Kinh nghiệm về hợp tác phát triển cộng đồng với sinh viên ở nông thôn Nhật Bản: Khả năng áp dụng cho Việt Nam

Quá trình hợp tác phát triển cộng đồng giữa Đại học Tottori và Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới ở thôn OMIYA, thị trấn NICHINAN, tỉnh TOTTORI, Nhật Bản đem lại nhiều lợi ích thiết thực trong đào tạo sinh viên và phát triển cộng đồng. Sinh viên trường Đại học Khoa học Huế cũng được đào tạo nghiên cứu thực tế ở các địa phương nhưng chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà trường và cộng đồng. Vì vậy, một số giải pháp được đề xuất để có thể áp dụng mô hình kết hợp đào tạo phát triển cộng đồng ở Nhật Bản vào vùng nông thôn Việt Nam.

pdf10 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 238 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kinh nghiệm về hợp tác phát triển cộng đồng với sinh viên ở nông thôn Nhật Bản: Khả năng áp dụng cho Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 01(29)/2014: tr. 117-126 KINH NGHIỆM VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VỚI SINH VIÊN Ở NÔNG THÔN NHẬT BẢN: KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM TSUTSUI KAZUNOBU TRẦN THỊ HỒNG ÂN - SEKI KOJI Trường Đại học Tottori, Nhật Bản BÙI THỊ THU - LÊ ĐÌNH THUẬN Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế NGUYỄN QUANG TUẤN Trung tâm Đào tạo Quốc tế - Đại học Huế Tóm tắt: Quá trình hợp tác phát triển cộng đồng giữa Đại học Tottori và Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới ở thôn OMIYA, thị trấn NICHINAN, tỉnh TOTTORI, Nhật Bản đem lại nhiều lợi ích thiết thực trong đào tạo sinh viên và phát triển cộng đồng. Sinh viên trường Đại học Khoa học Huế cũng được đào tạo nghiên cứu thực tế ở các địa phương nhưng chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà trường và cộng đồng. Vì vậy, một số giải pháp được đề xuất để có thể áp dụng mô hình kết hợp đào tạo phát triển cộng đồng ở Nhật Bản vào vùng nông thôn Việt Nam. Từ khóa: Phát triển cộng đồng, Tottori, Hợp tác đào tạo 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Qua các giai đoạn hình thành và phát triển, cộng đồng dân cư nông thôn Nhật Bản hiện nay đang bị suy thoái. Biểu hiện của sự suy thoái này là dân số bị già hóa và giảm dần, các lễ hội truyền thống và các hoạt động nông nghiệp ngày càng bị mai một, cấu trúc cơ bản của vùng nông thôn bị phá vỡ. Đại học Tottori, Nhật Bản đã lồng ghép chính sách của Nhà nước là khôi phục lại các bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng nông thôn vào chương trình giảng dạy, góp phần phát triển cộng đồng dân cư mới ở thôn OMIYA, thị trấn NICHINAN, huyện HINO, tỉnh TOTTORI với sự tham gia của sinh viên khoa Khoa học vùng. Thông qua mối quan hệ hợp tác quốc tế giữa khoa 118 TSUTSUI KAZUNOBU và cs. Khoa học Vùng, Đại học Tottori (Nhật Bản) và trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (Việt Nam), các nhà khoa học của hai trường đã cùng triển khai nghiên cứu về quá trình hợp tác phát triển cộng đồng ở nông thôn Nhật Bản để xem xét triển vọng về hợp tác phát triển cộng đồng ở nông thôn Việt Nam. 2. HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG Ở THỊ TRẤN NICHINAN, NHẬT BẢN 2.1. Khái quát về thị trấn NICHINAN Thị trấn NICHINAN, huyện HINO, tỉnh TOTTORI nằm ở giữa vùng đồi núi CHUGOKU, cách các đô thị của tỉnh TOTTORI là thành phố YONAGO - 37,5 km và cách thành phố TOTTORI 128 km (Hình 1). Tổng diện tích của thị trấnNICHINAN là 340,87 km² [1]. Theo tổng điều tra dân số vào năm 2010, dân số của Thị trấn là 5.457 người và đang có xu hướng giảm liên tục so với thời kì cao điểm nhất sau chiến tranh thế giới thứ 2 là 16.045 người. Trong những năm gần đây, tỷ lệ người già trên 65 tuổi đang có xu hướng tăng lên và đạt 2.556 người, chiếm 46,8% tổng số dân (2010), tỷ lệ lao động nông nghiệp là 34,4% . Hình 1. Vị trí của thị trấn Nichinan 2.2. Hệ thống cộng đồng dân cư mới ở thị trấn NICHINAN Từ xa xưa, nông thôn Nhật Bản được hình thành từ các “MURA” (có nghĩa là “Làng”). Những hoạt động cộng đồng diễn ra ở trong “Làng” đều được quyết định bởi “JICHIKAI” (có nghĩa là “Hội đồng Làng”) và nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay [2]. Ở thị trấn NICHINAN có 35 “Hội đồng làng”, trong đó thôn OMIYA có 4 “Hội đồng làng” và được   ●●・・・ Thôn IWAMI Thôn ABIRE Thôn YAMAGAMI   ●●・・・   ●●・・・ Thị trấn NICHINAN Thôn OMIYA   ●●・・・   ●●・・・ Thôn HINOKAMI   ●●・・・ Thôn FUKUSAKAE Thôn TARI   ●●・・・   ●●・・・   ●●・・・   ●●・・・ Chú giải Thị trấn NICHINAN Thôn = MACHIZUKURI KYOGIKAI (Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới) Làng = MURA (Cộng đồng Truyển thống) =JICHIKAI (Hội đồng Làng ) ● Xóm = KUMI ・・・ Các Xóm trong Làng Các Làng trong Thôn KINH NGHIỆM VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VỚI SINH VIÊN NÔNG THÔN... 119 xem là đơn vị tổ chức cộng đồng cơ sở ở đây. Tuy nhiên, do vấn đề giảm dân số, tỷ lệ người già ngày càng gia tăng, cùng với nhu cầu sinh hoạt của người dân ngày càng đa dạng khiến cho các hoạt động trong thôn không còn diễn ra thường xuyên như trước đây. Điều này có nghĩa là các “Hội đồng làng” đã không giải quyết được những vấn đề đã và đang phát sinh trong thôn. Vì vậy, việc hỗ trợ cho các “Hội đồng làng” là một việc làm hết sức cần thiết. Từ năm 2005 đến 2007 đã có 7 “MACHIZUKURI KYOGIKAI” (Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới - New Community Development Association) được thành lập (Hình 2) với các chức năng: (1) Xúc tiến quá trình tái lập và xây dựng cộng đồng dân cư mới, (2) Xúc tiến quá trình phát triển kinh tế xã hội trong vùng và (3) Duy trì, bảo quản các nhà văn hóa hay các cơ sở giao lưu cộng đồng để có thể đẩy mạnh các hoạt động cộng đồng trong thị trấn NICHINAN. Một trong những tổ chức phát triển cộng đồng dân cư mới điển hình ở thị trấn NICHINAN là “OMIYA MACHIZUKURI KYOGIKAI” (Hiệp hội Phát triển cộng đồng mới ở thôn OMIYA). Những hoạt động của Hiệp hội bao gồm: Nuôi cá trích (là một đặc sản của vùng), tổ chức sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ, bảo tồn văn hóa, luyện tập phòng chống thiên tai, giáo dục về sức khỏe... Từ năm 2008, Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới ở thôn OMIYA đã có sự liên kết với bộ môn Chính sách Vùng, khoa Khoa học Vùng thuộc Đại học Tottori trong việc tổ chức chương trình hợp tác giáo dục “CHIIKI KYODO KYOUIKU (Chương trình hợp tác đào tạo với vùng - collaborative education with region). Cụ thể, khóa học “MURAOKOSHI RON” (Khôi phục tiềm năng ở vùng nông thôn - Rural Revitalization) đã được tổ chức hàng năm nhằm mục đích sử dụng năng lực và kiến thức của sinh viên trong việc tái lập cộng đồng dân cư mới ở nông thôn. 2.3. Hợp tác phát triển cộng đồng giữa Đại học Tottori với thôn OMIYA Quá trình hợp tác phát triển cộng đồng giữa Đại học Tottori và Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới thôn OMIYA được tiến hành hàng năm với các chủ đề được thể hiện ở bảng 1. Những chủ đề trên không chỉ góp phần triển khai công tác giáo dục đối với sinh viên mà còn kết hợp được mô hình học tập "Hội thảo trao đổi trực tiếp với người dân" nhằm mang 120 TSUTSUI KAZUNOBU và cs. lại tính chính xác cao cho thông tin cần thu thập. Đây là phương pháp tổ chức hội thảo có thể áp dụng cho vùng nông thôn lẫn thành thị, nhằm thúc đẩy quá trình phát triển vùng. Bảng 1. Các chủ đề xây dựng và phát triển trong liên kết giữa Đại học Tottori với thôn OMIYA, thị trấn NICHINAN Bài báo này cung cấp thông tin về các hoạt động trong khuôn khổ liên kết giữa Đại học Tottori và thôn OMIYA vào năm 2011 với chủ đề “Thành lập và kiểm chứng các lộ trình đi bộ nhằm phát triển du lịch cải thiện sức khỏe”. Để thực hiện chủ đề này, đầu tiên sinh viên cần tìm hiểu những thông tin cơ bản của thôn tại trường đại học. Sau đó, người dân và sinh viên cùng đi bộ theo từng nhóm (khoảng 3 hoặc 4 sinh viên và 1 người dân hướng dẫn) nhằm khảo sát môi trường và tham quan những địa điểm lịch sử nổi bật của thôn, hay còn gọi là “Khảo sát thực địa”. Trong quá trình này, sinh viên vừa nghe người dân giải thích về tự nhiên, lịch sử, văn hóa vừa quan sát cảnh quan môi trường (Ảnh 1). Kết quả của đợt khảo sát thực địa và làm việc nhóm đã lập ra 6 lộ trình đi bộ trong thôn OMIYA phục vụ cho du lịch cải thiện sức khỏe. Các lộ trình này còn được kiểm chứng về mặt khoa học để đáp ứng yêu cầu của loại hình du lịch cải thiện sức khỏe. Cụ thể, để tiến hành đo “mức tiêu thụ năng lượng của một lộ trình”, các sinh viên trực tiếp tham gia đi bộ theo các lộ trình đã thiết lập và tính toán mức tiêu thụ năng lượng dựa vào việc đo các thông số như: (1) Thời gian đi bộ, (2) Số bước đi (dùng đồng hồ đo số bước đi Calori Eye 3D do công ty Healthengine sản xuất), (3) Tần suất nhịp tim (dùng đồng hồ đo nhịp tim POLAR RS400 do công ty Polar sản xuất), (4) Cường độ vận động cá nhân (Rating of Perceived Exertion), (5) Ảnh 1. Trao đổi theo nhóm giữa sinh viên và người dân địa phương [24/09/2011] Năm Chủ đề 2008 Thành lập bản đồ du lịch 4 mùa ở thôn OMIYA 2009 Cung cấp thông tin về “Sự thay đổi cảnh quan ở thôn OMIYA thông qua ảnh vệ tinh” và “Lịch sử thôn OMIYA qua kí ức của người dân” nhằm bổ sung cho nội dung sách Hướng dẫn du lịch trong thôn 2010 Tìm hiểu thực trạng Lễ hội OMIYA SATOYAMA ở thôn OMIYA và phương án cải thiện 2011 Thành lập và kiểm chứng các lộ trình đi bộ nhằm phát triển u lịch cải thiện sức khỏe 2012 Kiểm chứng những lợi ích từ du lịch cải thiện sức khỏe chú trọng đến 3 phương diện “Thức ăn dinh dưỡng – Sức khỏe – Vận động” nhắm hướng đến thúc đẩy phát triển các hoạt động Cộng đồng mới ở thôn OMIYA thị trấn NICHINAN. KINH NGHIỆM VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VỚI SINH VIÊN NÔNG THÔN... 121 Chiều dài đoạn đường và độ cao khu vực đi bộ (dùng GPS DATA LOGGER DG-200 do công ty Global Sat sản xuất). Hình 3 là một ví dụ minh họa về tuyến đi bộ dành cho khách du lịch với khoảng thời gian 55 phút, chiều dài của tuyến là 4.690 m ở độ cao 38m, tổng số bước đi là 5.067 bước và nhịp tim trung bình 99 lần/phút. Năng lượng tiêu thụ cho tuyến đi bộ này trung bình là 201 kcal, tương đương với 1 bình nước ngọt có gas 500 cc. Từ chương trình hợp tác giáo dục này, có thể rút ra một số đặc điểm như sau: 1. “Cộng đồng dân cư mới", hay còn gọi là "Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới" ở thôn OMIYA đã đưa ra các hoạt động nhằm phát triển cộng đồng mới trong vùng. Thông qua việc tham gia một số hoạt động của "Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới", nhóm sinh viên đã học được cách thức xây dựng kế hoạch cũng như các kỹ năng thảo luận theo nhóm liên quan đến vấn đề phát triển cộng đồng mới. Đây chính là đặc trưng cơ bản của hoạt động phát triển cộng đồng mới trong vùng với sự tham gia của người dân. 2. Dựa trên mối quan hệ “cộng tác” giữa người dân trong vùng và sinh viên sẽ đem lại những lợi ích cho các bên tham gia như sinh viên đã tiếp thu được những kinh nghiệm thực tế, hoàn thiện mục tiêu nghiên cứu của bản thân và cộng đồng dân cư mới ở trong thôn đã tiếp thu và áp dụng những sáng kiến mới từ sinh viên, góp phần tái lập và phát triển vùng một cách bền vững. 3. KHẢ NĂNG HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM 3.1. Công tác đào tạo sinh viên nghiên cứu thực địa tại trường Đại học Khoa học Huế Trong những năm qua, trong chương trình đào tạo của các khoa: Địa lý - Địa chất, Môi trường, Sinh học, Xã hội học, Lịch sử của trường Đại học Khoa học Huế đều có học phần thực tập thực tế dành cho sinh viên năm thứ 3. Điều này cũng tương tự như chương trình đào tạo của khoa Khoa học Vùng, Đại học Tottori. Hình 3. Tuyến đi bộ dành cho khách du lịch 122 TSUTSUI KAZUNOBU và cs. Việc tổ chức cho sinh viên của các Khoa đi thực tập tùy thuộc vào địa bàn và nội dung thực tập nhưng đều thực hiện theo các giai đoạn sau: - Giai đoạn chuẩn bị: Tùy theo số lượng sinh viên mà giáo viên chia ra thành 3 - 7 nhóm sinh viên và lựa chọn địa bàn nghiên cứu; sinh viên chuẩn bị các thiết bị, văn phòng phẩm, phiếu điếu tra (nếu có) và đề cương khảo sát - Giai đoạn khảo sát thực địa (thời gian từ 1 - 2 tuần): Sinh viên tiếp cận với địa bàn nghiên cứu, thu thập tài liệu, chụp ảnh, phỏng vấn cán bộ và người dân. Riêng đối với sinh viên ngành Xã hội học có thêm công tác xử lý thô số liệu đã thu thập được và báo cáo tại địa phương trước khi kết thúc đợt thực tập. Sinh viên ngành Công tác Xã hội có tham gia các hoạt động cùng với người dân như sinh hoạt văn nghệ, gặt lúa... để nắm bắt và tìm hiểu thêm các thông tin khác. - Giai đoạn viết báo cáo: Sau khi kết thúc đợt khảo sát thực địa, các nhóm sinh viên sẽ hoàn thành báo cáo khoa học và được giáo viên đánh giá kết quả thực tập thông qua báo cáo ở trường. Riêng đối với sinh viên ngành Xã hội học có gửi báo cáo thực tập về cho địa phương. Qua phân tích về chương trình nghiên cứu, khảo sát thực tế giữa trường Đại học Khoa học - Đại học Huế và khoa Khoa học Vùng - Đại học Tottori cho thấy, quy trình thực hiện giữa 2 bên trong các giai đoạn đầu là gần như nhau nhưng trong chương trình học tập có một số điểm khác biệt như sau: - Trong giai đoạn khảo sát thực địa, sinh viên trường Đại học Khoa học Huế chủ yếu là thu thập thông tin từ người dân và tự phân tích, xử lý tài liệu, không có thảo luận nhóm với người dân trước khi viết báo cáo. - Sau giai đoạn viết báo cáo, sinh viên không trực tiếp báo cáo tại hội thảo với người dân; vì vậy, báo cáo của sinh viên không được người địa phương đóng góp ý kiến, bổ sung để hoàn thiện và người dân cũng không được nghe và hiểu biết về những nội dung phân tích khoa học về các vấn đề đang tồn tại ở địa phương. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do mục tiêu của đợt nghiên cứu thực địa ở 2 trường là khác nhau. Mục tiêu của đợt khảo sát thực địa của sinh viên trường Đại học Khoa học là để cũng cố kiến thức lý thuyết đã học ở trường, tìm hiểu thực tế và tăng cường các KINH NGHIỆM VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VỚI SINH VIÊN NÔNG THÔN... 123 kỹ năng khảo sát thực tế, lấy mẫu, phân tích; làm việc nhóm Đối với sinh viên khoa Khoa học Vùng (Nhật Bản), ngoài các mục tiêu trên còn có sự hợp tác giữa người dân và sinh viên để góp phần phát triển cộng đồng ở địa phương. Địa bàn thực tập của sinh viên trường Đại học Khoa học Huế thường thay đổi hàng năm còn địa bàn thực tập của sinh viên khoa Khoa học Vùng ít thay đổi. 3.2. Khả năng đóng góp sinh viên trường Đại học Khoa học Huế trong phát triển cộng đồng Theo kết quả tổng điều tra biến động dân số và nhà ở năm 2012, dân số Việt Nam là 88,5 triệu người, trong đó 68,1% dân số sinh sống ở vùng nông thôn. Hiện nay, xu hướng già hóa dân số đang diễn ra nhanh ở Việt Nam. Theo Vụ kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc (2005), chỉ số già hóa được tính bằng tỷ số giữa số người cao tuổi và 100 người dưới 15 tuổi (hay trẻ em). Chỉ số này ở Việt Nam tăng từ 35,5 (2009) lên 42,7% (2012) và tỷ lệ người già trên 65 tuổi tăng từ 5,8% (2009) lên 7,1% (2012) [3]. Ở nông thôn, già hóa dân số nhanh hơn ở thành thị do thanh niên thường lên các thành phố học và xin việc làm ở các thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch nên rất ít người quay về nông thôn để sinh sống. Thực tế này cũng tương tự như ở Nhật Bản vào những năm 1960 - 1969. Trong điều kiện trình độ dân trí ở Việt Nam còn thấp (Tỷ lệ lao động trên 15 tuổi đang làm việc đã qua đào tạo chiếm 16,6% vào năm 2012 [3]) thì vấn đề phát triển cộng đồng ở vùng nông thôn Việt Nam cần được chú ý nhiều hơn. Qua kết quả hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa trường Đại học Khoa học Huế và Khoa Khoa học vùng, Đại học Tottori với sự tham gia của sinh viên và giảng viên của khoa Khoa học Vùng (Đại học Tottori) và các khoa Địa lý - Địa chất, Sinh học, Xã hội học (trường Đại học Khoa học Huế) ở nông thôn Thừa Thiên Huế vào năm 2012 và 2013 cho thấy, sinh viên trường Đại học Khoa học Huế cũng có thể đóng góp sức trẻ và tri thức, tham gia vào phát triển cộng đồng giống như sinh viên Nhật Bản (Ảnh 2) [4]. Tuy nhiên, để thực hiện được mô hình phát triển cộng đồng ở trên, cần thực hiện các giải pháp sau: - Thiết kế lại mục tiêu, nội dung thực tập thực tế trong Ảnh 2. Sinh viên trường ĐHKH Huế và ĐH TOTTORI khảo sát thực địa tại thôn Lê Xá Trung (Xã Phú Lương, huyện Phú Vang), [6/3/2013] 124 TSUTSUI KAZUNOBU và cs. chương trình đào tạo của sinh viên ở trường Đại học Khoa khoa học Huế. - Lựa chọn địa bàn thực tập cho sinh viên phù hợp với chương trình đào tạo và có thể hợp tác phát triển cộng đồng trong nhiều năm để các thế hệ sinh viên có thể tìm hiểu kỹ về nhiều vấn đề đang tồn tại ở địa phương. Nếu địa bàn thay đổi hàng năm thì phải đặt lại mối quan hệ với người dân địa phương, sinh viên phải tìm hiểu các thông tin cơ sở hoàn toàn mới, trong lúc các vấn để đang tồn tại ở địa bàn thực tập trong năm trước chưa được nghiên cứu. - Tuyên truyền cho người dân về tầm quan trọng của việc hợp tác phát triển cộng đồng giữa sinh viên và người dân địa phương để nâng cao trách nhiệm của họ trong việc cung cấp thông tin, nhiệt tình trong thảo luận nhóm và hướng dẫn sinh viên đi khảo sát thực địa. - Việc đánh giá kết quả đợt thực tập của sinh viên cần dựa vào kết quả nội dung báo cáo hoàn thiện cuối cùng sau khi sinh viên tổ chức hội thảo nhóm với người dân địa phương để họ bổ sung, chỉnh lý. - Chuyển giao kết quả báo cáo thực tập cuối cùng của sinh viên cho người dân để họ có thể vận dụng trong thực tiễn, nâng cao sự phát triển cộng đồng ở địa phương. 4. KẾT LUẬN Từ kinh nghiệm hợp tác phát triển cộng đồng giữa sinh viên với người dân ở nông thôn Nhật Bản và khả năng áp dụng cho Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau: 1. Chương trình hợp tác phát triển cộng đồng giữa Đại học Tottori và Hiệp hội Phát triển Cộng đồng mới thôn OMIYA, thị trấn NICHINAN có nhiều ý nghĩa cả về thực tiễn lẫn đào tạo. 2. Sinh viên của trường trường Đại học Khoa học Huế cũng có thể đóng góp công sức và tri thức cho sự phát triển cộng đồng ở nông thôn. Vì vậy, cần áp dụng mô hình hợp tác phát triển cộng đồng ở nông thôn Nhật Bản một cách linh hoạt vào từng địa phương ở nông thôn Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu, một một số giải pháp được nhóm tác giả đề xuất nhằm giúp cho việc áp dụng mô hình trên có tính khả thi cao hơn. KINH NGHIỆM VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VỚI SINH VIÊN NÔNG THÔN... 125 Lời cám ơn: Bài báo này được hoàn thành với sự trợ giúp của "Dự án chia sẻ phương pháp đào tạo nghiên cứu thực địa giữa Đại học TOTTORI và Đại học Huế", Quỹ giao lưu quốc tế của Đại học TOTTORI (năm 2009, 2010 và 2011). TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] ANDACHI Sanji và Ban biên tập sử kí thị trấn NICHINAN (1984). Lịch sử thị trấn NICHINAN - Kinh tế chính trị cận đại 2, Thị trấn NICHINAN (Tiếng Nhật). [2] Hợp tác xã Lâm nghiệp thị trấn NICHINAN (1993). Kỷ niệm 30 năm thành lập Hợp tác xã Lâm nghiệp thị trấn NICHINAN - Quá trình khai thác Lâm nghiệp vùng OKUHINO, Hợp tác xã Lâm nghiệp thị trấn NICHINAN (Tiếng Nhật). [3] Tổng cục Thống kê (2012). Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2012 - Các kết quả chủ yếu, Hà Nội. [4] TSUTSUI Kazunobu, KATAGAKI Ayako, NAKANO Makoto, KODAMA Yoshinori, Bùi Thị Thu, Lê Đình Thuận, Trương Đình Trọng (2013). A report on the solutions for technical problems of an "Overseas Fieldwork" Pilot Program in Vietnam, TOTTORI University Journal of the Faculty of Regional Sciences, Vol.10/No.1 (Tiếng Nhật). Title: EXPERIENCE OF COMMUNITY DEVELOPMENT COOPERATION WITH STUDENTS IN RURAL JAPAN: THE POSSIBILITY OF APPLICATION FOR VIETNAM Abstract: The cooperation process for developing community between the Tottori University and OMIYA New Community Development Association in Nichinan town (Tottori Prefecture, Japan) brought many great benefits in the education of students and community development. Students of Hue University of Sciences have been training in field research in different local areas but there has not been the closed cooperation between the University and community. Therefore, some solutions have been proposed to apply the model of community development in rural Japan to Vietnam. Keywords: Community Development, Tottori, Collaborative education with region 126 TSUTSUI KAZUNOBU và cs. PGS. TS. TSUTSUI KAZUNOBU Khoa Khoa học Vùng, Đại học Tottori, Nhật Bản Email: tsutsui@rs.tottori-u.ac.jp TRẦN THỊ HỒNG ÂN Học viên Cao học, Trường Đại học Tottori, Nhật Bản Email: hong_an_jp@yahoo.co.jp PGS. TS. SEKI KOJI Khoa Khoa học Vùng, Đại học Tottori, Nhật Bản Email: sekikoji@rs.tottori-u.ac.jp ThS. BÙI THỊ THU Khoa Địa lý - Địa chất, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế ĐT: 0914 173 484, Email: lapthuhue@gmail.com ThS. LÊ ĐÌNH THUẬN Khoa Địa lý - Địa chất, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế ĐT: 0905 222 308, Email: lehuudinhthuan@gmail.com TS. NGUYỄN QUANG TUẤN Trung tâm Đào tạo Quốc tế Đại học Huế ĐT. 0905 824 012; Email: tuanhuegis@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf22_363_tsutsuikazunobu_tranthihongan_sekikoji_buithithu_ledinhthuan_nguyenquangtuan_17_tran_thi_thu.pdf