Một số đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ

Như vậy, trong bối cảnh xã hội ngày nay đang có những biến đổi hết sức sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Việt nói chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng vẫn được duy trì và có những biểu hiện khá phức tạp. Vì thế, thái độ và trách nhiệm chúng ta là gạn đục, khơi trong nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của vùng Nam bộ nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.

pdf11 trang | Chia sẻ: yendt2356 | Ngày: 04/12/2020 | Lượt xem: 87 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam Bộ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
100 GIÁO DỤC – XÃ HỘI MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ Ngày nhận bài: 04/07/2015 1 Ngày nhận lại: 17/08/2015 Ngày duyệt đăng: 04/09/2015 TÓM TẮT Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian có ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức của người Việt. Đây chính là đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt luôn hướng về cội nguồn dân tộc “uống nước nhớ nguồn”. Tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng người Việt ở Nam bộ là việc làm mang tính khoa học và thực tiễn, góp phần hiểu sâu hơn về đời sống văn hóa tinh thần và hiểu rõ hơn về thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt nơi đây. Trong bài viết này, tác giả trình bày một số đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ: mang tính đơn giản, phổ biến, gần gũi với đời thường; mang đậm yếu tố tâm linh hơn ý nghĩa triết lý; mang tính tự nguyện, tự phát, ít mang tính xã hội; chịu ảnh hưởng văn hóa, tín ngưỡng của các dân tộc cộng cư và là cơ sở nghi lễ thờ cúng của các đạo địa phương ở Nam bộ. Nghiên cứu các đặc trưng này góp phần tìm hiểu văn hóa ở vùng Nam bộ nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung. ừ k óa: Tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên, người Việt, Nam bộ. ABSTRACT Ancestor worship is a type of folk beliefs which has a profound effect on the mind of Vietnamese people. This is the deeply-rooted tradition of the Vietnamese people with their motto of “when drinking water, remember its source”. Studying ancestor worship beliefs of the Vietnamese community in Southern Vietnam is significant in contributing to a better understanding of the cultural and spiritual life as well as the world view and philosophy of life of the Vietnamese local communities. In this article, the author presents some characteristics of the veneration of the dead in Southern Vietnam: simple, popular, closer to real life; spiritual rather than philosophical; voluntary, spontaneous, less social; influenced by the culture and beliefs of ethnic communities. It is also the foundation of worship procedures observed by local religious sects in Southern Vietnam. This study contributes to the understanding of cultures in the Southern region in particular and in Vietnam in general. Keywords: Beliefs, ancestor worship, Vietnamese, Southern. 1. Đặt vấn đề1 Việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là các nhà văn hóa học. Bởi vì 1 ThS, Trường Đại học Tiền Giang. đây là một loại hình tín ngưỡng dân gian từ lâu đã thấm đượm và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của mọi người dân Việt. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ chứa TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015 101 đựng những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện quan niệm của người Việt về thế giới, về nhân sinh. Nam bộ là cái nôi của văn hóa phương Nam, có nền văn minh nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ. Nơi đây, tuy là vùng đất mới của người Việt ở Nam bộ nhưng tín ngưỡng thờ cúng đã được thể hiện đậm nét, mang những đặc trưng tiêu biểu của người Việt mang theo từ khi vào Nam mở đất. Nó không những chỉ là một cách lý giải về vũ trụ, thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội trong cuộc sống của con người mà còn là một triết lý sống, một phong cách ứng xử đặc biệt của con người, thể hiện đạo lý làm người, một nét đẹp văn hóa trong cuộc sống của mỗi con người Việt Nam nói chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng. Được hình thành từ xa xưa, trong quá trình tồn tại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đan xen, dung hợp với các hình thái tín ngưỡng tôn giáo khác, lắng đọng, thẩm thấu vào cuộc sống, trở thành đạo lý làm người – đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người Việt nói chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Một số đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ” để tìm hiểu. Thông qua bài viết này, chúng ta có thể hiểu về những đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ đồng thời thấy được điểm tương đồng và khác biệt của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ so với Bắc và Trung bộ. 2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2.1. Cơ sở lý luậ Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng. Do hạn chế về mặt lịch sử, cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên các cách hiểu tín ngưỡng, vì vậy cũng rất khác nhau. Cụ thể: Theo quan điểm duy tâm (Plato, Hegel,), tín ngưỡng là hiện tượng thần bí, siêu thực chỉ có thể cảm nhận, tin chứ không lý giải được, hoặc cũng chỉ là hiện tượng tự nhiên mang tính bẩm sinh. Ở đây, các nhà duy tâm, thần học đã sai lầm, vì họ xuất phát từ một thực thể tinh thần, ý thức để lý giải một hiện tượng khác cũng thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần là tín ngưỡng, tôn giáo. Quan điểm xã hội học (H.Spencer, M.Weber,) chủ yếu đi sâu phân tích chức năng xã hội, vai trò ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo, song lại phân tích tín ngưỡng, tôn giáo tách rời đời sống tinh thần phong phú của con người, không thấy được ranh giới các hiện tượng phi tôn giáo. Quan điểm nhân học (Tylor), ngôn ngữ học (Max Muller) lại chỉ đi sâu vào việc nghiên cứu đối tượng sùng bái của tín ngưỡng, tôn giáo như thần linh, đấng tối cao Do vậy, chỉ có giá trị và thích hợp với loại hình tôn giáo nguyên thủy, không thấy được tính phổ biến, tính thích hợp đối với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác. Quan điểm văn hóa về tín ngưỡng (Jablokov, Troibi, Đaosơn, B.Malinowski) có ưu điểm làm nổi bật tính đa dạng, phong phú và phức tạp của tín ngưỡng, song lại có hạn chế là hòa đồng tín ngưỡng vào văn hóa nói chung, không thấy được cái đặc thù của tín ngưỡng là cái thiêng được đề cao, do đó không xác định được đối tượng của ngành khoa học mới là tôn giáo học. Quan điểm triết học nhân bản của L.Feuerbach đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức của tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh chống quan điểm duy tâm và tôn giáo trong quan niệm về con người, về Thượng đế. Tuy nhiên, trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, ông đã không thấy được nguồn gốc xã hội, chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo. L.Feuerbach đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc giải quyết các vấn đề xã hội trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo. Như vậy, có thể cho rằng, để có cách nhìn khách quan, tổng thể và khoa học đối với hiện tượng tín ngưỡng, cần phải có phương pháp tiếp cận khoa học, đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đứng trên lập 102 GIÁO DỤC – XÃ HỘI trường này, C.Mác cho rằng: tín ngưỡng về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu nhiên, thần bí mà sản phẩm của xã hội; là một hiện tượng xã hội, không tách rời xã hội, mang bản chất của xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất. Từ đó, tác giả có thể đưa ra quan niệm về tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại, biểu hiện niềm tin của con người vào các đấng siêu nhiên thông qua những lễ nghi thờ cúng nhằm cầu mong sự chở che, giúp đỡ. Tín ngưỡng của người Việt phản ánh khá rõ nét những đặc trưng của một đất nước thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái nhân thần, lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác nên tín ngưỡng Việt Nam chỉ tồn tại dưới hình thức niềm tin mà chưa chuyển thành tôn giáo. Tổ tiên là khái niệm để chỉ những người có cùng huyết thống đã mất như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ là những người có công sinh thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của các thế hệ con cháu. Tổ tiên trong xã hội nguyên thủy có nguồn gốc từ tổ tiên Tôtem trong Tôtem giáo của thị tộc. Thờ tổ tiên Tôtem chuyển sang tổ tiên người thực là quá trình chuyển từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang chế độ thị tộc phụ hệ. Tổ tiên Tôtem giáo trong thời kì thị tộc mẫu hệ là những vật trong thiên nhiên được thần thánh hóa, được coi là Tôtem (vật tổ) của thị tộc, là các vật thiêng và các thần che chở của gia đình, thị tộc. Thời kì thị tộc phụ hệ, tổ tiên là những người đứng đầu thị tộc đầy quyền uy. Khi họ mất, thì những biểu tượng về họ là ý niệm về linh hồn người chết, tổ tiên Tôtem, thần che chở của gia đình thị tộc. Đó là những yếu tố chính tạo nên biểu tượng về tổ tiên được thờ cúng. Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm tổ tiên cũng có sự biến đổi và phát triển. Tổ tiên không bị bó hẹp trong phạm vi huyết thống - gia đình, tộc họ mà được mở rộng ra trong phạm vi cộng đồng, xã hội. Sự hình thành và phát triển của các quốc gia, dân tộc thường gắn liền với tên tuổi của người có công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống như vua Hùng, Phùng Hưng, Trần Quốc Tuấn hay là những người có công truyền nghề, tạo dựng cuộc sống hiện đại cho con cháu, được tôn thành các “tổ sư”, “nghệ tổ” Khi còn sống, họ được các thành viên đề cao, tôn kính. Khi mất, họ được tưởng nhớ, tôn thờ, hoặc các tổ tiên siêu nhiên như Thành hoàng làng cũng được xem như là ông Tổ của cộng đồng làng. Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể của những yếu tố ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và lễ nghi thờ cúng trong không gian thờ cúng (ở nhà hoặc Đình, Chùa, Miếu). Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tâm linh tình cảm của con cháu hướng về cội nguồn. Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Cơ sở của sự hình thành ý thức về tổ tiên là niềm tin về linh hồn bất tử, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn còn sống và thường lui tới gia đình ngự trên bàn thờ. Biểu tượng về tổ tiên là những hình ảnh đẹp đẽ mà con cháu gán cho tổ tiên. Tổ tiên luôn là hình ảnh về những người tài giỏi, có công, có đức. Nơi thờ tổ tiên thường có tượng, ảnh được trang trí, xếp đặt một cách cầu kỳ và trang trọng. Cúng là yếu tố mang tính lễ nghi, là sự thực hành một loạt động tác của người được quyền thờ cúng. Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ được quy định do quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng, dân tộc. Nghi lễ cúng được thực hiện bởi người con trai trưởng (nếu ở Bắc và Trung bộ) hoặc người con út trong gia đình (nếu ở Nam bộ), dòng họ với các động tác dâng lễ vật, khấn, lễ trong không gian thờ cúng như bàn thờ tại nhà, Đình, Miếu, mồ mả, Thờ và cúng là hai yếu tố tác động qua TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015 103 lại, thống nhất với nhau trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Sự “thờ”, “tôn thờ” chính là nội dung, còn hoạt động “cúng” là hình thức biểu đạt của nội dung thờ cúng. Ý thức tôn thờ thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng được trợ giúp, tránh sự trừng phạt của tổ tiên là nội dung cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nếu không có “thờ” mà chỉ có “cúng” thì tự bản thân tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không có “hồn thiêng”, không có sức hấp dẫn nội tại và dễ trở thành nhạt nhẽo, vô vị. “Cúng” tuy chỉ là hình thức biểu đạt nhưng nó tôn vẻ linh thiêng, huyền bí, mờ ảo tạo nên sức hấp dẫn, nó chính là hương vị, màu sắc, keo dính thỏa mãn niềm tin tôn giáo, đáp ứng nhu cầu của chủ thể thờ cúng. Hình thức thờ cúng tổ tiên lúc đầu thể hiện ý thức về tổ tiên, về sau trở thành tập tục, truyền thống mang bản sắc văn hóa được truyền nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Yếu tố ý thức, tư tưởng, tình cảm trong thờ tổ tiên được kết lắng trong nghi lễ thờ cúng, nhiều khi không thể tách bạch rõ ràng; còn yếu tố nghi lễ thờ cúng là phương tiện chuyển tải ý thức, tư tưởng, tình cảm đối với tổ tiên. Từ sự phân tích trên, tác giả đồng ý với quan điểm của Trần Đăng Sinh về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như sau: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một bộ phận của ý thức xã hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành từ thời nguyên thủy với niềm tin thiêng liêng rằng, tổ tiên đã chết sẽ che chở, phù giúp con cháu, được thể hiện thông qua lễ nghi thờ phụng. Nó là sự phản ánh hoang đường quyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia đình phụ quyền được duy trì và phát triển trong xã hội có giai cấp sau này, là sự biết ơn, tưởng nhớ và tôn thờ những người có công sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, tổ sư, tổ nghề, Thành hoàng làng, tổ nước. 2.2. P ươ g p áp g i cứu Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, lịch sử và lôgic trên cơ sở những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp luận mácxít như: quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể, quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, 3. Kết quả nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ, tác giả có thể rút ra một số đặc trưng tiêu biểu như sau: ứ ất, tí gưỡ g t ờ cú g tổ ti của gười Việt ở Nam bộ ma g tí đơ giả , p ổ biế , gầ gũi với đời t ườ g Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng phổ biến mang đậm nét dân gian cơ bản và bền vững của người Việt ở Nam bộ, nó chiếm vị trí quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của mỗi người dân. Và đây cũng là một tín ngưỡng bản địa, có truyền thống sâu xa, thiêng liêng và tôn kính được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bắt nguồn từ ý thức trách nhiệm và tình cảm sâu nặng với mảnh đất và con người như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ tồn tại một cách cụ thể, gần gũi trong đời sống thực tiễn trong các mối quan hệ tình cảm của con người chúng ta. Như ở miền Bắc và miền Trung, việc đặt bàn thờ phải đặt trang trọng ở gian giữa trong nhà thờ riêng của nhà người trưởng tộc hoặc người trai trưởng, gọi là từ đường. Trên bàn thờ thì trang trí, bày trí cầu kỳ nhiều thứ, như bài vị, bình bông, hình ảnh, tượng, hoa quả... Khi tổ chức đám giỗ thì chỉ có một ngày chính thức, mọi người tụ họp đông đủ vái lạy, ăn uống và ít khi uống rượu. Ngược lại, ở miền Nam, bàn thờ được đặt ở gian giữa của nhà ở, sinh hoạt bình thường. Người thừa kế hương hỏa và cúng giỗ là người con trai út trong gia đình, hoặc có khi còn sống, ông bà, cha mẹ thương người nào nhiều thì khi mất, người đó cúng giỗ. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ mang tính dung dị, đời thường và gắn với cuộc sống của từng gia đình, xóm ấp. Hình thức thờ cúng cũng phong phú, nhưng giản dị phù hợp theo từng gia cảnh, nội dung chủ yếu của nó là đề cao lòng thành tâm và biết ơn với những người đi trước, tạo dựng cuộc sống cho thế hệ sau,... 104 GIÁO DỤC – XÃ HỘI Ở Bắc bộ, khi có dịp giỗ tết, con cháu phải có mặt đông đủ, không thể bỏ giỗ, nếu không sẽ bị dòng họ chê trách. Còn ở Nam bộ, những người thân ở xa hoặc gần mà có việc, không tham gia cúng giỗ được thì cũng không ai nhắc nhở gì cả. Riêng những người họ hàng, con chú, con bác, dì... thì người cúng giỗ phải mời họ mới đến vui chơi khi có giỗ. Ngoài ra, người Việt ở Nam bộ còn có tục cúng giỗ trong Chùa. Người được cho là chết oan hoặc chết không bình thường khác thì bàn thờ được gởi vào Chùa và tất cả các lần cúng tuần hay cúng giỗ đều cúng trong Chùa. ứ ai, tí gưỡ g t ờ cú g tổ ti của gười Việt ở Nam bộ ma g đậm yếu tố tâm li ơ ý g ĩa triết lý Đối với người Việt ở Nam bộ, chết chưa phải là hết, thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt. Tục ta lại tin rằng dương sao âm vậy, người sống cần gì, sống làm sao thì người chết cũng như vậy. Tin như vậy nên việc cúng lễ là cần thiết và việc thờ cúng tổ tiên là không thể không có được. Ngoài ra, tục lại còn tin rằng: vong hồn người khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết. Sự tin tưởng vào vong hồn ông bà cha mẹ ngự trên bàn thờ đã có ảnh hưởng đến hành động của người sống. Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn đã tránh những hành vi xấu xa, và đôi khi định làm một công việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng xem công việc lúc sinh thời cha mẹ có chấp nhận hay không, vì người ta sợ làm cho vong hồn cha mẹ phải tủi hổ qua hành động của mình và mang tội bất hiếu. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn luôn ở gần mình, người sống như được tiếp xúc với thế giới vô hình qua mọi việc thờ cúng lễ bái. Mỗi tuần tiết hoặc ngày kỵ, đều có thể làm lễ cáo gia tiên, hoặc mùa có của mới, gạo mới, hoặc khi có việc hiếu hỷ. Nhất nhất mỗi biến cố xảy ra trong gia đình, gia chủ đều khấn vái gia tiên, trước là trình bày sự kiện sau là để xin sự phù hộ, giúp đỡ. Chẳng hạn: Người đi buôn gặp việc buôn may bán đắt, không bao giờ quên lễ tạ ơn gia tiên, cũng như lúc bắt đầu bỏ vốn ra buôn bán, đã có sự cầu khấn cúng lễ trước. Một khi có mùa hoa quả mới, trước khi ăn, con cháu bao giờ cũng nghĩ đến việc mua thắp hương cúng vái các cụ, cũng như một năm ba vụ lúa, con cháu cũng đều sửa lễ cúng vái tổ tiên. Nếu trong vườn nhà có một cây ăn quả, những quả chín đầu tiên phải được hái thắp hương cúng ông bà, tổ tiên của mình. Đấy chỉ là những việc nhỏ được kể ra, còn những biến cố quan trọng khác của gia đình, gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên: vợ sinh con; gả chồng cho con gái, dựng vợ cho con trai; xây dựng nhà mới;... Những biến cố trên là những biến cố vui mừng, con cháu trình bày tổ tiên để tổ tiên chia sẻ cái nỗi vui mừng với con cháu, và cũng là dịp để con cháu tạ ơn tổ tiên đã phù hộ, độ trì cho mình cầu mong được nên. Lễ vật không đáng kể, điều quan trọng là tấm lòng thành của con cháu. Còn với gia đình những biến cố buồn, con cháu trình để tổ tiên rõ mọi việc xảy ra, và đôi khi còn cầu xin tổ tiên phù hộ cho được qua khỏi mọi sự không may. Ngoài những biến cố xảy ra trong gia đình, còn nhiều trường hợp con cháu cũng làm lễ cúng gia tiên kêu cầu khấn vái: nước đang thanh bình bỗng có loạn, con cháu cũng cầu xin tổ tiên phù hộ cho gia đình tránh khỏi mọi tai nạn trong lúc loạn lạc; một bệnh dịch phát sinh, con cháu xin với tổ tiên phù hộ tránh khỏi tai ách nguy nan. Tóm lại, tâm lý của người Việt ở Nam bộ tin tưởng ở sự phù hộ của tổ tiên và ở sự hiện diện của tổ tiên quanh mình nên bất cứ mọi việc to nhỏ gì xảy ra liên quan đến gia đình, con cháu đều cúng bái gia tiên. Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ mang đậm yếu tố tâm linh hơn ý nghĩa triết lý. ứ ba, tí gưỡ g t ờ cú g tổ ti của gười Việt ở Nam bộ ma g tí tự guyệ , tự p át, ít ma g tí xã ội Về lịch sử, người Việt ở Bắc và Trung bộ đã có hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước nên theo đó, việc thờ cúng tổ tiên cũng theo những quy cũ và nề nếp nhất định, mang TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015 105 tính truyền thống trong từng gia đình, làng xã. Riêng ở Nam bộ, do đây là vùng đất mới nên trong quá trình khai hoang, di dân trải qua những khó khăn, gian lao nhất định tạo ra những nghi thức thờ cúng tổ tiên khác hơn so với vùng đất mà tổ tiên đã định cư lâu ngày. Chẳng hạn, trong quá trình khai hoang lập xóm ở Nam bộ, do lưu dân bị phân tán nhiều nơi nên khi cúng giỗ thường có những hình thức đặc thù riêng, như là cúng việc lề. Xuất phát từ quá trình khai hoang mở đất, hoặc vì một lý do nào đó phải âm thầm bỏ quê cũ trốn vào Nam lập nghiệp, rồi chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh; việc chống quân Xiêm xâm lược, Chân Lạp vi phạm biên cương,... là nguyên nhân chính làm phần lớn các gia đình lưu dân phải xa cách, phân ly, ít có điều kiện gặp nhau để hồi tưởng về cuộc sống khổ cực tha hương,... Từ đó hình thành tín ngưỡng thờ cúng việc lề. Đây là một dạng sinh hoạt văn hóa mới được hình thành để nhớ ơn ông bà tổ tiên từng chịu khó khăn gian khổ trong những ngày đầu mở mang bờ cõi phương Nam. Biểu tượng là vật cúng, nghi thức cúng mang tính ẩn dụ, là ký hiệu riêng của từng dòng họ thường không giống với dòng họ khác. Tín ngưỡng thờ cúng này chỉ có riêng ở Nam bộ, Bắc và Trung bộ không có. Về ý nghĩa của nó, là trước khi ly tán làm ăn hoặc trốn tránh quan quân những người cùng gia đình, dòng họ hẹn ước với nhau đến ngày tháng đó hàng năm cúng một món đặc biệt, con cháu thấy đúng ký hiệu thì nhìn ra dòng họ mình. Do điều kiện tự nhiên ban đầu còn phức tạp nên ông bà, tổ tiên của vùng đất Nam bộ có nhiều công lao và cực khổ trong quá trình khai hoang lập ấp, có những người không phải là huyết thống nhưng cũng hy sinh trong quá trình khai hoang mở đất; nên trong khi cúng tổ tiên, ông bà, các đám giỗ, đám thôi nôi, đám tang,... người Việt ở Nam bộ đều có một bàn dọn ngoài sân, trước cửa nhà để cúng hương hồn người đã khuất (gọi là mâm đất đai). Những hình thức cúng như trên xuất phát từ tấm lòng của người Việt ở Nam bộ tưởng nhớ đến tổ tiên dòng họ, tưởng nhớ đến công lao của những người đã khuất trong quá trình khai hoang lập nghiệp. Vì thế, nó mang tính tự nguyện, tự phát, ít mang tính xã hội. ứ tư, tí gưỡ g t ờ cú g tổ ti của gười Việt ở Nam bộ c u ả ưở g vă óa, tí gưỡ g của gười H a, C ăm, K mer tại Nam bộ - Ảnh hưởng văn hóa, tín ngưỡng người Hoa Ở Nam bộ, tập đoàn người Hoa xuất hiện gần như là cùng lúc với quá trình khai phá lập làng của cư dân Việt – vào khoảng giữa thế kỷ XVII. Những di sản tín ngưỡng của người Hoa mang theo hiện dễ tìm thấy trong đời sống sinh hoạt của người Việt ở Nam bộ, chẳng hạn: ở nhiều gia đình người Việt ở Nam bộ, chúng ta thường bắt gặp câu đối: Chín chữ cù lao công đức nặng Một lòng thành kính khói hương thơm. Kính hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên vốn là tinh thần, ý thức của người Việt có từ thời xa xưa. Khi Nho giáo thâm nhập vào xã hội người Việt đã góp phần làm nâng cao, hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; nghi thức cúng giỗ, tang ma đều phỏng theo Nho giáo. Chữ hiếu được nâng lên thành đạo hiếu. Nho giáo có những quy định rõ ràng và khắt khe về thờ cúng tổ tiên, tang ma, như trong gia đình người con trai út (thực tế là ở Bắc và Trung bộ là người con trưởng, khác với Nam bộ), được quyền thừa kế điền sản, hương hỏa và đồng thời cũng có nghĩa vụ phải thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Ruộng hương hỏa không được cầm cố, mua bán. Như vậy, nội dung và nghi thức của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt nói chung, người Việt ở Nam bộ nói riêng đã thấm đẫm tinh thần Nho giáo, vì trọng tình vốn là truyền thống lâu đời của văn hóa nông nghiệp phương Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, dù là Nho giáo đã được cải biến nhiều lần, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ ‘Nghĩa’ chữ ‘Nhân’ hơn cả. Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã bị thẩm thấu và khúc xạ qua các yếu tố văn hóa bản địa, tinh thần đó có sự biến đổi phù hợp với tâm thức của người Việt ở Nam bộ, như trai trưởng hoán cải thành trai út. Người Việt thờ cúng tổ tiên không khiên cưỡng, nặng nề theo các quy phạm của Nho 106 GIÁO DỤC – XÃ HỘI giáo. Ngược lại, nó mang tính dung dị, đời thường và gắn với cuộc sống của từng gia đình, xóm ấp. Hình thức thờ cúng cũng phong phú, nhưng giản dị phù hợp theo từng gia cảnh, nội dung chủ yếu của nó là đề cao lòng thành tâm và biết ơn với những người đi trước, tạo dựng cuộc sống cho thế hệ sau... Nhìn chung, tuy chịu ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa khá sâu sắc, có những nét tương đồng trong tinh hoa văn hóa nông nghiệp phương Nam, song tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ vẫn có nét đặc thù riêng, mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Không chỉ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ còn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc tư tưởng của Đạo giáo. Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ, thì các đồ cúng lễ như rượu, vàng mã hay lúc khấn vái đều mang màu sắc của Đạo giáo, các bức trướng khi viếng người già quá cố thường có chữ “Bồng lai tiên cảnh”, hay khi chết được xem là dứt bỏ bụi trần, về với cõi tiên “quy tiên”... Như vậy, có thể nói tính huyền bí, thoát tục của Đạo giáo đã góp phần làm cho ý thức về tổ tiên có tính chất thiêng liêng hơn, tạo nên một sức hấp dẫn hơn trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ. - Ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng người Chăm Islam Lịch sử của quá trình di dân người Chăm Islam vào các tỉnh Nam bộ là một hành trình vất vả, khúc khuỷu, trải qua nhiều giai đoạn và bằng những con đường khác nhau, gắn với những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và của Nam bộ. Người Chăm Islam ở Nam bộ hiện nay có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung của vương quốc Chămpa cổ. Tín ngưỡng, phong tục tập quán của họ do đó đã tiếp nhận của nhiều tôn giáo mới ở các cộng đồng dân tộc khác trên con đường di chuyển. Vào đến Nam bộ, cộng đồng Chăm tiếp xúc với cộng đồng Ấn, Malaysia... cho nên họ dễ dàng tiếp nhận đạo Islam (Hồi giáo) và tôn giáo này đã ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến sinh hoạt văn hóa của họ. Và theo thời gian, những ảnh hưởng ngày càng sâu đậm, ăn sâu vào nếp sống, trở thành chuẩn mực ứng xử của cộng đồng người Chăm. Song, trong quá trình hình thành và phát triển của mình ở đồng bằng Nam bộ, người Chăm Islam vừa tiếp thu và mang đặc điểm văn hóa Nam bộ vừa mang màu sắc truyền thống của dân tộc Chăm. Nên Giáo Sư – Viện sĩ Trần Ngọc Thêm có nhận xét: Nguồn ảnh hưởng Ấn Độ, tuy đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành văn hóa Chăm, nhưng nó không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa của nguồn ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa. Cũng giống như ngôi chùa của người Khmer Nam bộ, người Chăm Islam ở Nam bộ lấy các thánh đường làm trung tâm hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của cả cộng đồng. Đạo Hồi và kinh Coran là chuẩn mực đạo đức, là niềm tin duy nhất để người Chăm dựa vào đó mà phân định các vấn đề khác trong cuộc sống. - Ảnh hưởng văn hóa, tín ngưỡng của người Khmer Nam bộ là nơi tụ cư đông đảo người Khmer, có khoảng trên một triệu người đang sinh sống ở đây. Họ là những cư dân nông nghiệp, hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng lúa nước và ít loại hoa màu khác. Người Khmer sinh sống tập trung trong các phum, sóc, trên các giồng đất cao, họ có một nền văn hóa truyền thống đặc biệt phong phú. Phật giáo Tiểu Thừa là tôn giáo gần như độc nhất và có ảnh hưởng đến đời sống nhiều mặt của người Khmer. Vì vậy, không ngạc nhiên gì khi đối với người Khmer ngôi chùa mang một tình cảm cực kỳ sâu sắc. Một người Khmer sinh ra lớn lên rồi về già cho đến lúc qua đời mọi buồn vui trong cuộc sống đều gắn bó với chùa, đó là mối quan hệ tự nhiên, tự nguyện tạo sự tương tác hữu cơ mang tính truyền thống và đầy trách nhiệm về vật chất cũng như tinh thần của từng cá thể đối với chùa. Ngôi chùa thật sự là bộ mặt xã hội, là trung tâm tôn giáo, văn hóa của người Khmer. Đồng bào Khmer có một nền văn hóa và TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015 107 đời sống vật chất cũng như tinh thần gắn chặt với lịch sử phát triển của vùng đất Nam bộ. Phong tục tập quán, lễ hội đa dạng phong phú; ngôn ngữ chữ viết phát triển lâu đời, quá trình giao thoa văn hóa với các dân tộc cộng cư khác luôn diễn ra mạnh mẽ. Theo quan niệm của người Khmer Nam bộ, chết không phải là hết mà chỉ là chấm dứt cuộc sống nơi trần thế và vẫn tiếp tục sống ở bên kia thế giới - miền Niết bàn cực lạc. Đây có thể xem là một hiện tượng hòa tan văn hóa cùng người Việt ở Nam bộ trong quan niệm: “sống gởi, thác về”. Do đó, khi trong nhà có người chết hình thức tổ chức tang gia cũng phức tạp, việc cúng kiếng bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Phật cũng được thực hiện nghiêm túc. Và đặc biệt, cũng như người Việt ở Nam bộ, họ luôn mời sư sãi đến tụng kinh cầu siêu cho người chết. Bà con, dòng họ, xóm giềng trong phum, sóc cùng đến chia buồn và đưa xác đi thiêu, sau đó tro cốt được đựng trong một cái lọ và gởi vào một cái tháp trong chùa để người chết nương náu nơi cửa Phật. Theo phong tục của người Khmer, hàng năm để tưởng nhớ đến người đã chết, cúng ông bà, cha mẹ, tổ tiên, họ không làm đám giỗ tại nhà mà thường vào Chùa cúng và làm lễ cầu siêu tại Chùa. Hình thức này cũng được người Việt ở Nam bộ tiếp thu nhanh chóng, nên gia đình có người thân chết không được tốt thì hình ảnh được đem vào Chùa để nương náu nơi cửa Phật, tác giả đã có nêu phần trên. Người Việt chúng ta nói chung, người Việt ở Nam bộ nói riêng, hàng năm đến tết Nguyên đán, tết lớn nhất trong năm là dịp con cháu đoàn tụ về đón giao thừa và cúng ông bà, tổ tiên... sau đó đi lễ chùa xin lộc. Và người Khmer Nam bộ cũng thế, hàng năm đến tết Đolta vào khoảng tháng 9 âm lịch của người Khmer, là tết quan trọng nhất sau tết CholThnamThmây, mọi người cũng tổ chức lễ vật tập trung vào chùa để thăm viếng và cúng ông bà tổ tiên, xin tổ tiên và Phật trời phù hộ cho con cháu được bình an. Đây cũng là dịp để mọi người thăm viếng, gặp gỡ nhau, thắt chặt mối quan hệ cộng đồng, dòng họ. Cùng là cư dân nông nghiệp phương Nam, trồng lúa nước nên người Việt và người Khmer ở Nam bộ luôn sinh sống chan hòa và có những lễ hội mang sắc thái nông nghiệp thờ cúng tổ tiên, thần thánh tương tự nhau, như lễ hội mừng năm mới CholThnamThmay, lễ hội cúng trăng Ocombok... Tuy nhiên, trong các lễ hội này sư sãi đóng một vai trò quan trọng. Cũng như người Việt ở Nam bộ, người Khmer ở Nam bộ quan niệm đi tu không phải để thành Phật mà tu là để học làm người có nhân cách, phẩm chất và đạo đức tốt, là để biết sống theo tinh thần của giáo lý nhà Phật và rèn luyện đạo pháp. Vì vậy, giáo dục Phật giáo cũng góp phần tạo nên bầu không khí tốt đẹp trong cuộc sống gia đình của mỗi người Khmer. Vợ chồng người Khmer ít khi ly dị nhau, hiện tượng đa thê, tảo hôn cũng ít gặp. Con cái hết lòng tôn kính, quý trọng cha mẹ và nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ, ông bà rất chu đáo khi họ về già. Ông bà, cha mẹ cũng yêu thương và đối xử công bằng với con cháu, kể cả dâu, rể. Trong phong tục thờ cúng thần tài, thổ địa của người Việt ở Nam bộ, thì có lẽ trong đó có một phần ảnh hưởng trong quá trình giao thoa văn hóa với người Khmer Nam bộ trong việc cúng NeakTà. Nhà người Việt ở Nam bộ ở đâu chúng ta cũng gặp bàn thờ ông Tài, ông Địa với khói hương nghi ngút thì khi đến các phum, sóc người Khmer Nam bộ chúng ta cũng bắt gặp rất nhiều miếu cúng NeakTà. Và cũng như quan niệm của người Việt ở Nam bộ, ông Tài, ông Địa luôn là người phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc, mua may bán đắt thì NeakTà của người Khmer Nam bộ với tư cách là thần bảo hộ phum, sóc, có ảnh hưởng và gắn bó nhiều mặt với đời sống sản xuất, tình cảm của họ. Như vậy, qua tiếp biến và giao lưu với văn hóa Khmer, người Việt ở Nam bộ cũng ít nhiều tạo nên được một phong tục tập quán mang tính truyền thống trong thờ cúng tổ tiên của mình từ một nền văn hóa bản địa phong phú, đa dạng. ứ ăm, t ờ cú g tổ ti của gười Việt ở Nam bộ có ả ưở g đế g i lễ t ờ cú g của các đạ đ a p ươ g ở Nam bộ 108 GIÁO DỤC – XÃ HỘI Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Người sáng lập và truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một tôn giáo địa phương ra đời sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, là Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), sau này ông có pháp danh là Đoàn Minh Huyên. Ông sinh tại làng Tòng Sơn, tổng An Định, huyện Vĩnh An, phủ Định Hiển, trấn Vĩnh Thạch (thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Có thể nói, những lễ nghi thờ cúng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã ảnh hưởng khá sâu đậm đến việc hình thành những lễ nghi, phong tục của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Cụ thể như: Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương chủ trương đơn giản các luật lệ, lễ nghi và cách thức hành đạo. Với quan niệm không coi trọng sắc tướng, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không thờ tượng Phật, không họa tranh ảnh và dùng một tấm vải Trần Điều (màu đỏ hình chữ nhật) làm biểu tượng cho tôn giáo của mình, thể hiện tinh thần vô vi của đạo Phật. Việc cúng lễ rất đơn giản, chỉ có hương hoa, nước lạnh, không cúng xôi, chè, đồ mặn. Khi lễ Phật, không tụng kinh, gõ mõ, chỉ niệm lục tự Nam Mô A Di Đà Phật. Nghi lễ tang ma, cưới hỏi đơn giản, từ các ông đạo đến các tín đồ đều để râu tóc dài, ăn mặc bình thường, muốn tu tại gia hay tại chùa cũng được. Chính nội dung tư tưởng này mang đậm truyền thống văn hóa dân tộc, cách thức hành đạo đơn giản, rất phù hợp với đặc điểm, tâm lý người dân Nam bộ. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ra đời ở vùng đất miền Tây Nam bộ ở vùng châu Đốc, trong cùng một cư dân tương ứng với đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là sự nối tiếp và phát triển của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là Ngô Lợi (1831 – 1890), quê quán tại Mỏ Cày – Bến Tre. Ngô Lợi còn có tên là Ngô Viện, ngoài đời còn có tục danh là Năm Thiếp. Ngô Lợi là người thông minh, làm nghề nông, tự học và thích đọc sách Phật. Năm 20 tuổi, Ngô Lợi sáng tác cuốn Bà La Ni kinh, đi rao giảng và khuyên người đời tu niệm ở nhiều nơi. Những nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc sinh hoạt tôn giáo, văn hóa của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Cụ thể: Một là, cơ sở thờ tự của Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gồm có ngôi Chùa, Đình Miếu, bàn thờ tại nhà riêng, là những yếu tố văn hóa vật chất phản ánh đời sống tinh thần và tâm linh của tín đồ. Hai là, hội lễ và nghi thức thờ cúng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho thấy nó giản dị và phong phú nhưng nhiều về số lượng, tín đồ ít quan tâm đến giáo lý và chú tâm nhiều hơn vào việc thờ cúng và nghi lễ hiếu nghĩa nhằm tu thân, thể hiện hiếu thảo, sự đền ơn của đức tu nhân. Ba là, hôn lễ, tang lễ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, các giai đoạn và nghi thức về cơ bản giống với phong tục của người Việt ở Nam bộ. Như vậy, có thể nói đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có đặc điểm giống với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ là khả năng tổng hợp, hòa đồng với các hệ thống quan niệm cũng như các đối tượng thờ cúng của Phật, Nho, Đạo và tín ngưỡng dân gian truyền thống tạo nên sự phong phú, đáp ứng nhu cầu đời sống về tâm linh của người dân Nam bộ. Phật Giáo Hòa Hảo Phật giáo Hòa Hảo ra đời gắn với vai trò của ông Huỳnh Phú Sổ. Ông sinh ngày 15 tháng 01 năm 1920 (tức ngày 25 tháng 01 năm Kỷ Mùi) trong một gia đình khá giả và có thế lực ở làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang ngày nay). Sự giản đơn, gần gũi với đời thường, không cầu kỳ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ là cơ sở cho các lễ nghi thờ cúng trong Phật giáo Hòa Hảo: - Nhìn chung, bàn thờ của tín đồ Hòa Hảo đều đơn giản. Theo lời khuyên của giáo chủ, bàn thờ không bắt buộc phải có, phải quay về hướng Tây vái niệm trong tâm cũng được. - Đồ cúng Phật hay cúng trời đất ở bàn thờ thông thiên chỉ có nước lạnh, hoa và nhang. Ban đêm thấp chong đèn ở trong thờ và bàn thông thiên. Nước lạnh chỉ sự trong sạch, hoa thể hiện sự tin khiết và nhang là TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 5 (44) 2015 109 hương thơm xua đuổi tạp uế, tà khí. - Đồ cúng ông bà tổ tiên có thể cúng chay hoặc mặn tùy ý. Huỳnh Phú Sổ khuyên tín đồ không nên làm cổ linh đình, tốn kém, bởi ông bà và thánh thần không ăn được những thứ đó. - Phật giáo chủ trương tang lễ cốt ở sự thành tâm cầu nguyện cho vong linh người chết được siêu thoát, vì thân xác người chết sẽ hư hại gây mất vệ sinh, cần chôn cất chu đáo, không để dài ngày. Còn hiếu lễ là do ở sự thành tâm cầu nguyện chứ không phải đưa rước linh đình mới có. - Hôn lễ của người Hòa Hảo đơn giản, tiết kiệm, có nhiều mặt tiến bộ. Giáo lý Hòa Hảo khuyên cha mẹ không nên ép buộc con cái, song có bổn phận hướng dẫn, không nên để con cái quá tự do mà thiếu kinh nghiệm làm cho đời chúng hư hỏng. Tóm lại, tư tưởng, giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo tiếp nhận rất nhiều từ giáo lý chân truyền của Phật giáo, nhưng nó không đi vào triết lý cao siêu của Phật giáo mà coi trọng sự giản dị, sự thật tâm, coi trọng hành động. Tu theo Phật giáo Hòa Hảo thực chất là thực hành đạo lý làm người, trước hết biểu hiện ở việc thực hành Tứ Ân. Trong Tứ Ân, trước hết là ân nghĩa với ông bà tổ tiên, đối với đất nước tam bảo, đối với đồng bào nhân loại. Đây chính là ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ trong Phật giáo Hòa Hảo. 4. Kết luận Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng mang tính dân gian, truyền thống có từ ngàn xưa của nhân dân ta, đây là nét đẹp của văn hóa. Điều này đã được cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác. Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mọi họ đều thờ cúng tổ tiên Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người Việt Nam ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm. Nhìn chung, Nam bộ là nơi tồn tại và phát triển của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Trên cơ sở nhận thức về thế giới xung quanh, người Việt ở Nam bộ nhận thức về mình và đề ra một triết lý nhân sinh phù hợp, sống hòa hợp với thiên nhiên, trọng tình nghĩa trong quan hệ với gia đình và bà con hàng xóm, luôn đề cao đạo hiếu trong ứng xử với tổ tiên, nhớ về cội nguồn và duy trì nếp sinh hoạt văn hóa truyền thống cộng đồng. Như vậy, trong bối cảnh xã hội ngày nay đang có những biến đổi hết sức sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Việt nói chung, của người Việt ở Nam bộ nói riêng vẫn được duy trì và có những biểu hiện khá phức tạp. Vì thế, thái độ và trách nhiệm chúng ta là gạn đục, khơi trong nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của vùng Nam bộ nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO Thích Minh Châu (1998). Lịch sử Đức Phật Thích Ca, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Trường cao cấp Phật học Thành phố Hồ Chí Minh, tr.119. Nguyễn Đăng Duy (2001). Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.7- 22. Phạm Văn Đồng (1994). Văn hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.75. Bùi Xuân Mỹ (2001). Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt, Nxb. Văn hóa thông tin. Đinh Kiều Nga, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bản sắc văn hóa của người Việt. n_sac_van_hoa_cua_nguoi_Viet 110 GIÁO DỤC – XÃ HỘI Nguyễn Đức Lữ (chủ biên, 2007). Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, tr.66 - 95. Lương Văn Sáu (2008). Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam bộ, luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Trần Đăng Sinh (2002). Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.57. Trần Đăng Sinh, Nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cuu/nguon_goc_ban_chat_tin_nguong_tho_cung_to_tien.html Lê Thị Son (2008). Tính triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ, Luận văn thạc sỹ ngành triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Thị Son (2011). Nét đẹp văn hóa trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Nam bộ, Tạp chí Khoa học công nghệ Trường Đại học Tiền Giang. Lê Thị Son (2011). Một số khác biệt trong phong tục thờ cúng tổ tiên của ba miền Nam – Trung – Bắc ở nước ta. Tạp chí Phát triển Nhân lực - Trường Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.66. Trần Ngọc Thêm (2004). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.498.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf10_le_thi_son_100_110_9726_2017375.pdf