Khóa luận Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý lâm sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới

5.1. Kết luận Công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung cũng như công tác tuần tra, kiểm soát và quản lý lâm sản nói riêng đã có những chuyển biến tích cực; chính quyền địa phương các cấp đã chủ động xây dựng phương án bảo vệ rừng; vai trò, trách nhiệm của các đơn vị chủ rừng ngày càng nâng cao; các hoạt động tuần tra, kiểm tra rừng đã được tăng cường và có sự phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng; các hành vi mua, bán, vận chuyển, cất giữ, KDLS trái pháp luật trên địa bàn Thành Phố Đồng Hới đã giảm hẳn so với năm trước, không có điểm nóng xảy ra. Thông qua công tác tuyên truyền từ đó đã làm chuyển biến nhận thức của nhân dân, tạo được phong trào toàn dân tham gia bảo vệ rừng; hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm hại tài nguyên rừng. Lực lượng Kiểm lâm đã tham mưu kịp thời cho Cấp ủy chính quyền địa phương các cấp về các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; cán bộ Kiểm lâm đã bám địa bàn xã được phân công thực hiện quản lý rừng “tận gốc“. Các vụ khai thác rừng trái phép, đặc biệt là đối với gỗ quý hiếm phần lớn đã được Kiểm lâm phát hiện và ngăn chặn kịp thời.

pdf53 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 125 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý lâm sản trên địa bàn thành phố Đồng Hới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bình có tổng diện tích rừng và đất rừng khá lớn (621.056 ha) chiếm 77% diện tích tự nhiên và đứng đầu cả nước về độ che phủ rừng. Ðể bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, những năm qua bên cạnh các hình thức truyền thống, tỉnh Quảng Bình đẩy mạnh việc giao rừng cho cộng đồng. Bản Cổ Tràng thuộc xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, có 67 hộ với 280 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Từ bao đời nay, bà con sống chủ yếu dựa vào rừng, chặt, đốt, cốt, trỉa. Mặc dù một số hộ đã biết trồng lúa nước và phát triển kinh tế nhưng về cơ bản đời sống của người dân vẫn 23 rất khó khăn. Ðược sự hỗ trợ của Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng, bà con ở bản Cổ Tràng được UBND huyện Quảng Ninh cấp gần 210 ha rừng tự nhiên có trữ lượng gần 33 nghìn m3 gỗ để quản lý, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng. Bản Cổ Tràng thành lập ban quản lý rừng cộng đồng gồm bảy thành viên do trưởng bản làm trưởng ban, có nhiệm vụ cùng với các đoàn thể tuyên truyền, vận động dân bản không chặt phá rừng trái phép. Số tiền bảo vệ rừng 200 nghìn đồng/ha (hỗ trợ trong sáu năm liền) được dự án gửi vào một tài khoản ngân hàng để ban quản lý rừng cộng đồng bản chi trả cho hoạt động bảo vệ rừng. Mỗi chuyến tuần tra rừng, mỗi thành viên được trả 100-200 nghìn đồng. Anh Hồ Văn Giáo nói: “Ðược Nhà nước giao rừng cộng đồng, dân bản phấn khởi lắm. Bà con Vân Kiều chúng tôi vận động nhau không phá rừng làm nương rẫy và không cho người lạ vào rừng khai thác bừa bãi Cứ mỗi tháng tham gia tuần tra bảo vệ rừng, mình được trả lương gần hai triệu đồng để mua lương thực, thực phẩm cho gia đình”. Sau hai năm giao rừng cho cộng đồng bản Cổ Tràng, khu vực rừng này không xảy ra nạn khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép như trước. Chủ tịch UBND xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ cho biết: “Việc giao rừng theo mô hình cộng đồng cho bản Cổ Tràng giúp cho người dân trong bản có kế sinh nhai lâu dài. Mặt khác, dân bản quản lý rừng ngay tại nơi mình cư trú nên rất dễ phát hiện lâm tặc cùng với chính quyền địa phương và kiểm lâm địa bàn tạo thành ba lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả”. Bí thư chi bộ bản Phú Minh kiêm Phó trưởng ban bảo vệ rừng của bản Ðinh Tiến Hùng nói: “Bà con ở bản Phú Minh, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa được giao quản lý, bảo vệ 804 ha rừng khu vực đèo Ðá Ðẽo. Khu rừng này có nhiều gỗ quý nên lâm tặc hay đến khai thác. Có lần, tôi cùng các thành viên trong ban bảo vệ rừng đi tuần tra thì phát hiện một nhóm lâm tặc đang chặt gỗ. Số lượng lâm tặc khá đông, thái độ hung hăng nên tôi gọi thêm dân bản và chính quyền địa phương đến ngăn chặn. Nhờ cách giải thích “mềm dẻo”, có lý có tình nên nhóm lâm tặc phải rút lui. Từ đó, không còn đối tượng nào ngoài bản vào rừng cộng đồng của chúng tôi phá nữa”.Giám đốc Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng Nguyễn Trung Thực cho biết, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa UBND tỉnh Quảng Bình và Ngân hàng Tái thiết Ðức (KFW), từ năm 2012 đến 2017, Quảng Bình giao khoảng 12 nghìn ha rừng ở khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cho cộng đồng dân cư tại 13 xã. Từ năm 2012 đến nay đã giao hơn 5.200 ha rừng cho cộng đồng dân cư ở các huyện Minh Hóa, Bố Trạch và Quảng Ninh. Phấn đấu đến năm 2015, 24 tỉnh Quảng Bình giao hết toàn bộ diện tích rừng mà tỉnh đã ký cam kết cho cộng đồng quản lý, bảo vệ. Cùng với nguồn thu nhập hằng tháng từ công việc bảo vệ rừng, người dân tại các thôn, bản nhận quản lý, bảo vệ rừng được khai thác gỗ và các loại lâm sản khác dùng vào mục đích làm nhà và các vật dụng gia đình, với sự đồng ý của Ban quản lý và phải khai thác đúng kỹ thuật, không được ảnh hưởng đến những cây chung quanh. Về lâu dài, cộng đồng được giao rừng có quyền lợi được tận dụng và hưởng lợi nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng, nuôi động vật rừng, thu phí từ hoạt động tham quan du lịch, dịch vụ nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là đời sống của người dân ở những khu vực được giao rừng còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, khả năng sử dụng nguồn tài chính để duy trì đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng chưa cao. Mặt khác, năng lực quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng không dễ tạo lập ngay được mà phải có thời gian, do vậy việc hỗ trợ, giám sát thường xuyên của chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm là rất cần thiết. 25 PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3.1. Mục tiêu nghiên cứu. - Nắm bắt được thực trạng trong công tác quản lý bảo vệ lâm sản trên địa bàn Thành Phố Đồng Hới nhằm đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ Lâm sản trên địa bàn một cách hiệu quả. Đồng thời tìm hiểu công tác quản lý lâm sản của Hạt Kiểm Lâm TP- Đồng Hới. 3.2. Nội dung nghiên cứu 3.2.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. 3.2.2. Thực trạng quản lý, khai thác sử dụng lâm sản tại thành phố Đồng Hới 3.2.3. Các loài động vật hoang dã được gây nuôi, thuần dưỡng trên địa bàn Thành Phố Đồng Hới 3.2.4. Những thuận lợi và khó khăn của các chủ trang trại trong hoạt động gây nuôi, thuần dưỡng các loài ĐVHD 3.2.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý lâm sản một cách hiệu quả. 3.3. Phương pháp nghiên cứu 3.3.1. Phương pháp thu thập tài liêu thứ cấp - Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các hồ sơ, tài liệu liên quan đến địa điểm nghiên cứu. - Những thuận lợi, khó khăn trong quản lý lâm sản được thu thập từ cơ quan chức năng, người dân. - Thông tin từ internet và các tài liệu tại Hạt Kiểm Lâm TP- Đồng hới 3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp. - Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA) được sử dụng - Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi . 3.3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu. - Số liệu thứ cấp được tổng hợp, chọn lọc và phân tích dựa trên các nội dung cần thiết của đề tài nghiên cứu. - Các thông tin và số liệu thu thập từ phỏng vấn được chọn lọc, kiểm tra, xử lý và phân tích nhằm phục vụ cho việc giải thích các sự kiện, kết quả nghiên cứu. 26 - Số liệu đo đếm ngoài hiện trường xử lý theo hình thức thống kê mô tả dưới sự hỗ trợ của phần mềm Excel. 27 PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 4.1.1. Điều kiện tự nhiên 4.1.1.1.Vị trí địa lý - Đồng Hới là Thành Phố của Tỉnh Quảng Bình, tổng diện tích tự nhiên của Thành Phố là 15.570,56 ha (chiếm 1,93% diện tích toàn Tỉnh), gồm 10 phường và 6 xã (Phòng thống kê Thành Phố Đồng Hới, 2013) - Ranh giới hành chính: Phía Bắc và Tây bắc giáp huyện Bố Trạch Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Quảng Ninh Phía Đông giáp Biển Đông với chiều dài 15,7km Hình 4.1: Bản đồ hành chính Thành Phố Đồng Hới 4.1.1.2.Điều kiện địa hình Nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình Thành Phố có đặc thù nghiêng dần từ Tây sang Đông với đại bộ phận lãnh thổ là vùng đồng bằng và vùng cát ven biển, cụ thể chia thành các khu vực sau: - Vùng gò đồi phía Tây: Chiếm 15% diện tích tự nhiên với các dãy đồi lượn song vắt ngang từ Bắc xuống Nam tại khu vực phía Tây Thành Phố trên địa bàn các xã phường Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, Thuận Đức với độ cao trung bình 12- 15m, độ dốc trung bình 7-10%, thổ nhưỡng của vùng này có đặc điểm độ phì thấp, đất đai nghèo chất dinh dưỡng tầng đất màu không dày chủ yếu thuận lợi phát triển cây trồng lâm nghiệp cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả. 28 - Vùng bán sơn địa xen kẻ đồng bằng chiếm 37%diện tích tự nhiên với cao độ trung bình 5-10m (nơi cao nhất 18m và thấp nhất 2,5m) độ dốc trung bình 5- 10%. Đây là một vòng cung có dạng gò đồi thấp xen kẻ đồng bằng hẹp bao bọc lấy khu vực đồng bằng kéo dài từ Bắc – Đông Bắc đến Tây Bắc - Tây Nam và Nam – Đông Nam, phân bố dọc theo các phường xã Quang Phú, Lộc Ninh, Bắc Lý, Bắc Nghĩa, Thuận Đức, Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, là vùng sản xuất lương thực hoa màu đặc biệt là vùng đai rau xanh phục vụ cho Thành Phố. - Vùng đồng bằng chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên thuộc khu vực trung tâm trên địa bàn các phường Đồng Phú, Đồng Mỹ, Hải Đình, Phú Hải, Đức Ninh, Nam Lí, Bắc Lý. Địa hình có dạng tương đối bằng phẳng , đồng ruộng xen lẫn sông, hồ, kênh rạch, độ dốc nhỏ khoảng 0,2% cao độ trung bình 2- 4m, nơi thấp nhất là 0,5m, đây là nơi tập trung mật độ dân cư cao cùng với các cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của Thành Phố, thuận lợi cho việc phát triển các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. - Vùng cát ven biển nằm ở phía Đông Thành Phố, chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, địa hình gồm các dải đồi cát nối liền chạy song song bờ biển, có nhiều bãi ngang và cửa lạch, độ chia cắt nhỏ với cao độ trung bình 10m,thấp nhất là 3m phân bố đều trên địa bàn Quang Phú, Hải Thành, Bảo Ninh, thuận lợi cho phát triển thủy sản, du lịch biển và một số chương trình rau sạch. 4.1.1.3. Tài nguyên đất Tổng diện tích đất tự nhiên của Thành Phố là 15.570 ha , trong đó diện tích đã được khai thác sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 14.882,59 ha (chiếm 59,58%) đất chưa sử dụng còn lại 687,97ha (chiếm 4,42%). Kết quả điều tra nghiên cứu về mặt thổ nhưỡng (không kể 877,88 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng ) cho thấy đất đai của Thành Phố thuộc 5 nhóm đất chính bao gồm: - Nhóm đất xám: Có diện tích khoảng 9.060ha (chiếm 58.19% diện tích tự nhiên toàn Thành Phố) phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ địa hình thấp, bậc thềm bằng phẳng đến các vùng đồi ở hầu hết các xã phường nhưng tập trung nhiều ở Thuận Đức, Đồng Sơn, Nam Lý, Bắc Lý, đất được hình thành và phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau như đá sa phiến, đá biến chất, đá cát, đá granit có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, nghèo bazơ, độ giữ nước và hấp thụ cation thấp đây là nhóm đất có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, nhưng có giá trị trong nông nghiệp vì phần lớn diện tích đất nằm ở địa hình bằng thoải, thoáng khí thoát nước để canh tác và thích hợp với nhu cầu sinh trưởng phát triển của nhiều cây trồng cạn. Những nơi có địa hình cao thích hợp cho việc 29 trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại cây hoa màu, một số sử dụng trồng rừng chống xói mòn, ngược lại nơi địa hình thấp có khả năng trồng lúa hoặc luân canh lúa màu. - Nhóm đất phù sa: Có diện tích 1.795 ha (chiếm 11,53%) quỹ đất tự nhiên. Phân bố tập trung ở Phú Hải, Đức Ninh, Đức Ninh Đông, Nghĩa Ninh, Nam lý, Bắc Lý, Đồng phú, Lộc Ninh trên địa hình tương đối bằng phẳng, đất được hình thành từ trầm tích sông suối lắng động vật liệu phù sa ở các cấp hạt khác nhau, có thành phần cơ giới thịt nặng, phản ứng ít chua, tổng lượng cation kiềm trao đổi dao động lớn, hàm lượng mùn và đạm tổng số trung bình khá, lân và kali tổng số từ nghèo đến khá, hàm lượng dinh dưỡng dể tiêu ở mức độ nghèo. Hiện nay hầu hết quỹ đất phù sa đã được khai thác đưa vào sử dụng để phát triển các loại cây ăn quả cây công nghiệp ngắn ngày, cây lương thực, thực phẩm cung cấp rau quả hằng ngày cho Thành Phố. Tuy nhiên trên đất phù sa diện tích trồng lúa nước là phổ biến, hệ thống cây trồng chưa được đa dạng hóa và mức độ thâm canh chưa cao nên năng suất cây trồng hiệu quả sử dụng đất còn thấp . - Nhóm đất cát và cát biển: Có diện tích 2.858 ha chiếm 18,35% tổng diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã phưỡng ven biển (Bảo Ninh, Hải Thành, Quang Phú) được hình thành do quá trình tích tụ bồi lắng của các hệ thống sông mang vật liệu phong hóa đá (phổ biến là granit) từ vùng núi phía tây kết hợp với sự hoạt động của biển (quá trình bờ biển: gió, thủy triều) tạo nên các cồn cát, động cát hay dải cát ven sông, ven biển. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, phản ứng ít chua hàm lượng mùn và đạm ở các tầng đều nghèo, lân, kali tổng số và dể tiêu đều rất thấp, tổng lượng cation kiềm trao đổi nghèo dung tích hấp phụ thấp. Hướng sử dụng chính của nhóm đất này là phát triển mô hình nông lâm kết hợp, trồng các loại cây rau màu kết hợp các ban rừng phòng hộ, chống cát bay di động để bảo vệ vùng nội đồng, giữ nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong vùng. Đồng thời hướng quy hoạch sử dụng hiệu quả vùng cát ven biển và phát triển đô thị, du lịch dịch vụ. - Nhóm đất mặn: có diện tích khoảng 520ha, chiếm 3.34% diện tích tự nhiên, phân bố ở địa hình thấp trũng ven biển giáp với các cửa sông ( sông Nhật Lệ, Lệ Ký), tập trung ở phường Phú Hải, Hải Đình, Đức Ninh Đông, đất hình thành từ các sản phẩm phù sa sông, biển, được lắng động trong môi trường nước biển, có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, phản ứng chua vừa,hàm lượng các chất dinh dưỡng thấp, phù hợp cho việc phát triển rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ. - Nhóm đất tầng mỏng: Có diện tích 460 ha chiếm 2,95% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở vùng đồi phía Tây. Đất tầng mỏng được hình thành 30 trong điều kiện địa hình dốc, thảm thực vật che phủ đã bị chặt phá và hậu quả của nhiều năm canh tác quãng canh không có biện pháp bảo vệ, phòng chóng xói mòn nên đất bị rửa trôi, thoái hóa nghiêm trọng, tầng đất còn lại mịn và mỏng(<30cm) kết cấu chặt cứng và nghèo dinh dưỡng cây trồng sinh trưởng và phát triển kém. 4.1.1.4. Khí hậu thủy văn - Điều kiện khí hậu: Đồng Hới nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu Đại Dương. Tính chất khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc vào miền Nam , với đặc trung khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông lạnh ở miền Bắc với hai mùa rỏ rệt trong năm: mùa khô và mùa mưa. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.300-4.000 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm 75-80% tổng lượng mưa cả năm, liên quan nhiều đến áp thấp nhiệt đới, hoàn lưu bảo và hoạt động của gió mùa Đông Bắc, nên thường gây ngập lụt trên diện rộng. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau, lượng mưa ít, trùng với mùa khô hanh nắng gắt, gắn với gió Tây Nam khô nóng, lương bốc hơi lớn gây nên hiện tượng thời tiết cực đoan khô hạn ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 (502-668mm), tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 3,4(44-46mm). Độ ẩm không khí trung bình hằng năm khá cao từ 82-84% ngay trong những tháng khô hạn nhất của mùa hè, độ ẩm trung bình tháng vẫn đạt trên 70% ( riêng những ngày có gió phơn Tây Nam khô nóng, độ ẩm xuống thấp dưới 60%). Thời kì có độ ẩm cao nhất thường xảy ra vào những tháng mùa đông, khi khối không khí cực đới lục địa ( gió mùa Đông Bắc) tràn về qua đường biển kết hợp khối không khí nhiệt đới biển đông luân phiên hoạt động gây ra mưa phùn làm cho độ ẩm không khí rất lớn, thường trên 87%. Lượng bốc hơi bình quân trong năm khoảng 1.030-1.050 mm. Trong mùa mưa, do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương đối cao, nên lượng boocs hơi nhỏ (chỉ chiếm 1/5 đến ½ so với lượng mưa). Vào mùa khô, do nhiệt độ không khí cao, ẩm độ thấp, kết hợp với gió lớn nên cường độ bốc hơi thường lớn. Lượng bốc hơi trong các tháng từ tháng 4 đến tháng 7 cao hơn nhiều so với lượng mưa. Gió bão: Hướng gió thịnh hành, có sự phân bố rõ theo mùa gồm gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) mang theo không khí lạnh và hơi ẩm làm cho nền nhiệt giảm mạnh từ 4-6 0C, so với bình quân gây nên hiện tượng mưa dầm trên diện rộng; gió mùa Đông Nam và đặc biệt là gió Tây Nam khô 31 nóng xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8 (khoảng 30 đến 40 ngày / năm, tập trung chủ yếu trong tháng 7 với những đợt nắng nóng kéo dài tốc độ gió lớn đạt 20m/s, kết hợp với thiếu mưa gây hạn hán,thời tiết vô cùng khắc nghiệt và có nhiều biến động. Ngoài ra địa bàn thành phố nằm trong khu vực miền trung có nhiều cơn bão đi qua, bình quần hằng năm phải chịu ảnh hưởng trực tiếp 1-2 cơn bão(thường từ tháng 7 đến tháng 11) gây nhiều hậu quả đến sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là khu vực trũng thấp,vùng ven biển. 4.1.1.5. Hệ thống sông suối thủy văn Vùng thành phố thuộc khu vực sông Nhật Lệ, một trong 5 con sông chính của tỉnh Quảng Bình. Sông Nhật Lệ do hai nhánh của hệ thống sông Đại Giang và Kiến Giang hợp thành đổ ra Biển Đông qua giữa lòng Thành Phố tạo ra cảnh quan môi trường đẹp. Ngoài ra còn có các sông Mỹ Cương là một nhánh nhỏ đổ ra sông Lệ Kì, sông Lệ Kì là một nhánh nhỏ đổ ra sông Nhật Lệ và sông Cầu Rào là những sông ngắn nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước của Thành Phố. Nhìn chung hệ thống sông ngòi trên địa bàn Thành Phố có đặc điểm chung là chiều dài ngắn, dốc, tốc độ dòng chảy lớn. Sự phân bố dòng chảy theo mùa rõ rệt và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mưa lũ ở thượng nguồn và chế độ thủy triều ở cửa sông. Trong mùa mưa, lượng nước chảy dồn từ các sườn núi xuống các thung lung hẹp, tập trung về các con sông trên địa bàn, cùng với triều cường làm nước sônglên rất nhanh gây lũ lụt và ngập lụt lớn trên diện rộng, ngược lại về mùa khô, mực nước sông xuống thấp, dòng chảy nhỏ đã hạn chế phần nào đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, ở các vùng đất thấp và hạ lưu các con sông thường bị xâm nhập mặn khá sâu về phía thượng nguồn, ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp. 4.1.2. Tình hình kinh tế xã hội 4.1.2.1. Dân tộc, dân số Năm 2013 dân số toàn Thành Phố có 113.973 người chiếm 21% dân số cả Tỉnh. Trong đó dân số thành thị có 78.568 người chiếm 68.93% dân số trong độ tuổi lao động có 67.130 người (chiếm 58,90%) và tỉ lệ thăng dân số tự nhiên là 12,26%, nhìn chung dân cư phân bố không đều giữa các đơn vị hành chính phường, xã; mật độ bình quân là 719 người/km. Tại khu vực các phường nội thị, nơi có nhiều lợi thế phát triển kinh tế, hệ thống hạ tầng cơ sở đồng bộ mật độ dân số thường cao. Phường Đồng Mỹ: 4.652 người /km 32 Nam Lý: 3.504 người/km Hải Đình: 2.607 người/km thấp nhất là Thuận Đức 80 người /km Nghĩa Ninh: 271 người/km 4.1.2.2. Kinh tế Trên đà phát triển chung của xã hội, những năm gần đây nên kinh tế của Thành Phố có những bước tăng trưởng và phát triển khá toàn diện, chất lượng tăng trưởng của một số nghành, lĩnh vực Kinh tế- Xã hội tiếp tục được cải thiện và bắt đầu phát huy hiệu quả, các nghành kinh tế đều có sự phát triển, ngành Công nghiệp – Xây dựng, dịch vụ tăng khá, vượt chỉ tiêu nghị quyết đề ra. Sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy còn khó khắn nhưng đã có sự chuyển biến tích cực. Nguồn thu ngân sách tăng bình quân 28,2%/ năm, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đến năm 2010 ước tính 69 triệu USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.150 USD /năm, gấp 1,53 lần so với năm 2006. 4.2. Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng lâm sản tại TP- Đồng hới 4.2.1. Thực trạng công tác quản lý của cơ quan chức năng 4.2.1.1. Các văn bản quy định trong công tác quản lý ĐVHD gây nuôi, thuần dưỡng Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy quy định về việc bảo vệ ĐVHD. Trong những năm gần đây việc phát triển ĐVHD đang dần được phổ biến ở các địa phương trên cả nước, nhưng các văn bản quy định cho hoạt động phát triển ĐVHD bằng cách gây nuôi, thuần dưỡng vẫn chưa được quan tâm. Tuy nhiên hiện nay, để thực hiện việc quản lý có hiệu quả các hoạt động này, cơ quan chức năng đã căn cứ vào các văn bản quy định hiện hành, đó là: - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004 - Luật Đa dạng sinh học được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 - Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm - Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp ban hành kèm theo Quyết định số 74/2008/QĐ-BNN ngày 20/6/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc công bố Danh mục các loài động, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp. Phụ lục của Công ước CITES bao gồm: 33 a. Phụ lục I: là danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên vì mục đích thương mại. b. Phụ lục II: là danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã hiện chưa bị đe dọa tuyệt chủng, nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng, nếu việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật từ tự nhiên vì mục đích thương mại những loài này không được kiểm soát. c. Phụ lục III: là danh mục những loài động vật, thực vật hoang dã mà một nước thành viên của Công ước CITES yêu cầu nước thành viên khác của Công ước CITES hợp tác để kiểm soát việc xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu vì mục đích thương mại. - Quyết định số 74/2008/QĐ-BNN ngày 20/6/2008 về việc công bố Danh mục các loài động, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp - Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 quy định về quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu và quá cảnh các loài động, thực vật hoang dã - Thông tư số 16/2007/TT-BTC ngày 14/02/2007 Hướng dẫn quản lý, sử dụng Chứng chỉ xuất khẩu mẫu lưu niệm thuộc phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã nguy cấp - Quyết định số 140/2000/QĐ-BNN-Kl ngày 21/12/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc công bố Danh mục một số loài động vật hoang dã là thiên địch của chuột - Nghị định 99/2009/NĐ-CP, ngày 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản - Thông tư liên tịch 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC- TANDTC của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công An, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản - Quyết định số 59/2005/QĐ-BNN, ngày 10/10/2005 về việc ban hành Quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản - Thông tư 50/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Quyết định 95/2008/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi 34 - Thông tư 90/2008/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu - Quyết định 104/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên - Công văn 410/TTg-NN của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế chăn nuôi, quản lý, khai thác, vận chuyển, tiêu thụ đối với động vật hoang dã - Quyết định 45/2005/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, Danh mục động vật, sản phẩm động vật thuộc diện phải kiểm dịch. - Chỉ thị số 359/CT-TTg về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã Ngoài ra còn có một số văn bản quy định khác liên quan đến quản lý ĐVHD như các Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyếtở địa phương 4.2.1.2. Cách thức, phương thức và biện pháp quản lý ĐVHD của ngành chức năng trên địa bàn tỉnh - Về cách thức quản lý Cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh chỉ đạo Kiểm lâm các địa bàn theo dõi, thống kê và báo cáo tất cả các hoạt động gây nuôi, thuần dưỡng các loài ĐVHD trên địa bàn quản lý. Hạt Kiểm lâm sở tại nắm kết quả số liệu và báo cáo Chi cục Kiểm lâm định kỳ 3 tháng một lần. Chi cục Kiểm lâm rà soát sự biến động về các số liệu thống kê và có định hướng xây dựng chương trình quản lý, ban hành các văn bản chỉ đạo các hoạt động nói trên, tiến tới ổn định và đi vào nề nếp. - Về phương thức quản lý Chi cục Kiểm lâm thống nhất chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Đồng Hới và Đội Kiểm lâm cơ động số 1 thống kê tình hình hoạt động gây nuôi, thuần dưỡng các loài ĐVHD trên địa bàn quản lý, Hạt Kiểm lâm chỉ đạo các trạm Kiểm lâm trên địa bàn thành phố hoặc Bộ phận nghiệp vụ của Hạt, phân công Kiểm lâm phụ trách địa bàn theo dõi, thống kê và báo cáo. Quá trình thực hiện, nếu phát hiện có dấu hiệu sai phạm trong hoạt động gây nuôi của các trang trại thì Kiểm lâm địa bàn báo cáo kịp thời cho cấp trên và tiến hành xử lý theo quy định của Pháp luật. 4.2.2.Thực trạng khai thác, sử dụng lâm sản Thành phố Đồng Hới là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của Tỉnh, quá trình đô thị hóa đã tác động không nhỏ đến tình trạng mua, bán, vận chuyển, cất giữ, KDLS trái pháp luật trên địa bàn. Bên cạnh đó với các tuyến đường giao thông thuận lợi: tuyến đường quốc lộ I, tuyến đường tránh Thành Phố, đường 35 Hồ Chí Minh nhánh đông và đường sắt, đường thủy đi qua Thành Phố, điều kiện đó tạo thuận lợi cho việc liên thông trong mua, bán, vận chuyển lâm sản. Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép đó là: Chưa xây dựng phương án, giải pháp sát đúng với tình hình thực tế trên địa bàn quản lý để tuần tra, kiểm soát lâm sản. Trước thực trạng đó: Trong những năm gần đây, tình hình mua, bán, vận chuyển, cất giữ, KDLS trái pháp luật trên địa bàn diễn ra khá phức tạp, công tác đấu tranh, ngăn chặn đã làm giảm tác động lên tài nguyên rừng, làm ổn định tình hình trên địa bàn. Nhưng chưa thực sự hạn chế được một cách triệt để. Các trại nuôi có lãi nhờ sử dụng công nhàn rỗi trong gia đình, nguồn thức ăn cho vật nuôi được tận dụng từ các sản phẩm nông nghiệp như các loại rau, lá, củ, quả có sẵn tại gia đình và địa phương. Ngoài ra, mặt bằng thiết kế cho trại nuôi thuận lợi về địa hình cũng như về diện tích, đảm bảo cho hoạt động với quy mô lớn; bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên ở Đồng Hới thuận lợi cho việc gây nuôi, thuần dưỡng một số loài ĐVHD đang phổ biến trên cả nước. Bảng 4.2. Các vi phạm lâm luật trên địa bàn thành phố Đồng Hới năm 2015-2016 Năm 2015 2016 Hành vi vi phạm 15 22 Đối tượng vi phạm (vụ) 15 22 Đã xử lí vi phạm (vụ) 15 22 Lâm sản, phương tiện tịch thu: + Gỗ các loại(m3) (gỗ thông thường và gỗ quý hiếm) 9.537 24,149 + Động vật rừng (cá thể/kg) 53 12 + Lâm sản khác (kg) 400 0 36 (gốc, rễ gỗ Hương và gốc, rễ, cành, nhánh, gỗ Trắc) Các cơ quan chuyển giao và phối hợp (vụ) 03 05 Số vụ vi phạm từ ngoại tỉnh đến (vụ) 04 0 Nhận xét: Qua số liệu trên cho ta thấy tình hình vi phạm pháp luật về quản lý rừng , phát triển, bảo vệ rừng trong năm 2015 và 2016 nhìn chung tăng, chỉ có lâm sản và phương tiện tịch thu về động vật rừng của năm 2015(53 cá thể/kg) tăng nhanh so với năm 2016(12 cá thể/kg) và các lâm sản khác năm 2015 là (400kg) năm 2016(0 kg). Từ đó chứng minh rằng cơ chế quản lý của các cấp chính quyền trong công tác quản lý bảo vệ lâm sản ngày càng được đề cao và các giải pháp được thực hiện một cách nghiêm túc đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm ý thức của người dân đặc biệt người dân sống gần rừng được đề cao. 4.3. Các loài động vật hoang dã được gây nuôi, thuần dưỡng trên địa bàn Thành Phố Đồng Hới 4.3.1. Những hoạt động Quản lý trại nuôi động vật hoang dã ở Thành Phố Đồng Hới Quảng Bình là một trong những tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú; đặc biệt là đa dạng về các loài động thực vật có nguồn gốc từ rừng. Thời gian qua nạn săn bắt, mua bán, vật chuyển động vật rừng trái phép trên địa bàn xảy ra nhiều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kiểm lâm đã phát hiện, xử lý kịp thời nhiều vụ mua bán, vận chuyển có tính hệ thống, liên tỉnh với khối lượng lớn động vật rừng hoang dã. Việc gây nuôi sinh sản các loài động vật có nguồn gốc từ rừng đang được Chính phủ khuyến khích. Một số phường, xã đã hình thành trang trại gây nuôi các loài ĐVHD như: Lợn rừng, nhím, kỳ đà vân, kỳ đà hoa, trăn, cá sấu...Nhiều mô hình đã thành công và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, quản lý hoạt động nuôi nhốt động vật rừng rất phức tạp do chưa có quy trình quản lý hoạt động hoặc rất khó xác định nguồn gốc hợp pháp đối với các loài động vật nuôi nhốt. Theo 37 thống kê của Chi cục Kiểm lâm, tại Đồng Hới đến tháng 12/2014 đã có 23 trại gây nuôi ĐVHD thông thường được cấp phép, thuộc các xã Bảo Ninh, phường Hải Đình, Đồng Phú, Lộc Ninh, Bắc Lý, Đức Ninh, Nghĩa Ninh, Bắc Nghĩa, Nam Lý, Đồng Sơn và Thuận Đưucs với 3.888 cá thể gồm các lòai Nhím, Heo rừng, Rùa Ba gờ, baba trơn, kỳ đà vân, kỳ đà hoa, rùa đất Seepon, rắn ráo trâu, trĩ đỏ, vòi hương, cầy vòi mốc, cá sấu nước ngọt, ton. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có một số cơ sở chưa có thủ tục hoặc đang hoàn chỉnh thủ tục để được cấp phép. Điều đáng nói là mức độ phát triển cơ sở nuôi nhốt này đã và đang có chiều hướng gia tăng nhanh. Nếu không có giải pháp quản lý hiệu quả thì sẽ xuất hiện nhiều bất cập về quản lý nguồn gốc các loài gây nuôi cũng như hạn chế hiệu quả kinh doanh của các trang trại này. Nhiều cơ sở đã thu được hiệu quả kinh tế từ việc gây nuôi các loài động vật hoang dã như trang trại của bà Lê Thị Thiết ở tiểu khu 13, phường Nam Lý Bảng 4.3. Tổng hợp các trại nuôi ĐVHD trên địa bàn TP Đồng Hới đến 2015 TT Phường/Xã Số hộ nuôi Loài Số lượng (con) Mục đích nuôi Nguồn gốc 1 Bảo Ninh 02 Lợn rừng, Nhím, Kỳ đà vân 101 Thương mại Mua tại trại nuôi Phú Yên, Quảng Ngãi và sinh sản Mua từ t.nuôi Anh Nguyên, Thịnh Vượng, Bảo Hưng ở Bố Trạch, Đồng Hới, Q Bình 2 Hải Đình 02 Cá sấu nước ngọt, Rùa núi vàng 36 Thương mại Mua từ t.nuôi Đậu Văn Minh ở Cảnh Dương, Q. Trạch, QB Mua tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước (Minh Hóa) 3 Đồng Phú 01 Vòi Hương, Ton, Cầy vòi mốc 14 Thương mại Mua từ trại nuôi trường Thịnh, lệ thủy 4 Lộc Ninh 01 Lợn rừng, Nhím 17 Thương mại Mua từ trại nuôi Hoàng Điềm, Đồng Hới, Quảng Bình. 5 Bắc Lý 02 Lợn rừng, Nhím, Vòi 21 Thương mại Mua từ trại nuôi của ông Phạm Xuân Hải- Đồng Hới 38 hương 6 Đức Ninh 01 Nhím 22 Thương mại Mua từ t.nuôi Hồ Ngọc Hùng ở Đawk Mil, Đăk Nông 7 Ngĩa Ninh 01 Lợn rừng 18 Thương mại Mua tại trại nuôi của bà ái Đồng Phú - ĐH 8 Bắc Nghĩa 05 Lợn rừng, Nhím, Kỳ đà hoa, Trĩ đỏ, Rùa ba gờ, baba trơn 2.300 Thương mại Mua từ trại nuôi của ông Phạm Xuân Hải- Đồng Hới 9 Nam Lý 01 Lợn rừng, Vòi hương, Cầy vòi móc, Ton, Rùa ba, Rùa đất Sêpon, Kỳ đà vân, Kỳ đà hoa, Trắn ráo trâu 1.279 Thương mại Mua phát mại tại HKL Đ.Hới; Mua từ trại nuôi ở Phong Điền- Thừa Thiên Huế và Triệu Phong - Q.Trị. Mua từ trại nuôi ông Vũ Văn Hà, tỉnh Vĩnh Phúc 10 Đồng Sơn 04 Nhím, Lợn rừng 29 Thương mại Mua từ trại nuôi Thịnh Vượng ở TP Đồng Hới, QB. 11 Thuận Đức 04 Nhím, Lợn rừng 51 Mua từ t.nuôi Phạm Xuân Hải ở Bắc Nghĩa, Đồng Hới, Q Bình Tổng 23 3.888 Do hoạt động gây nuôi của các trang trại có sự biến động thường xuyên về số lượng trại nuôi, số lượng cá thể cũng như một số chỉ tiêu khác nên định kỳ định kỳ 3 tháng, yêu cầu thống kê và cập nhật số liệu 1 lần. 4.4. Những thuận lợi và khó khăn của các chủ trang trại trong hoạt động gây nuôi, thuần dưỡng các loài ĐVHD 4.4.1. Thuận lợi: 39 Các trại nuôi có lãi nhờ sử dụng công nhàn rỗi trong gia đình, nguồn thức ăn cho vật nuôi được tận dụng từ các sản phẩm nông nghiệp như các loại rau, lá, củ, quả có sẵn tại gia đình và địa phương. Ngoài ra, mặt bằng thiết kế cho trại nuôi thuận lợi về địa hình cũng như về diện tích, đảm bảo cho hoạt động với quy mô lớn; bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên ở Đồng Hới thuận lợi cho việc gây nuôi, thuần dưỡng một số loài ĐVHD đang phổ biến trên cả nước. Các trại nuôi chấp hành tốt các yêu cầu và quy định của Nhà nước về công tác bảo tồn các loài ĐVHD và quy định gây nuôi, thuần dưỡng; tích cực tham gia tất cả các nghĩa vụ đối với Nhà nước như: bảo vệ môi trường, thực hiện nghĩa vụ thuế Nhà nước; sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm gây nuôi, nhằm mục đích vừa học tập, vừa phổ biến kỹ thuật gây nuôi. 4.4.2. Khó khăn Các trại nuôi đã tiến hành hoạt động trên cơ sở tự phát, chưa có kinh nghiệm, chưa được tiếp cận và tập huấn các quy trình kỹ thuật gây nuôi, thuần dưỡng ĐVHD; bên cạnh đó, sự quan tâm tạo điều kiện về vốn, kỹ thuật cũng đang còn hạn chế, do đó hoạt động của các trại nuôi vẫn đang còn mang tính chất nhỏ lẻ, mò mẫm và thử nghiệm. Ngoài ra, các trại nuôi vẫn chưa được hướng dẫn về trình tự thủ tục đăng ký gây nuôi, kiểm dịch và dẫn giống từ địa phương khác về nuôi tại địa bàn. Công tác này hầu như mang tính sự vụ, nghĩa là trại nuôi nào có dẫn giống về địa phương, cơ quan chức năng có thông tin thì đến trại nuôi để kiểm tra và lập hồ sơ thủ tục cho các loài mới được dẫn về. Các trại nuôi chưa có hệ thống văn bản quy định chuẩn cho hoạt động gây nuôi, thuần dưỡng các loài ĐVHD, điều này làm cho các chủ trại nuôi vẫn còn hoang mang lo ngại về thủ tục gây nuôi, ảnh hưởng đến việc đầu tư sản xuất; ngoài ra, sản phẩm khi xuất chuồng ở các trại nuôi không được chứng nhận nguồn gốc, sẽ ảnh hưởng đến đầu ra tiêu thụ sản phẩm của các trang trại. Năm 2016 đơn vị đã phấn đấu hoàn thành tôt nhiệm vụ chính trị được giao, đạt được những kết quả ghi nhận, tuy vậy còn một số mặt tồn tại, hạn chế cần nghiêm túc nhìn nhận để trong thời gian tới khắc phục như sau: Vai trò của một số đồng chí lãnh đạo trạm tổ, bộ phận chưa được phát huy ; giải quyết một số công việc có lúc, có khi còn lung túng, trong điều hành, xử lý công việc đôi lúc còn thiếu nhạy bén, thiếu khoa học,một số bộ phận chưa thật sâu sát cơ sở vì vậy chưa nắm chắc tình hình địa bàn để kịp thời tham mưu cho lãnh đạo. Hoạt động của một số kiểm lâm đại bàn còn hạn chế như khả năng thăm mưu văn bản, tổ chức tuyên truyền trong nhân dân, thiếu tính sáng tạo linh 40 hoạt trong thực hiện nhiệm vụ, chưa chịu khó học hỏi hoặc khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý lâm sản được chú trọng thực hiện thường xuyên, tuy nhiên các hành vi vi phạm về quản lý lâm sản vẩn còn xảy ra trên địa bàn nhưng chưa được phát hiện kịp thời và xử lý triệt để. Tác động của việc khai thác gỗ trái phép lên sinh kế người dân địa phương Khai thác gỗ trái phép làm giảm độ che phủ rừng, ảnh hưởng đến lớp thảm thực vật, giảm khả năng giữ nước, điều hòa nguồn nước và khí hậu, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, mật độ các đợt lũ lụt, sạt lở đất.Bên cạnh đó, còn ảnh hưởng đến cuộc sống xã hội của khu vực và cộng đồng như làm hỏng đường giao thông, mất an ninh trật tự thôn xóm, đặc biệt, người dân mất đi nguồn tài nguyên được hưởng từ hoạt động quản lý, bảo vệ rừng. Nguyên nhân dẫn đến việc khai thác, chế biến, tiêu thụ gỗ trái phép. Về quản lý nhà nước: Rừng tự nhiên tại một số địa phương đã được giao cho cộng đồng và hộ gia đình quản lý, nhưng hiệu quả quản lý chưa cao (do chính sách hưởng lợi chưa cụ thể và chưa đầy đủ). Bên cạnh đó, các chủ rừng chưa chú trọng đúng mức vai trò, trách nhiệm để có biện pháp cụ thể trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại địa phương. Đồng thời, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành và các lực lượng (Công an, Quân đội, Kiểm lâm) trong công tác bảo vệ rừng chưa chặt chẽ. Công tác xác minh nguồn gốc lâm sản và xử lý vi phạm chưa triệt để. Ngoài ra, việc tích nước tại các lòng hồ thủy điện cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển công cụ, phương tiện, lương thực vào rừng để khai thác gỗ trái phép. Công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng chưa hiệu quả: Chưa có quy ước quản lý, bảo vệ rừng và mức chi trả tiền công cho người dân bảo vệ rừng quá thấp (100.000đ/ha/năm) nên chưa thu hút được sự tham gia của người dân vào công tác bảo vệ rừng. Hạn chế trong công tác tuyên truyền: Hoạt động tuyên truyền, vận động và phổ biến thông tin pháp luật chưa được chú trọng đúng mức và không có sự lồng ghép với các dự án, chương trình lễ hội hay hoạt động của các ban, ngành liên quan.Một số hạn chế trong công tác thực thi pháp luật: Các đơn vị quản lý còn thụ động trong việc nắm bắt, ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật, nhất là việc quản lý các đối tượng thường xuyên vi phạm; Năng lực, kinh nghiệm của các ngành chức năng quản lý, bảo vệ rừng còn hạn chế; Công tác xử 41 lý đối với các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng thiếu kiên quyết, chưa triệt để; Công tác giám sát, kiểm tra và đốc thúc sau khi có quyết định xử phạt thực hiện không đầy đủ các quy định của pháp luật, tỷ lệ nộp phạt còn thấp. Bên cạnh đó, việc điều tra xác minh, truy tìm đối tượng vi phạm chưa thực hiện triệt để, do đó hiệu lực thi hành pháp luật cũng như hiệu quả pháp chế chưa cao. Hơn nữa, phạm vi quản lý của kiểm lâm quá rộng, địa hình đồi núi, sông suối chia cắt phức tạp, khó khăn trong việc kiểm tra thường xuyên để phát hiện vi phạm và xử lý. 4.4.3. Thách thức Đời sống của dân cư sống liền rừng và ven rừng nhìn chung đang còn khó khăn, lực lượng lao động thiếu việc làm. Đồng hới là đô thị đang trên đà phát triển nên việc xây dựng lớn, nhu cầu sử dụng lâm sản cao; từ đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến công tác QLBVR trên địa bàn. Thiếu sự tham gia phối hợp của các bên liên quan công tác BVR-PCCCR nhất là công tác phối hợp điều tra, truy tìm thủ phạm và xử lý trách nhiệm gây cháy rừng theo quy định của pháp luật vẩn còn chậm, hiệu quả chưa cao. Chính sách đào tạo đội ngủ cán bộ so với yêu cầu nhiệm vụ QLBVR- SDPTR còn hạn chế. Công tác quản lý sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp chính là nhiệm vụ mới của lực lượng kiểm lâm, chưa được tiếp cận; năng lực nghiệp vụ, kinh nghiện thực tiễn chưa đáp ứng yêu cầu ở cơ sở. Một số xã phường, chủ rừng chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng, PCCCR; chưa làm hết vai trò trách nhiệm của địa phương theo quy định trong thực hiện quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho chính quyền; hướng dẫn, kiểm tra, sử dụng và phát triển rừng vad quản lý lâm sản; tuy nhiên một số đơn vị chưa quan tâm triển khai thực hiện hoặc có thực hiện nhưng chưa sâu sát, chưa quyết liệt. Các hoạt động kiểm tra, tuần tra chưa được tăng cường thường xuyên và thiếu sự phối hợp kết hợp chặt chẽ vưới chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý cán bộ của trạm, tổ, bộ phận còn hạn chế, việc chỉ đạo triển khia kế hoạch của đơn vị, quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của kiểm lâm địa bàn chưa quyết liệt, thường xuyên, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực tham mưu vận động tuyên truyền trong nhân dân của 42 một số cán bộ, công chức trong đơn vị còn hạn chế; không có chiều sâu ; nhất là đối với một số kiểm lâm địa bàn. 4.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý lâm sản một cách hiệu quả. - Tham mưu kịp thời cho Hạt trưởng, chỉ đạo các xã, phường đấu tranh kiên quyết chống các hành vi phá rừng, khai thác rừng trái phép, chống các hành vi mua, bán, vận chuyển, cất giữ, KDLS trái pháp luật. Tiếp tục tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà Nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn theo Quyết định số 07/2012/QĐ– TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng. - Kiện toàn, củng cố Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách về BVR và PCCCR; tăng cường hoạt động thường xuyên, có hiệu quả. Theo dõi và chỉ đạo sát sao công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy chữa cháy rừng ở các vùng trọng điểm. - Phát động và tổ chức thực hiện phong trào thi đua gắn với nội dung cụ thể như: Kiểm lâm viên giỏi, Kiểm lâm phụ trách địa bàn giỏi, nội dung thi đua phải được định hướng theo các chủ đề: Kiểm lâm gắn với rừng, tinh thông về nghiệp vụ; trong sạch, kỷ cương, vững mạnh. - Tiếp tục quán triệt, phổ biến và duy trì thực hiện các nội dung chấn chỉnh, nâng cao năng lực, phẩm chất cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức Kiểm lâm; đồng thời gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Kiểm lâm Đồng Hới trong sạch vững mạnh trên cả hai mặt: năng lực công tác và phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn Thành phố Đồng Hới. - Tham mưu cho Hạt trưởng chỉ đạo Kiểm lâm địa bàn rà soát, thống kê, quản lý chặt chẽ các cơ sở cưa xẽ, chế biến gỗ, kinh doanh lâm sản, các trại nuôi động vật rừng, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng hồ sơ lâm sản hợp pháp, trại nuôi động vật rừng để kinh doanh lâm sản và động vật rừng trái pháp luật; tháo dỡ các cơ sở cưa xẻ gỗ nằm ngoài quy hoạch. - Tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Thông tư số 01/2012/TT – BNNPTNT ngày 04/01/2012 quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; kiểm tra, xác nhận lâm sản nhập, xuất, đưa vào lưu thông đúng quy định. Trên tinh thần quản lý lâm sản chặt chẽ nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông lâm sản. 43 - Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức phát động phong trào nhân dân tố giác các đối tượng, tụ điểm, phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng, quản lý lâm sản. - Tăng cường tuần tra trinh sát nắm địa bàn; xây dựng cơ sở, đội ngũ cộng tác báo tin, kịp thời bắt giữ, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ rừng tại gốc; chỉ đạo cán bộ Kiểm lâm phụ trách địa bàn về cơ sở để chủ động nắm chắc tình hình, làm chủ địa bàn. Xác định được vùng trọng điểm về khai thác, lấn, chiếm rừng trái phép, các tuyến, tụ điểm kinh doanh, chế biến lâm sản trái phép để xây dựng kế hoạch, phương án đấu tranh ngăn chặn ngay tại gốc. Từ đó nhằm hạn chế việc kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên khâu lưu thông; thực hiện tốt phương châm “ Bảo vệ rừng tại gốc”. - Cải thiện hệ thống quản lý khai thác gỗ gắn liền với FLEGT (Kế hoạch hành động “Tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản”) Cụ thể hóa các quy định pháp luật phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa của người dân địa phương để họ hiểu rõ chính sách phát triển lâm nghiệp, tôn trọng tập tục của người dân địa phương; Xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp, bao gồm cả lợi ích từ sản phẩm gỗ; Quy định cụ thể về đơn vị chịu trách nhiệm hỗ trợ điều tra, thiết kế và cấp phép khai thác cho người dân địa phương; Vai trò, trách nhiệm của chủ rừng trong hoạt động quản lý bảo vệ. Bên cạnh đó, hỗ trợ, tư vấn về hoạt động quản lý bảo vệ rừng, các hoạt động sau giao rừng (làm giàu, phục hồi, tuần tra, khai thác); Điều tra hiện trạng rừng cộng đồng, xác định tăng trưởng và trữ lượng có thể khai thác được hàng năm. Đồng thời, xây dựng các kênh truyền thông qua các hoạt động văn hóa cộng đồng để người dân hiểu và tuân thủ đúng quy định của Luật Lâm nghiệp; Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên rừng phân theo địa phương và các chủ rừng, kế hoạch giám sát, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng theo từng năm; Cấp quyền sử dụng đất hợp pháp cho người dân đối với những hộ có rừng, nương rẫy đã khai hoang từ lâu để hợp thức hóa thủ tục về đất đai, tránh tình trạng tranh chấp giữa các hộ. - Phát triển các mô hình sinh kế dựa vào tài nguyên rừng Quy hoạch diện tích khu vực rừng quản lý, bảo vệ hoặc rừng gần dân cư quản lý kém hiệu quả, ổn định sinh kế cho người dân; Hỗ trợ cho vay vốn lãi suất thấp trong thời gian dài để xây dựng mô hình trồng rừng, chăn nuôi bò và trồng các loài cây ăn quả, cây công nghiệp đặc sản, đặc trưng của vùng; Nghiên 44 cứu những loài cây, con có giá trị kinh tế có thể kết hợp canh tác dưới tán rừng hoặc những loại cây ngắn ngày trồng xen trong giai đoạn vườn rừng chưa khép tán như các loại cây dược liệu Ngoài ra, đào tạo và phát triển thêm một số nghề, đặt biệt là các nghề sử dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương như mây, tre, đan lát, các nghề truyền thống kết hợp du lịch sinh thái như dệt thổ cẩm; Nhân rộng mô hình nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng; Xem xét tăng phí để tăng thêm mức thu nhập cho người dân quản lý, bảo vệ rừng; Đầu tư, quy hoạch và xây dựng hệ thống đường giao thông để thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản sau khai thác từ rừng trồng, giảm chi phí cho vận chuyển. - Quản lý bảo vệ rừng Công tác quản lý, bảo vệ rừng chỉ đạt hiệu quả khi có sự phối hợp tốt giữa chủ rừng, lực lượng Kiểm lâm và chính quyền địa phương. Vì thế, chính quyền địa phương phải xem đây là nhiệm vụ của mình, phải tham gia giải quyết các vấn đề đất đai, sinh kế, an sinh xã hội, đồng thời có biện pháp răn đe, giáo dục, phòng ngừa hành vi vi phạm. Trong đó cần: Tập huấn, nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý và khai thác tài nguyên bền vững; Đào tạo và phát triển thêm một số nghề để người dân có thể chuyển đổi nghề khai thác rừng sang một số ngành nghề khác; Có chính sách bảo vệ, giữ bí mật, khen thưởng thích đáng đối với những cá nhân mạnh dạn tố cáo các trường hợp vi phạm lâm luật; Thực hiện đồng bộ chính sách cấm khai thác và xử lý nghiêm các hành vi khai thác gỗ trái phép; Cắm mốc 3 loại rừng để người dân cũng như các chủ rừng nắm rõ ranh giới quản lý của mình. Bên cạnh đó, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trang bị các tư trang, thiết bị cần thiết cho lực lượng bảo vệ rừng; Tuyên truyền việc hạn chế sử dụng gỗ rừng tự nhiên, khuyến khích sử dụng sản phẩm gỗ rừng trồng và các sản phẩm khác ngoài gỗ.[1] - Theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các cơ sở cưa xẻ gỗ, cơ sở chế biến,kinh doanh lâm sản; các trại nuôi động vật rừng và các nhà hàng, quán ăn kinh doanh sản phẩm từ động vật rừng ,hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi nhập, xuất lâm sản; đặc biệt chú trọng kiểm tra, giám sát các cơ sở cưa xẻ gỗ ngoài quy hoạch đã tháo dỡ không để tái hoạt động,tổ chức kí cam kết, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm,vvtổ chức kiểm tra truy quét các tụ điểm mua, bán, cất giữ chế biến, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái pháp luật.[1] 45 PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1. Kết luận Công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung cũng như công tác tuần tra, kiểm soát và quản lý lâm sản nói riêng đã có những chuyển biến tích cực; chính quyền địa phương các cấp đã chủ động xây dựng phương án bảo vệ rừng; vai trò, trách nhiệm của các đơn vị chủ rừng ngày càng nâng cao; các hoạt động tuần tra, kiểm tra rừng đã được tăng cường và có sự phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng; các hành vi mua, bán, vận chuyển, cất giữ, KDLS trái pháp luật trên địa bàn Thành Phố Đồng Hới đã giảm hẳn so với năm trước, không có điểm nóng xảy ra. Thông qua công tác tuyên truyền từ đó đã làm chuyển biến nhận thức của nhân dân, tạo được phong trào toàn dân tham gia bảo vệ rừng; hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm hại tài nguyên rừng. Lực lượng Kiểm lâm đã tham mưu kịp thời cho Cấp ủy chính quyền địa phương các cấp về các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; cán bộ Kiểm lâm đã bám địa bàn xã được phân công thực hiện quản lý rừng “tận gốc“. Các vụ khai thác rừng trái phép, đặc biệt là đối với gỗ quý hiếm phần lớn đã được Kiểm lâm phát hiện và ngăn chặn kịp thời. 5.2. Kiến nghị - Các cấp ủy Đảng địa phương cần có Nghị quyết chuyên đề về quản lý bảo vệ lâm sản,chính quyền các cấp quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan để có chế độ thưởng phạt xứng đáng trong quản lý bảo vệ lâm sản. - Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các cơ sở kinh doanh. - Tăng cường thêm cán bộ cho đơn vị để tiếp tục tổ chức truy quét, xử lý các đối tượng khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép. - Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ Kiểm lâm. - Rà soát và xử lý quyết liệt các cơ sở, xưởng chế biến lâm sản vi phạm. - Các cơ quan, địa phương phải chủ động phối hợp với lực lượng chức năng, tập trung rà soát các cơ sở, xưởng chế biến lâm sản và kiên quyết xóa bỏ ngay các cơ sở hoạt động không phép, nằm ngoài quy hoạch . - Cần khen thưởng cao cho những người tố giác tội phạm, và có cơ quan bảo vệ cho những người tố giác tội phạm. - Cần phải tăng thêm thù lao cho những người tham gia bảo vệ, cần có chính sách khen thưởng cho những người có thành tích. Trong khi tham gia bảo vệ nếu bị thương tích hoặc thiệt mạng cần có chế độ thương tật cho những người đó. 46 - Duy trì công tác động viên khen thưởng đối với những đơn vị có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ rừng, xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố ý làm trái những quy định của Hạt Kiểm Lâm. Để đảm bảo phương tiện kỹ thuật cho công tác QLBV,cũng như đời sống sinh hoạt của cán bộ công nhân viên từng trạm gác nhằm đảm bảo tốt công tác QLBV có hiệu quả. Cần có những chính sách khuyến khích động viên các hộ dân tham gia vào công tác QLBV Lâm sản trên địa bàn. - Thường xuyên kiểm tra công tác quản lý bảo vệ của từng trạm, tránh tình trạng lơ là, thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý hay triển khai không phù hợp. 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Nghị định157/2013/NĐ-CP [2]. Hạt Kiểm Lâm Thành Phố Đồng Hới, tài liệu báo cáo sáng kiến kĩ thuật, báo cáo tổng kết năm 2015-2016 phương hướng nhiệm vụ năm 2017. [3]. faree&ie=UTF- 8&q=t%C3%ACnh+h%C3%ACnh+khai+th%C3%A1c+l%C3%A2m+s%E1%B A%A3n&sa=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm [4]. [5]. Đề tài đánh giá công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở Hạt Kiểm Lâm Thành Phố Đồng Hới Tỉnh Quảng Bình khóa luân tốt nghiệp. [6]. chuyen-bien-tich-cuc-2142007/ [7]. 05-nam-2005-2010-54217/ [8]. [9]. [10].

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_giai_phap_quan_ly.pdf
Tài liệu liên quan