Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa sau thời niên thiếu

Two new types of lyric characters in Tran Dang Khoa’s poems has been presented clearly by the changes of the composing situations after his young days. These are the lyric character of sodiers and that of deeply thoughts of innermost feelings. Both of these two types of characters had the basis of composition before, but it only has its own face until the later period. This type of lyric character has also presented more and more in Vietnamese poetry since 1975. It helps us relize the changes in composing inspiration, as well as in the way Tran Dang Khoa to see and to think in the new period of composition. Look at this, we can see several politic issues in Vietnamese poetry

pdf7 trang | Chia sẻ: yendt2356 | Ngày: 03/12/2020 | Lượt xem: 86 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa sau thời niên thiếu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 18 NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA SAU THỜI NIÊN THIẾU Lê Hồng My (Trường ĐH Sư phạm – ĐH Thái Nguyên) Vào những năm 1968 - 1970, hiện tượng thơ Trần Đăng Khoa đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của những người sáng tác, phê bình thơ và những người yêu thơ. Tên tuổi Trần Đăng Khoa - “Em bé thi sĩ của Việt Nam” - đã được giới thiệu rộng rãi trên báo chí trong và ngoài nước. Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ thời niên thiếu của Trần Đăng Khoa đã được khẳng định qua bài giới thiệu: “Thơ em Khoa” của nhà thơ Xuân Diệu (1973); bài báo khoa học: “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời kỳ niên thiếu” của nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền (2003) và qua nhiều tài liệu nghiên cứu khác. Tuy nhiên, hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ sau thời niên thiếu của Trần Đăng Khoa lại là vấn đề mới chưa được nghiên cứu. Đi sâu tìm hiểu thơ Trần Đăng Khoa sau thời niên thiếu, chúng tôi nhận thấy: sự đổi thay của hoàn cảnh và cảm hứng sáng tác của tác giả đã làm hiện diện rõ hai “môtip” nhân vật trữ tình mới trong thơ anh: nhân vật trữ tình - người lính và nhân vật trữ tình suy tư, chiêm nghiệm những nỗi niềm nhân thế. Cả hai dạng nhân vật trữ tình này đều có tiền đề từ trước nhưng đến chặng đường sáng tác sau mới hiện lên rõ nét. 1. Người lính nơi biên cương và biển khơi Anh bộ đội, chú bộ đội là hình ảnh sáng đẹp trong thơ thời niên thiếu của Trần Đăng Khoa. Các chú bộ đội trong thơ bé Khoa thật hiền, thật vui, lại cực kỳ dũng cảm, mang vẻ đẹp huyền thoại gắn liền với những chiến công vang dội, những kỳ tích lẫy lừng. Với tâm nguyện “Trận đánh cuối cùng không thể thiếu tên tôi”, với tình yêu Tổ quốc và lẽ sống thiêng liêng: “Cao hơn trang thơ là cả cuộc đời, là Tổ quốc một còn, một mất” (Thư thơ), Trần Đăng Khoa bước vào cuộc đời quân ngũ khi cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam bước vào trận cuối. Mang “Màu áo lính với niềm tâm sự lính”, cảm xúc về người lính càng dồi dào, hình ảnh người lính càng đậm nét trong thơ Trần Đăng Khoa. Người lính không phải là nhân vật trữ tình duy nhất, song là hình tượng nhân vật trữ tình nổi bật nhất trong thơ sau thời niên thiếu của anh. Anh bộ đội từ vị trí khách thể thẩm mĩ đã chuyển sang vai trò của chủ thể trữ tình, từ “Người em yêu thương” đã trở thành người sống “Cuộc đời lính”, “Hát niềm tâm sự lính” trong thơ Trần Đăng Khoa. Bước vào quân ngũ, Trần Đăng Khoa trực tiếp nếm trải và thấu hiểu nỗi gian khổ của cuộc đời người lính. Hiện lên rõ nhất, sâu đậm nhất và cũng ám ảnh trong thơ Trần Đăng Khoa là nỗi gian khổ của người lính biển. Các anh hàng ngày phải đối mặt với bão tố, cá mập, chim ác và kẻ thù để bảo toàn sinh mạng và bảo vệ đảo. Cuộc sống nơi đầu sóng ngọn gió của các anh có những khó khăn không giống như những chiến trường khác. Doanh trại của lính đảo giữa đại dương mênh mông là: “Lều bạt chông chênh giữa nước giữa trời/ Đến một cái gai cũng không sống được” (Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài). Sống giữa bốn bề sóng nước mà vẫn thiếu nước, thèm nước ngọt, các anh phải kiên nhẵn đợi từng giọt mưa rơi. Nỗi ao ước của những người lính biển thật giản dị và cảm động: “Chúng tôi không cạo đầu, để tóc lên như cỏ/ Rồi khao nhau/ Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt/ Ôi ước gì được thấy mưa rơi” (Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn). Có những nỗi gian khổ các anh đã trải qua mà trong điều kiện sống ở đất liền khó có thể hình dung nổi: “Đảo vẫn chìm dưới ba mét nước/ Măng khô hết rồi. Chỉ 51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 19 thăm thẳm biển xanh/ Lưới chẳng có mà cá vờn trước mặt/ Biết tìm đâu ra một bát canh” (Ghi chép ở đảo Chìm). Ở đảo, mỗi năm các anh phải đối mặt với hàng trăm cơn bão. Đi ngang qua bão, mỗi người lính đảo giống như “Cây bão táp” giữa phong ba. Khi đất nước bình yên, người lính chiến trở thành “Lính thời bình”, nhưng nỗi gian khổ, thử thách vẫn đồng hành cùng cuộc đời người lính: “Đất nước không bóng giặc/ Tưởng về gần mà xa/ Vẫn gian nan làm bạn/ Vẫn gió sương làm nhà” (Lính thời bình). Và trong gian khổ, các anh đã sống trọn vẹn, sâu sắc cuộc đời người lính. Lắng nghe tiếng nói trữ tình của người lính trong thơ Trần Đăng Khoa, người đọc càng thấu hiểu sự hi sinh lớn lao của những người chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở nơi biên cương và hải đảo xa xôi. Đồng thời, càng thêm cảm phục và trân trọng các anh, những con người trong gian khổ vẫn tìm thấy “Niềm sung sướng lính”, vẫn hát “Niềm tâm sự lính”. Những “Niềm tâm sự lính” được thể hiện trong thơ Trần Đăng Khoa đã mở ra cả khoảng sáng tâm hồn phong phú, cao đẹp của những người lính trẻ. Trước hết là tình yêu Tổ quốc, tình yêu lý tưởng. Các anh rất tự hào về trọng trách mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Từ biên giới Tây Nam đến quần đảo Trường Sa, dù ở mặt trận nào, làm nhiệm vụ gì, các anh cũng xác định rõ trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc. Người lính trên mặt trận biên giới Tây Nam trước giờ ra trận nghĩ rằng, nếu có ngã xuống trong trận chiến đấu ngày mai anh cũng không hề hối tiếc bởi quê hương sẽ được sống thanh bình, “Tiếng bước chân bầy trẻ nhỏ” và “Tiếng rúc rích cười” sẽ rộn mãi buổi hoàng hôn (Thư gửi mẹ). Anh lính hải quân tạm biệt người yêu, tạm biệt thành phố rực rỡ ánh đèn đến nơi “Trời khuya. Đảo vắng” vì một tình yêu lớn lao hơn tình yêu đôi lứa: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng” (Thơ tình người lính biển). Người lính đảo Nam Yết hiên ngang trên chòi quan sát giữa bốn bề bão tố vì anh biết, đảo là giọt máu thiêng của Tổ quốc: “Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió/ Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này” (Lính đảo hát tình ca trên đảo). Để bảo vệ Tổ quốc, quê hương, các anh sẵn sàng chấp nhận hi sinh những khát vọng cá nhân chính đáng và thiết thực nhất: “Hôm nay em đến giảng đường/ Anh hằng khao khát/Thế hệ anh, mấy lớp người đi cứu nước/ Có bao anh chưa tới được lớp mười/ Có bao anh nằm lại dọc đường rồi/ Những con suối không tên, những ngọn đồi không tuổi” (Em vào đại học). Và trong tâm hồn người lính luôn dấy lên niềm tự hào, kiêu hãnh về cả một thế hệ có lý tưởng sống đẹp, xứng đáng với Tổ quốc. Anh nhìn vào đồng đội, soi vào lòng mình, càng thấy vững tin vào lý tưởng và con đường đã chọn: “Nếu anh lại trẻ trung mười tám tuổi/ Và Tổ quốc lại một lần lên tiếng gọi anh đi/ Anh lại bằng lòng vượt mọi hiểm nguy/ Với Độc lập, Tự do cho tất thảy mọi người/ Thế hệ anh đã sống một thời/ Xứng đáng để thế hệ sau kiêu hãnh” (Về làng). Trần Đăng Khoa đã viết tiếp bài ca người lính với tình yêu Tổ quốc, tình yêu lý tưởng, tình yêu đồng đội sâu sắc thiêng liêng. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ anh tỏa sáng vẻ đẹp lý tưởng của những người lính trẻ trong giai đoạn lịch sử đất nước sang trang. Tìm hiểu “Niềm tâm sự lính” trong thơ Trần Đăng Khoa, không thể không nói tới tình yêu cuộc đời, tình yêu đôi lứa. Những bài thơ về tình đời, tình yêu của người lính làm cho hình tượng nhân vật trữ tình người lính trong thơ anh hiện lên rất “Đời”, rất “Thực” và cũng rất lãng mạn trẻ trung: “Chúng tôi rất đông/ Mười tám đôi mươi/ Sâu sắc và vô tư như bầu trời/ Tỉnh táo và đắm say như bầu trời/ Màu áo lính 51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 20 hát niềm tâm sự lính” (Lính đảo Chìm). Và từ những lồng ngực trẻ đó, lời ca yêu đời đã bay lên, trong thăm thẳm rừng đêm, trong mịt mùng biển cả: “Nào hát lên cho mây nước biết/ Rằng chúng ta là những con người”; “Nào hát lên cho đêm tối biết/ Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây” (Lính đảo hát tình ca trên đảo). Trải qua gian khổ, đối mặt với cái chết, người lính càng hiểu rõ giá trị của sự sống, của tuổi trẻ, càng thêm trân trọng sự sống - sự sống trong muôn nỗi buồn vui vốn có: “Có điều gì hồi hộp thế rừng ơi/ Hãy nói giùm ta, rằng ta rất yêu người/ Dù có người từng làm ta đau khổ” (Ngày mai ra trận). Vì thế mà một vầng trăng giữa rừng biên giới, một lối ngõ nhỏ chốn quê xa..., tất cả đều mang lại cho người lính tình đời, tình người tha thiết. Người lính nơi đảo xa “Gió biển mặn bạc bao màu áo”, “Cơn sốt rét rừng vẫn còn run trong da”, thèm từng bát canh rau, từng làn mưa bụi... vẫn yêu đảo, yêu biển vô cùng. Xa nhà, xa quê, các anh cùng: “Chia nhau tin vui”, “Chia nhau nỗi nhớ nhà”. Không có nước ngọt, không có rau xanh, các anh vẫn “Hát vỗ nhịp vào báng súng”. Rừng sâu, đảo xa với trở thành những mảnh đất “hoá tâm hồn” của các anh: “Ôi đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu/ Dẫu không có mưa chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo/ Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão/ Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong đập trái tim người” (Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn). Cuộc sống dẫu muôn vàn gian khổ, nhưng những người lính đảo vẫn hát tình ca. Không có phông màn bởi “Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa”. Không có khán giả vì: “Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc/ Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu”, nhưng điệu tình ca “Cứ ngân lên chót vót”. Cảnh “Sư cụ hát tình ca” trong bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo là cảnh tượng chưa từng có trong thơ. Đây là “bức tranh” độc đáo, cảm động và xiết bao tự hào về tinh thần lạc quan yêu đời trẻ trung của người lính được Trần Đăng Khoa thể hiện bằng cả trái tim mình. Đến với thơ Trần Đăng Khoa, không ít người đã: “... lắng sóng từ hai phía” cùng trái tim người lính biển: “Biển ồn ào, em lại dịu êm/ Anh như thân tàu lắng sóng từ hai phía/ Biển một bên và em một bên...” (Thơ tình người lính biển). Hình ảnh: “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng/ Biển một bên và em một bên” đã kết đọng vẻ đẹp tình yêu trong tâm hồn người lính: hòa hợp tình cảm và nhiệm vụ, tình yêu biển và tình yêu em, tình yêu lứa đôi và tình yêu đất nước. Nhân vật trữ tình - người lính trong thơ Trần Đăng Khoa đã tự hát về tình yêu của “anh”, một tình yêu thủy chung, bền chặt, vượt qua mọi thử thách: “Vòm trời kia có thể sẽ không em/ Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ/ Cho dù thế thì anh vẫn nhớ/ Biển một bên và em một bên” (Thơ tình người lính biển). Nhân vật trữ tình - người lính trong thơ Trần Đăng Khoa phản ánh toàn diện, chân thực cuộc sống và tâm hồn người chiến sĩ ở thời kì sau những ngày chống Mĩ. Tâm hồn người lính đã được soi sáng từ nhiều góc độ, nhiều cung bậc: trong cuộc chiến, phút bình yên; khi ồn ào, lúc trầm lắng... Từ đó, người ta nhận ra những tâm hồn vô cùng thuần khiết, trong sáng nhưng không hề bằng phẳng đơn điệu; họ vừa thực tế vừa lãng mạn, trẻ trung hồn nhiên trong cuộc sống hàng ngày; vừa rất chín chắn, sâu sắc trong tình cảm, suy nghĩ. Đó là lớp thanh niên có lý tưởng cao đẹp, tự hào về Tổ quốc, về trọng trách được giao phó; dù ở nơi biên cương hay hải đảo xa xôi, các anh đều sống lạc quan, yêu đời, yêu tuổi trẻ. Trần Đăng Khoa đã đóng góp vào thơ Việt Nam bức chân dung sáng đẹp về người lính; góp phần làm phong phú thêm nguồn cảm hứng thơ dào dạt xuôi chảy suốt hơn nửa thế kỉ thơ Việt Nam. 51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 21 2. Con người suy tư những nỗi niềm nhân thế Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa thời thơ ấu là cậu bé cả nghĩ. Em nghĩ về nỗi vất vả mẹ đã trải qua: “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Đọng trong đời mẹ bây giờ chưa tan” (Mẹ ốm); nghĩ về quê hương: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Biết bao mưa nắng mà thành quê hương” (Khúc hát người anh hùng). Đúng là: “Thơ Khoa hồn nhiên đấy mà vẫn đầy trầm tư khi chạm vào nỗi đau nhân thế” (Trần Đăng Xuyền). Trong hành trình cuộc đời, Trần Đăng Khoa đã đi nhiều nơi, đến với nhiều vùng đất khác nhau. Sau những ngày lên mặt trận biên giới Tây Nam, ra đảo Trường Sa, anh sang học tập tại nước Nga và sau này còn đi xa hơn nữa. Có điều kiện đi nhiều, Trần Đăng Khoa đã trải nghiệm và chứng kiến bao nỗi thăng trầm nhân thế: vinh quang, thất bại, hạnh phúc, khổ đau... Và thơ anh sau thời niên thiếu cũng xuất hiện ngày càng đậm nét motip nhân vật trữ tình suy tư, chiêm nghiệm những nỗi niềm nhân thế, về nỗi buồn vui đắng ngọt của cuộc đời. Thơ Trần Đăng Khoa có hình ảnh người lính trẻ đa tình, lãng mạn. Song, bên cạnh đó, còn có hình ảnh chàng trai thất tình, thất vọng. Trong tình yêu, có khi người ta phải chịu âm thầm đau khổ vì một “mối tình câm” - lời yêu không thể ngỏ. Cũng bị giăng mắc trong một mối tình vô vọng như thế, người con trai trong bài thơ Gửi em ở Ninh Bình mang nỗi buồn thấm thía: “Em vẫn lúng liếng hát/ Về phương trời nào xa xôi/ Đâu biết ta buồn như đá/ Đâu biết đá buồn như người”. Nhưng cũng có người tìm thấy “bạn vàng” rồi mà tình duyên vẫn trắc trở. Mang tâm trạng “Anh đến tìm hoa thì hoa kia đã nở”, chàng trai trong bài thơ Hoa xương rồng nở cố nén nỗi buồn sâu kín. Biết rằng tất cả đã quá muộn màng mà không cách nào làm nguôi ngoai nỗi nhớ, không nỡ trách cứ, chẳng thể thở than. Tất cả chỉ là do duyên phận. Có lẽ, đó cũng là một trong những bi kịch muôn đời của tình yêu lứa đôi. “Vị đắng” tình yêu làm tê buốt trái tim “anh” trong bài thơ Về làng lại do một nguyên nhân khác: Chiến tranh. Có người lính từ mặt trận trở về, cùng nỗi đau thương tật là nỗi buồn về tình cảm riêng tư: “Anh lại về làng quê ta đây em/ Chiếc gậy tre đi trước một bước.../ ... Những trận đánh chỉ còn là kỉ niệm/ Cỏ chiến hào giờ chắc đã lên tươi/ Người yêu anh đi lấy chồng rồi/ Bế con người đến đón anh dưới bóng trúc/Anh nghe tiếng nàng cười và nàng khóc...” (Về làng). Tiếng cười và giọt nước mắt của người yêu xưa vẫn thấm vào anh nỗi xót xa; dù người lính đã cố nén lòng để vượt qua bi kịch chiến tranh bằng nghị lực vốn có và sự trải nghiệm cuộc đời. Điều đáng lưu ý là: trong thơ Trần Đăng Khoa, tâm trạng của nhân vật trữ tình gặp phải bi kịch tình yêu do hoàn cảnh chiến tranh không phải bao giờ cũng trĩu buồn. Nỗi buồn của anh được san sẻ bởi tấm lòng của Mẹ, bởi kỉ niệm về Em (Hoa xương rồng nở). Nghị lực và tình quê đã giúp anh đứng vững và bước tiếp trên đường đời (Về làng). Vì thế, một số bài thơ của Trần Đăng Khoa tuy có vị đắng tình yêu nhưng vẫn hướng người ta tới trái ngọt của đời. Nỗi niềm suy tư của nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa còn hướng tới số phận con người trong những mối quan hệ phổ quát, muôn đời. Đứng trước những đền đài, di tích văn hóa hoặc nghĩa trang, bia mộ... nhân vật trữ tình hay suy tư chiêm nghiệm về số phận mỏng manh của con người trước Tạo hóa và những mối quan hệ trong cõi đời, cõi người mang màu sắc triết học đã từng ám ảnh bao nhiêu thế hệ thi nhân. Trước chùa Giải oan, Ở nghĩa trang Văn Điển, Qua Bôrôđinô, 51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 22 Matxcơva - Mùa đông 1990, Không đề, Qua Xuzđan, Chiều Riazan, Với bạn, Ninh Bình, Đỉnh núi là những bài thơ thấm đẫm nỗi niềm nhân thế, tâm trạng nhân vật trữ tình chất chứa suy tư. Trước tượng đá mang hình Mỵ Châu trong khu di tích thành Cổ Loa, “Anh” suy tư về bi kịch tình yêu đôi lứa và bi kịch trong lịch sử đất nước: “Nhớ vận nước có một thời chìm nổi/ Bắt đầu từ một tình yêu”; “Có những lỗi lầm phải trả bằng cả một kiếp người/ Nhưng lỗi lầm em phải trả bằng máu của toàn dân tộc/ Máu vẫn thắm qua từng trang tập đọc/ Vó ngựa Triệu Đà còn đau đến hôm nay...” (Trước đá Mỵ Châu). Khi đến chùa Giải Oan, “Tôi” day dứt bởi sự chiêm nghiệm: “Có bao nỗi oan mà đời không giải nổi/ Nên ngôi chùa còn mãi đến hôm nay/ Biết kêu ai? Tiếng kêu quá nhỏ/ Trời thì cao mà đất thì dày” (Trước chùa Giải Oan). Còn khi đứng trước nghĩa trang Văn Điển, “Ta” thấm thía đến tận cùng sự ngắn ngủi của đời người: “Cái chết vẫn rình ta ở khắp mọi nơi, sau từng ngưỡng cửa/ Cua đường hẹp, chiều mưa, vài sải nước gần bờ/ Ta chả là gì giữa bốn bề bất trắc/ Chỉ tích tắc khôn lường ta đã hóa người xưa.../... Trước thiên nhiên, con người như khách trọ/ Như ảo ảnh chập chờn, thoáng đến thoáng lìa xa/ Chúng ta sống bên nhau, dẫu năm này tháng khác/ Thì cũng chỉ là một thoáng giữa sân ga” (Ở nghĩa trang Văn Điển). Trước những hàng bia đá câm lặng, anh cảm nhận rõ quy luật vừa phũ phàng cay nghiệt vừa công bằng độ lượng của tạo hóa: “Người hạnh phúc và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này/ Đều dài rộng như nhau vuông cỏ biếc/ Đều ấm lạnh như nhau trong cơn gió heo may...”. Bài thơ có sự tiếp nối mạch cảm xúc từ Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đến Thăm mả cũ bên đường của Tản Đà và có thêm chất triết luận nên không chỉ tác động vào tình cảm mà còn khơi sâu vào nỗi niềm suy tư của người đọc. Qua Bôrôđinô, nơi Napônêông đã đại bại trong cuộc chiến tranh với Nga năm 1812, nhân vật trữ tình suy ngẫm về sự thành bại trong chiến tranh (Qua Bôrôđi nô); đến Riazan, quê hương của nhà thơ Nga Êxênin, “anh” suy ngẫm về “hồn nước Nga xưa” và nước Nga nay (Chiều Riazan); giữa Mátxcơva, trái tim của những con người nhân hậu, “anh” suy ngẫm về một tình yêu lớn: “Chỉ tình yêu, giữa dập vùi và đen bạc/ Vẫn giữ cho ta Ngọn lửa để làm Người/ Nếu thế giới này không còn tình yêu nữa/ Thì biết đâu trái đất đã tan rồi” (Mátxcơva - Mùa đông 1990). Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa còn hướng suy ngẫm tới các phạm trù mang tầm phổ quát, bao trùm cả con người và vạn vật, cả thời gian và không gian, cả vật chất và tinh thần, về các mối tương quan: còn - mất, hữu hạn - vô hạn, khoảnh khắc - vô cùng... “Anh” thấy rằng, ở thế giới này không chỉ có đời người ngắn ngủi, hạnh phúc mong manh mà “Trái đất cũng mỏng manh và đáng thương biết mấy”! Tất cả đều trong vòng quay nghiệt ngã của tạo hóa (Matxcơva - Mùa đông 1990); và cả nhà thơ cũng không ở ngoài quy luật đó: “Biết bao thành lũy quanh ta/ Nhắp đi, ngoảnh lại đã là khói sương/ Nói gì đến chuyện văn chương.../ Con đường đi mãi, con đường vẫn xa/ Viết sao cho hết niềm người/ Uống sao cho cạn nỗi đời đắng cay” (Với bạn). Không biết khi viết những dòng thơ này, Trần Đăng Khoa có nhớ đến “Thầy thơ” Xuân Diệu của mình không, nhưng ý thức về sự tàn phai rơi rụng của tạo vật trong thơ anh cứ phảng phất nỗi ngậm ngùi trong “Thơ thơ” ngày trước. Cái “Tôi” trong thơ anh nhìn ra nhân thế, soi vào đời mình, càng thấm thía cảm giác về sự hữu hạn của mỗi cá nhân trước cuộc đời. Trong dòng chảy nghiệt 51(3): 18 - 23 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 23 ngã của thời gian, người ta “Hoặc vằng vặc sáng, hoặc heo hút tàn”. Nhưng muốn sáng lên đâu phải dễ! Đâu phải ai cũng tìm đúng “Bản thể” hay có được khoảnh khắc huy hoàng, chói sáng trong đời. Trong dòng chảy nghiệt ngã của thời gian, trước dấu tích của ngàn xưa, tâm trạng của nhân vật trữ tình chất chứa muôn nỗi suy tư về mối liên hệ còn - mất, hiện hữu - hư vô trong cõi trường cửu: “Thành xưa đổ bóng vào trời/ Khói sương lãng đãng một thời đã xa/ Tháng năm lừng lững đi qua/ Chỉ còn mấy đỉnh tháp già ngẩn ngơ/ Chiều buông ngọn khói hoang sơ/ Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây/ Người xưa hồn ở đâu đây/ Nhìn ra chỉ thấy tuyết bay trắng chiều” (Qua Xuzđan). Đọc những bài thơ chất chứa nỗi niềm nhân thế của Trần Đăng Khoa, có thể nhận thấy nhân vật trữ tình trong thơ anh có xu hướng “hồi cố”, đồng điệu với tâm trạng của thi nhân xưa; vì thế, chất trữ tình trong những bài thơ này thường sâu lắng, giàu sức gợi, phảng phất không khí cổ thi. Tuy nhiên, nếu cổ nhân chiêm nghiệm, suy ngẫm nhằm đạt tới cõi “vô vi” trong tâm thức thì nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa lại chiêm nghiệm, suy ngẫm để tìm ra bản thể, chân lý và ý nghĩa cuộc sống của Con Người. Điều này khẳng định một nỗ lực đáng kể của Trần Đăng Khoa trên hành trình thơ của anh. Nhân vật trữ tình suy tư chiêm nghiệm nỗi niềm nhân thế trong thơ Trần Đăng Khoa vừa tiếp nối, vừa phát triển Chất suy tư - một đặc điểm đã có trong thơ anh từ thời niên thiếu. Dạng nhân vật trữ tình này cũng xuất hiện ngày một nhiều trong thơ Việt Nam sau 1975. Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa sau thời niên thiếu đã phản ánh sự chuyển biến trong cảm hứng sáng tác cũng như trong cáí nhìn và suy cảm của Trần Đăng Khoa trên một chăng đường sáng tác mới. Soi vào đó người ta còn nhận ra được những vấn đề có ý nghĩa về hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Việt Nam sau 1975  51(3): 3 - 7 Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 3 - 2009 24 Summary Two new types of lyric characters in Tran Dang Khoa’s poems has been presented clearly by the changes of the composing situations after his young days. These are the lyric character of sodiers and that of deeply thoughts of innermost feelings. Both of these two types of characters had the basis of composition before, but it only has its own face until the later period. This type of lyric character has also presented more and more in Vietnamese poetry since 1975. It helps us relize the changes in composing inspiration, as well as in the way Tran Dang Khoa to see and to think in the new period of composition. Look at this, we can see several politic issues in Vietnamese poetry. Tài liệu tham khảo [1]. Xuân Diệu (1973), “Thơ em Khoa”, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa, 2006. [2]. Trần Đăng Khoa (1998), Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, NXB Thanh niên. [3]. Trần Đăng Khoa (1985), Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới. [4]. Trần Đăng Xuyền (2003), “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời kỳ niên thiếu”, Tạp chí Văn học, Số 4.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbrief_1045_9526_5_7174_2053144.pdf
Tài liệu liên quan