đơn Chênh lệch Kiểm định Levene’s Kiểm định t Kết luậnMức ý nghĩa (sig.) Mức ý nghĩa (sig.) Phân bón (đ/ha) 4.940.000 4.120.000 820.000 Phương sai bằng nhau 0,219 0,000 Phương sai không bằng nhau 0,000 Có Nông dược (đ/ha) 2.890.000 3.570.000 -680.000 Phương sai bằng nhau 0,002 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 Giống (đ/ha) 1.680.000 1.610.000 70.000 Phương sai bằng nhau 0,011 0,236 Không Phương sai không bằng nhau 0,222 Chi phí khác (đ/ha) 9.704.600 10.107.000 -402.000 Phương sai bằng nhau 0,026 0,064 Không Phương sai không bằng nhau 0,055 Tổng chi phí (đ/ha) 19.200.000 19.400.000 -200.000 Phương sai bằng nhau 0,014 0,610 Không Phương sai không bằng nhau 0,593 Năng suất (tấn/ha) 6,50 5,27 1,23 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 Giá bán (đ/ha) 6.329,10 6.149,10 180 Phương sai bằng nhau 0,851 0,006 Phương sai không bằng nhau 0,006 Có Doanh thu (đ/ha) 41.371.000 32.677.000 8.694.000 Phương sai bằng nhau 0,098 0,000 Phương sai không bằng nhau 0,000 Có Thu nhập (đ/ha) 22.148.000 13.279.000 8.869.000 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 DT/CP (lần) 2,21 1,69 0,52 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 TN/CP (lần) 1,21 0,69 0,52 Phương sai bằng nhau 0,000 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 TN/DT (lần) 0,53 0,40 0,13 Phương sai bằng nhau 0,021 0,000 Có Phương sai không bằng nhau 0,000 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 26 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Theo kết quả kiểm định tại bảng 2 ta thấy của các khoản mục: phân bón, giá bán, doanh thu giá trị Sig. trong kiểm định Levene’s Test >0,05 điều này nói lên phương sai của hai mô hình không khác nhau (hay nói nói cách khác độ quan sát đồng đều); Các mục: chi phí nông dược, chi phí giống, chi phí khác, tổng chi phí, thu nhập,.. giá trị Sig. trong kiểm định Levene’s Test <0,05 điều này nói lên phương sai của hai mô hình khác nhau, hay nói cách khác là độ quan sát không đồng đều. Tổng chi phí 1 vụ lúa mô hình lúa thủy sản thấp hơn mô hình lúa đơn 200.000 đồng/ha [3]. Giá trị Sig. trong kiểm định t test có giá trị>0,05 nó, nên nó không có ý nghĩa về mặt thống kê. Chi phí giống của 1 vụ lúa mô hình lúa thủy sản cao hơn mô hình lúa đơn 70.000 đ/ha điều này có thể cho ta thấy mô hình lúa thủy sản sử dụng lúa giống có chất lượng hơn, nên chi phí cao hơn, nhưng về mặt thống kê, giá trị Sig. trong kiểm định t test có giá trị >0,05 nên chi phí này không có ý nghĩa về sự khác biệt. Chi phí nông dược, chi phí phân bón, năng suất lúa, giá bán lúa, doanh thu, thu nhập có giá trị Sig. <0,05 điều này chứng tỏ các khoản chi phí của hai mô hình có sự khác biệt về mặt thống kê với mức ý nghĩa 95%. Ta có thể kết luận, với độ tin cậy 95%, chi phí nông dược trung bình vụ lúa của mô hình lúa thủy sản tiết kiệm hơn vụ lúa của mô hình lúa đơn (với mức bình quân 680.000 đồng/ha) tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2011, điều này cho thấy khuyến khích người dân chuyển sang mô hình lúa thủy sản, vừa hạn chế gây ô nhiểm môi trường do tác nhân của nông dược gây ra, vừa tạo thêm thu nhập nhiều hơn mô hình lúa đơn 8.869.000 đồng/ha [3]. Từ kết quả trên ta thấy, mô hình lúa thủy sản tốt hơn mô hình lúa đơn, vừa tăng thu nhập vừa hạn chế ô nhiễm môi trường. Như vậy, hiệu quả môi trường của mô hình lúa thủy sản tốt hơn mô hình lúa đơn. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá 2 mô hình. Phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập để kiểm định sự khác biệt của 2 mô hình về thu nhập, chi phí, doanh thu. Kết quả so sánh hiệu quả của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa thủy sản tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang cho thấy thu nhập của mô hình lúa thủy sản cao hơn lúa đơn là 17.866.100 đ/ha, trong khi mô hình sản lúa thủy sản tiết kiệm hơn rất nhiều so với mô hình lúa đơn, trung bình là 9.816.549 đ/ha. Thông qua kết quả so sánh trung bình 1 vụ lúa ta thấy chi phí nông dược trung bình vụ lúa của mô hình lúa thủy sản tiết kiệm hơn vụ lúa của mô hình lúa đơn (với mức bình quân 690.000 đồng/ha). Từ kết quả trên ta thấy, mô hình lúa thủy sản tốt hơn mô hình lúa đơn, vừa tăng thu nhập vừa hạn chế ô nhiễm môi trường, chính vì vậy cần tuyên truyền sâu rộng để khuyến khích hộ nông dân chuyển đổi hình thức canh tác từ mô hình sản xuất lúa đơn truyền thống sang thực hiện mô hình lúa thủy sản. 2. Kiến nghị 2.1. Cấp tỉnh Tỉnh cần phải có chế độ đãi ngộ nhân tài tìm và tạo ra một đội ngũ lao động có tri thức cần cù, sáng tạo, nghiêm chỉnh tác phong làm việc tốt là hết sức cần thiết. Có giải pháp hỗ trợ, can thiệp giá các nguyên liệu đầu vào chủ yếu và ở đầu ra như giá sàn. Đồng thời chống hiện tượng đầu cơ ép giá. Phối hợp với các viện, trung tâm khuyến nông thành lập các trại cây con giống tại địa phương để bà con thuận tiện hơn trong sản xuất. Cần xây dựng hệ thống thủy lợi đảm bảo, cung cấp nguồn nước đầy đủ, sử dụng con giống tốt, không lạm dụng hóa chất, chế phẩm xử lý môi trường. 2.2. Cấp huyện và xã Tuyên truyền phổ biến cho bà con về tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình. Nâng cao kỹ thuật canh tác của các nông hộ, tổ chức đào tạo, tập huấn cho nông dân về các biện pháp canh tác mới, khoa học kỹ thuật tiến bộ. Cán bộ nông nghiệp và khuyến nông huyện, xã nên thường xuyên cùng nông dân trao đổi để chọn những giống cây trồng có năng suất cao, kháng sâu bệnh, phát hiện và khuyến cáo kịp thời tình hình dịch hại, sâu bệnh cho nông dân, để hạn chế hơn nữa chi phí sản xuất, năng cao hiệu quả canh tác và hướng đến sự phát triển bền vững. 2.3. Đối với người dân Cần thay đổi quan niệm trong sản xuất, từ bỏ những quan điểm sản xuất lạc hậu, không hiệu quả, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 27 tích cực tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức do trung tâm khuyến nông tổ chức, tăng cường học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật. Áp dụng các phương pháp này vào hoạt động sản xuất của mình, trên cơ sở đó trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, đoàn kết, tự giác, có trách nhiệm trong việc phòng chống dịch bệnh, giữ sạch môi trường và nguồn nước. Nên chuyển sang mô hình canh tác 2 lúa 1 thủy sản thay thế mô hình lúa đơn truyền thống, làm được điều này vừa giúp hộ nông dân tăng thu nhập và về mặt xã hội làm giảm tác nhân gây ô nhiểm môi trường. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chi Cục Thống kê huyện Long Mỹ. Niên giám Thống Kê năm 2012. 2. Cục thống kê tỉnh Hậu Giang. Niêm giám thông kê năm 2012. 3. Trần Tất Đăng, 2013. Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình sản xuất lúa đơn và lúa - thủy sản tại huyện Long Mỹ, Hậu Giang, luận văn Cao học ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nha Trang. 4. Đinh Phi Hổ, 2012. Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển - Nông nghiệp, NXB Phương Đông. 5. Châu Thị Kim Lan, 2007. Phân tích các chỉ tiêu tài chính của mô hình lúa đơn và lúa cá ở xã Trường Xuân huyện Cờ Đỏ TP. Cần Thơ, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ. 6. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Thống kê ứng dụng trong kinh tế - xã hội, NXB Thống kê, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_tai_chinh_cua_mo_hinh_san_xuat_lua_don_va_l.pdf