Phát triển sản xuất chè theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

- Đối với các hộ dân: + Phải có ý kiến đề xuất kịp thời những vấn đề cần thiết đối với chính quyền các cấp, phải có nghĩa vụ và trách nhiệm sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật đã được cán bộ kỹ thuật khuyến nông hướng dẫn. + Nên vận dụng các phương pháp sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng khi nào có sâu bệnh xuất hiện để đảm bảo sức khỏe cho người lao động. + Nên tủ gốc cho chè vào mùa khô, vừa giữ ẩm cho chè vừa hạn chế cỏ dại, tiết kiệm được công lao động làm cỏ và có tác dụng cải tạo đất tốt, là cơ sở để tăng năng suất cây trồng và năng suất lao động

pdf6 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 25/03/2022 | Lượt xem: 83 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển sản xuất chè theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 39 PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CHÈ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Phạm Thị Thanh Nga*, Bùi Đình Hòa, Đặng Thị Bích Huệ, Vũ Thị Hiền Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT Cây chè là cây trồng chủ lực quyết định để phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là ở các tỉnh trung du, miền núi. Phát triển sản xuất chè theo hướng bền vững giữ một vai trò quan trọng, nằm trong tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững, và thực sự là kế sách tồn tại lâu dài, không thể thay thế. Cùng với cây lúa ở đồng bằng, cây chè có thế mạnh ở trung du và miền núi nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng. Trồng chè có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, rửa trôi. Chè là cây trồng phù hợp với đất đai, khí hậu vùng đồi núi. Phát triển chè sẽ thu hút được lượng lao động đáng kể, không những chỉ trong khâu sản xuất nguyên liệu mà cả khâu chế biến và tiêu thụ. Do vậy phát triển sản xuất chè ngoài ý nghĩa kinh tế, còn ổn định đời sống và định cư cho người dân. Từ khóa: Phát triển, sản xuất chè, bền vững, thành phố Thái Nguyên ĐẶT VẤN ĐỀ* Với diện tích 18.000 ha, đứng thứ 2 trong cả nước, cây chè từ lâu đã là cây trồng truyền thống của người dân tỉnh Thái Nguyên. Định hướng chung của thành phố trong những năm sắp tới là hướng tới phát triển ngành nông nghiệp của thành phố một cách bền vững cả về kinh tế và xã hội. Phát triển sản xuất chè trong ngành nông nghiệp cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Những năm gần đây, sản xuất chè của Thành phố cũng đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, xét theo quan điểm phát triển bền vững, sản xuất chè vẫn còn nhiều tồn tại. Do chưa có chiến lược phát triển ngành chè hợp lý, thiếu quy hoạch đồng bộ giữa phát triển vùng nguyên liệu và nhà máy chế biến nên giữa chế biến và sản xuất nguyên liệu chưa gắn kết chặt chẽ với nhau, nguyên liệu búp chè chưa đáp ứng tiêu chuẩn an toàn để chế biến ra chè chất lượng cao... Một số doanh nghiệp và người trồng chè chạy theo lợi nhuận trước mắt đã sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học bất tuân thủ nguyên tắc an toàn và vệ sinh thực phẩm. Thực tế này khiến cho sản phẩm chè kém chất lượng, gây tổn hại uy tín của ngành chè Thái Nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Đây là những vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải được nghiên * Tel: 0988 284024, Email: thanhnga1301@gmail.com cứu, nhận xét, đánh giá một cách xác thực nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu phát huy thế mạnh và xử lý hạn chế yếu kém để sản xuất chè theo hướng bền vững và nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất chè của vùng. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này tập trung vào 3 xã từ 3 vùng của thành phố đó là xã Tân Cương thuộc vùng trọng điểm có quy mô diện tích chè lớn. Xã Phúc Hà thuộc vùng có quy mô diện tích chè trung bình và xã Tích Lương đại diện cho các xã, phường có quy mô diện tích nhỏ. Mỗi xã chọn 30 hộ đại diện cho nhóm hộ giàu – khá, trung bình và nghèo. Sử dụng câu hỏi mở, thông qua phương pháp này trực tiếp tiếp cận các chủ hộ, các đối tượng có liên quan đến sản xuất chè, để hiểu biết được thực trạng, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình sản xuất. Từ đó có cái nhìn khách quan để có thể đưa ra những giải pháp, những định hướng phát triển sản xuất trong tương lai. Số liệu sau khi điều tra được tổng hợp với sự trợ giúp của phần mềm EXCEL. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Thực trạng sản xuất chè tại địa bàn nghiên cứu Thấy được thế mạnh của cây chè, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có tác dụng cải tạo môi trường sinh thái, đồng thời góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo công Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 40 ăn việc làm cho người dân các xã vùng núi. Trong những năm qua, thành phố Thái Nguyên đã theo sát chủ trương của tỉnh đề ra nhằm kích thích phát triển sản xuất chè, mở các lớp tập huấn để hướng dẫn người dân tiến hành sản xuất chè. Kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn, cây chè đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực, tăng lên đáng kể về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2009 diện tích chè của thành phố là 1.161 ha, đến năm 2011 tăng lên là 1.220 ha với sản lượng 14.670 tấn búp chè tươi. Tuy nhiên sản xuất chè ở thành phố hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại từ chất lượng sản phẩm đến quy trình tổ chức sản xuất nguyên liệu cũng như chế biến. Để thấy rõ thực trạng tình hình sản xuất chè tại Thành phố Thái Nguyên tôi đi sâu nghiên cứu một số nội dung sau: Nguồn nhân lực của nhóm hộ điều tra Độ tuổi bình quân của chủ hộ ở 3 xã là 41,66 tuổi. Hầu hết ở độ tuổi này, các chủ hộ điều tra đã ổn định về cơ sở vật chất, có vốn sống và có một số kinh nghiệm nhất định. Các chủ hộ điều tra đã có sự am hiểu trong lĩnh vực trồng chè. Do vậy đây là một thuận lợi đáng kể, góp phần thúc đẩy việc kinh doanh và sản xuất chè trong mỗi hộ. Bên cạnh yếu tố độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ nhìn chung còn thấp, chỉ từ cấp I đến cấp III. Trình độ văn hóa có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất, chịu trách nhiệm sản xuất và lựa chọn hình thức sản xuất trong mỗi gia đình. Những chủ hộ có trình độ học vấn cao hơn, nhận thức cao hơn, do vậy có khả năng tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới tốt hơn cũng như khả năng quản lý và tìm ra các phương án trồng chè tốt hơn và có hiệu quả hơn. Như vậy, trình độ văn hóa sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả sản xuất chè của mỗi hộ. Phương tiện sản xuất Trong những năm trước đây, phần lớn các hộ đều sử dụng máy sao quay tay. Nhưng ngày nay, khi có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, máy sao cải tiến và máy vò chè mini đã được đưa vào sử dụng, giúp các hộ nông dân giảm được công lao động và tăng năng suất sản xuất chè. Điều này có ảnh hưởng tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong nông hộ. Chi phí sản xuất của hộ Kết quả điều tra cho thấy, loại phân bón các hộ gia đình sử dụng chủ yếu là phân đạm vì loại phân này kích thích búp, lá chè sinh trưởng mạnh. Sau mỗi lứa thu hoạch, các hộ sẽ tiến hành bón đạm cho chè. Lượng phân kali bón cho cây chè là rất thấp, vì loại phân này nếu bón với lượng lớn sẽ làm cho cây chè bị xót, chậm phát triển. Ngoài các loại phân trên, các hộ gia đình còn chăn nuôi để lấy phân ủ bón cho chè. Thuốc BVTV cũng là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong trồng trọt. Thực tế khi nghiên cứu ở 3 xã: Tân Cương, Phúc Hà và Tích Lương thì hiện nay hầu hết các nông hộ vẫn khá lạm dụng thuốc BVTV trong quá trình trồng chè. Đây chính là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người, ảnh hưởng đến tính bền vững trong quá trình phát triển sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên. Bảng 1: Tình hình nhân lực của hộ Chỉ tiêu ĐVT Địa điểm Bình quân Xã Tân Cương Xã Phúc Hà Xã Tích Lương 1. Tuổi bình quân chủ hộ Năm 43,07 38,6 43,3 41,66 2. Trình độ học vấn chủ hộ Lớp 10,4 10,6 10,7 10,59 3. Bình quân nhân khẩu của hộ Người 4,83 4,2 4,6 4,54 4. Bình quân lao động của hộ LĐ 2,6 2,57 2,43 2,53 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2012 của tác giả) Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 41 Bảng 2: Chi phí sản xuất chè của hộ ĐVT: 1.000đ/lứa Chỉ tiêu Địa điểm X. Tân Cương X. Phúc Hà X. Tích Lương Tổng chi phí 3.744,971 2.693,370 1.696,737 I. Chi phí trung gian 2.741,136 1.949,700 1.232,947 1. Chi phí phân đạm 1.079,245 715,560 465,840 2. Chi phí phân lân 533,368 351,750 200,570 3. Chi phí phân kali 128,483 102,510 65,347 4. Chi phí thuốc BVTV 444,480 382,905 245,860 5. Chất đốt 555,560 396,975 255,330 II. Giá trị lao động thuê ngoài 875,337 653,350 401,140 III. Khấu hao 128,498 90,320 62,650 (Nguồn: Số liệu điều tra 2012 của tác giả) Kết quả sản xuất Bảng 3: Kết quả sản xuất chè của hộ Chỉ tiêu ĐVT Địa điểm Xã Tân Cương Xã Phúc Hà Xã Tích Lương 1. Diện tích Sào 13,89 10,05 6,97 2. Tổng giá trị sản xuất 1.000đ 11.665,422 7.940,400 5.214,447 3. Chi phí trung gian 1.000đ 2.741,136 1.949,700 1.232,947 4. Giá trị gia tăng 1.000đ 8.924,286 5.990,700 3.981,500 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2012 của tác giả) Đánh giá ảnh hưởng của sản xuất chè đến hiệu quả xã hội và môi trường Những ảnh hưởng của việc phát triển sản xuất chè đối với xã hội Phát triển sản xuất chè đã góp phần đẩy mạnh phong trào phủ xanh đồi trọc, từ đó tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng thu nhập đáng kể cho người lao động. Đồng thời cây chè cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ phát triển. Tuy nhiên, trong thời gian qua, cây chè bị ảnh hưởng không tốt từ thông tin chè bẩn, gây hoang mang cho người dân, nhiều hộ bi quan, không đầu tư chăm sóc và chuyển sang làm việc khác. Mặt khác, do có tính chất mùa vụ, sản lượng thu hoạch lớn nên đã tạo ra một sức ép về nguồn nhân công tại địa phương. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất chè, việc sử dụng thuốc BVTV, thuốc trừ sâu cũng đã có những tác động tiêu cực đến sức khỏe của người dân. Những ảnh hưởng của việc phát triển sản xuất chè đối với môi trường sinh thái - Quản lý dinh dưỡng đất: Việc bón phân với khối lượng lớn, bón nhiều lần trong năm và kéo dài nhiều năm đã khai thác tối đa khả năng sản xuất của đất, ảnh hưởng đến chất lượng đất. Cần có những nghiên cứu và dự báo về sự thay đổi tính chất của đất sau thời gian canh tác lâu dài.[1] - Phòng chống xói mòn: Hầu hết các gia đình đều thiếu sức lao động, vì thế các biện pháp chống xói mòn nhìn chung không đòi hỏi đầu tư lao động lớn. Chè được trồng theo đường đồng mức. Mật độ chè dày và độ cao cây chè thấp để cây chè nhanh khép tán. Đất giữa các hàng chè được che phủ bằng guột để giảm xói mòn và cỏ mọc. Một số hộ kinh tế kém không chú trọng đến biện pháp ủ gốc khiến cho độ xói mòn của các nương chè càng cao. Đây là một nguyên nhân dẫn tới năng suất, sản lượng và chất lượng chè của những gia đình này thấp. - Những ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Qua điều tra thực tế, các hộ đều phun thuốc đại trà khi có sâu hại. Khái niệm phun phòng, phun định kỳ đã ăn sâu vào Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 42 người dân. Cứ thấy sâu hại xuất hiện là phun đại trà cả vườn chè để phòng trừ, vừa tốn kém lại vừa độc hại. Phương tiện bảo hộ cho người đi phun thuốc còn thô sơ, đơn giản như quần áo vải, găng tay, khẩu trang, mũ, giầy. Nhiều người không sử dụng phương tiện bảo hộ đúng theo yêu cầu lao động do họ không cảm thấy thoải mái, thuận tiện khi sử dụng, một phần là do ý thức chủ quan của người dân. Nhiều hộ, vườn chè ở sát ngay cạnh nhà mà không có vườn tạp bao quanh hoặc diện tích vườn tạp không đáng kể để cách ly giữa nhà và vườn chè. Vào những ngày phun thuốc sâu, thuốc bay vào trong nhà, giếng nước, quần áo làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là những gia đình có người già và trẻ nhỏ. Nhận thức về sự độc hại của thuốc BVTV của người trồng chè vẫn còn đơn giản, chủ yếu là qua mùi của nó chứ chưa chú ý đến các hoạt chất của chúng còn tồn lưu lại trên chè, trong không khí, nước và trong đất làm ảnh hưởng đến sức khỏe người trồng chè cũng như người sử dụng. Nguyên nhân - Tùy tiện trong việc sử dụng thuốc BVTV: Trong quá trình sản xuất, người dân vì lợi ích trước mắt, trách nhiệm cộng đồng thấp nên đã tùy tiện trong việc sử dụng thuốc BVTV. Công tác quản lý Nhà nước về chất lượng các loại vật tư đầu vào chưa được các ngành chức năng quan tâm kiểm soát chặt chẽ. - Sự yếu kém của nguồn nhân lực: Do sự yếu kém của nguồn lao động. Sự hạn chế về trình độ dân trí, tập quán sản xuất lạc hậu, lao động hầu hết chưa được đào tạo, không có thói quen tích lũy, thiếu sự hiểu biết về kiến thức và kỹ năng kinh doanh. - Thiếu vốn sản xuất: Do quy mô sản xuất nhỏ bé, khả năng tái đầu tư thấp trong khi đó khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng khó khăn, đầu tư nhà nước chưa đủ mức đã làm hạn chế khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến để nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Việc triển khai các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất thiếu đồng bộ và kém hiệu quả: Tổ chức, quản lý Nhà nước còn nhiều tồn tại, đó là khả năng quy hoạch còn yếu kém, chưa định hướng được sản xuất, quy hoạch sản xuất chưa gắn với quy hoạch mạng lưới thu mua, với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, liên kết kinh tế giữa các chủ thể còn lỏng lẻo. Thiếu sự liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học với các chủ thể sản xuất kinh doanh, đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất chè trên địa bàn thành phố Thái Nguyên theo hướng bền vững trong thời gian tới Giải pháp về công tác khuyến nông - Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực ngành sản xuất chè. - Tăng cường hợp tác với các cơ quan nghiên cứu để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong các khâu sản xuất nguyên liệu, chế biến, bảo quản sản phẩm chè. - Hỗ trợ kinh phí cho việc xây dựng mô hình, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người sản xuất - Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực cho ngành sản xuất chè Giải pháp về khoa học công nghệ - Ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực sản xuất nguyên liệu như về giống, canh tác, bảo vệ thực vật. - Đổi mới thiết bị và công nghệ chế biến chè theo hướng sử dụng công nghệ cao. Thu hút vốn đầu tư - Nhà nước đầu tư kinh phí cho điều tra cơ bản, xác định các vùng đủ điều kiện sản xuất an toàn tập trung, lập các dự án đầu tư phát triển chè an toàn. - Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng như giao thông, kênh mương tưới cấp 1, cấp 2, trạm bơm, hệ thống điện hạ thế cho vùng sản xuất chè an toàn theo dự án được phê duyệt. - Hỗ trợ 100% kinh phí cho việc cấp chứng nhận lần đầu và hỗ trợ 50% kinh phí cho việc gia hạn cấp chứng nhận sản xuất, chế biến theo tiêu chuẩn VietGAP. Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 43 Giải pháp về chế biến - Rà soát, đánh giá lại khả năng cung cấp nguyên liệu của các vùng sản xuất cho cơ sở chế biến, định hướng thu hút đầu tư, cải tạo các cơ sở chế biến chè hiện có để hình thành các nhà máy hiện đại, có công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. - Tăng cường kiểm tra các cơ sở chế biến theo từng quy mô, hướng dẫn việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Khuyến khích các cơ sở sản xuất, chế biến tự công bố chất lượng sản phẩm, xử lý nghiêm minh mọi trường hợp sản xuất, chế biến chè không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tăng cường quản lý chất lượng trong bối cảnh hội nhập thông qua việc áp dụng quy trình quản lý nông nghiệp tốt cho chè (Global GAP, Asian GAP, Việt GAP) Thành phố Thái Nguyên cần áp dụng chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành chè trong bối cảnh hội nhập kinh tế và tính cạnh tranh cao. Ưu tiên trước nhất là nâng cao chất lượng. Thứ hai, cần tiến hành nghiên cứu thị trường để xác định được thị trường và khách hàng tiềm năng. Cuối cùng, cần khuyến khích và giúp thực hiện việc đăng ký nhãn hiệu sản phẩm. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận Tình hình sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên những năm qua đã đạt được bước tiến đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lượng chè. Đẩy mạnh sản xuất chè và nâng cao hiệu quả sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên là hướng đi đúng đắn để khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của mình nhằm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Đồng thời trồng chè còn có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, góp phần tích cực vào sự hình thành tồn tại và phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững. Sản xuất chè đã giải quyết được nhiều công ăn việc làm, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của hộ nông dân. Tăng cơ hội tiếp cận các vấn đề xã hội như: Tiếp cận với khoa học công nghệ, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đầu tư nuôi dạy con cái học tập... nâng cao năng lực sản xuất, quản lý đời sống, từng bước thoát khỏi vòng luẩn quẩn “Thu nhập thấp – tích lũy ít – đầu tư ít – năng suất thấp – thu nhập thấp”. Kiến nghị - Đảng và Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tạo điều kiện giúp nhân dân miền núi đầu tư phát triển sản xuất, chính sách đào tạo nguồn nhân lực theo vùng miền, giúp nhân dân cải thiện đời sống, từng bước nâng cao khả năng hội nhập nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới. - Tỉnh cần có những chính sách cụ thể hơn nữa nhằm trợ giúp cho cây chè phát triển, thực sự là cây mũi nhọn của tỉnh: + Có những chính sách đầu tư vốn cho thâm canh, cải tạo chè; + Có chính sách cải tạo giống chè để có được một cơ cấu giống hợp lý; + Giao cho ngành nông nghiệp là cơ quan thường trực có sự tham gia của các ngành có liên quan để kiểm tra, đôn đốc nhằm phát triển sản xuất chè của thành phố. + Thực hiện các chương trình chứng nhận đối với mặt hàng chè + Cần nghiên cứu kỹ hơn để xác định cơ chế phù hợp cho tổ chức tập thể trong ngành chè. + Cần nghiên cứu kỹ hơn về các chiến lược marketing cần thiết nhằm đa dạng hoá thị trường và sản phẩm. + Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mô hình trồng và chế biến chè sạch, khuyến cáo người dân áp dụng các quy trình sản xuất GAP, IPB, các quy trình công nghệ thân thiện với môi trường vào sản xuất chè. - Đối với các hộ dân: + Phải có ý kiến đề xuất kịp thời những vấn đề cần thiết đối với chính quyền các cấp, phải có nghĩa vụ và trách nhiệm sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật đã được cán bộ kỹ thuật khuyến nông hướng dẫn. Phạm Thị Thanh Nga và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 98(10): 39 - 44 44 + Nên vận dụng các phương pháp sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng khi nào có sâu bệnh xuất hiện để đảm bảo sức khỏe cho người lao động. + Nên tủ gốc cho chè vào mùa khô, vừa giữ ẩm cho chè vừa hạn chế cỏ dại, tiết kiệm được công lao động làm cỏ và có tác dụng cải tạo đất tốt, là cơ sở để tăng năng suất cây trồng và năng suất lao động. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Khoa Khoa học tự nhiên và xã hội (2007), “Những vấn đề môi trường và phát triển bền vững vùng Đông Bắc”. [2]. Phòng thống kê thành phố Thái Nguyên (2009- 2011), “Báo cáo thường niên 2008, 2009, 2010”, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên. [3]. UBND tỉnh Thái Nguyên (2011), “Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012”. SUMMARY SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF GREEN TEA PRODUCTION IN THAI NGUYEN CITY Pham Thi Thanh Nga*, Bui Dinh Hoa, Dang Thi Bich Hue, Vu Thi Hien College of Agriculture and Forestry - TNU Green tea is the staple crop decides to socio – economic development, especially in the midlands and mountainous provinces. Sustainable development of green tea production keeps a critical role in the overall sustainable development of agriculture, and indeed is long-term existent strategy which cannot be replaced. Like rice in the plain area, green tea is the most dominant crop in midlands and mountainous areas in general and in Thai Nguyen in particular. Raising green tea plays an important part in bare area greening, erosion and outwash reduction. Green tea is suitable with moutainous land and climate. Green tea development will attract a significant number of labors, not only in production but also in processing stage and consumption. Therefore, the development of tea production brings economical value and stabilizes people’s lives. Key words: Development, green tea production, sustainable,Thai Nguyen city. Ngày nhận bài: 17/9/2012, ngày phản biện: 24/9/2012, ngày duyệt đăng:12/11/2012 * Tel: 0988 284024, Email: thanhnga1301@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphat_trien_san_xuat_che_theo_huong_ben_vung_tren_dia_ban_tha.pdf