Hội xuân trên vùng đất Hàm Rồng

Không những thế, Hàm Rồng còn là vùng đất nằm ở vị trí trọng điểm của các con đường trung chuyển Đông - Tây; Bắc - Nam, dẫu đi ngược, về xuôi, vào Nam, ra Bắc đều phải qua Hàm Rồng. Ở vào vị trí ấy, Hàm Rồng có nhiều điều kiện tiếp nhận các luồng giao thoa, tiếp biến văn hóa, và trong lịch sử đây là vùng đất chứng kiến bao cảnh huy hoàng cũng như tang thương trong chiến tranh từ đầu Công nguyên, Bắc thuộc, Nam - Bắc triều, chống Pháp, chống Mỹ. Các giai đoạn lịch sử qua đi đã để lại nơi đây một hệ thống di sản văn hoá nhiều giá trị, trong khối di sản văn hoá ấy, lễ hội trong vùng được xem là điển hình và độc đáo nhất vùng.

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hội xuân trên vùng đất Hàm Rồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
75 S 1 (46) - 2014 - Di sn vn hoŸ phi vt th Hàm Rồng, nơi hội tụ linh khí của đất trời, núithì trùng điệp uốn lượn uyển chuyển, sôngMã hùng mạnh chảy qua, dấu vết của biển mặn mòi vẫn đọng lại đâu đó mà khi đi qua đây ai cũng cảm nhận thấy biển rất gần. Giữa cái bao la của “đồng bằng” sông Mã nổi lên một vùng đất với cảnh quan, sinh thái đa dạng, độc đáo và hiếm có. Những nơi có địa lý, cảnh quan như Hàm Rồng thường được xem là rất linh. Chẳng thế mà huyền thoại đã kể: Cao Biền người Trung Quốc đã từng muốn đem mả cha mẹ đến táng ở vùng này, rồi ngay cả người Việt - Tả Ao cũng có mong muốn ấy. Sang thế kỷ XIX, Long Hạm được chọn khắc vào Cửu Đỉnh của Huế. Xem ra, Hàm Rồng xứng là một danh thắng kỳ tú bậc nhất xứ Thanh. Không những thế, Hàm Rồng còn là vùng đất nằm ở vị trí trọng điểm của các con đường trung chuyển Đông - Tây; Bắc - Nam, dẫu đi ngược, về xuôi, vào Nam, ra Bắc đều phải qua Hàm Rồng. Ở vào vị trí ấy, Hàm Rồng có nhiều điều kiện tiếp nhận các luồng giao thoa, tiếp biến văn hóa, và trong lịch sử đây là vùng đất chứng kiến bao cảnh huy hoàng cũng như tang thương trong chiến tranh từ đầu Công nguyên, Bắc thuộc, Nam - Bắc triều, chống Pháp, chống Mỹ. Các giai đoạn lịch sử qua đi đã để lại nơi đây một hệ thống di sản văn hoá nhiều giá trị, trong khối di sản văn hoá ấy, lễ hội trong vùng được xem là điển hình và độc đáo nhất vùng. Giống như nhiều vùng/miền khác trong cả nước, do đặc trưng trong sản xuất nông nghiệp nên lễ hội truyền thống ở vùng Hàm Rồng diễn ra phổ biến vào những khoảng thời gian nông nhàn, như sau tết Nguyên đán khoảng tháng Giêng và tháng Hai hoặc vào tháng 7, tháng 8 mùa thu (xuân thu nhị kỳ). Nhưng lễ hội mùa xuân bao giờ cũng náo nức lòng người hơn cả. Mùa xuân ở Việt Nam là mùa đẹp nhất trong năm, mùa hoa lá đâm chồi nảy lộc, cây cối tốt tươi, tiết trời dần ấm áp, mùa của lòng người hướng về nguồn cội và nơi mọi người có thể hòa mình vào tiết xuân, vào không gian bao la của đất trời tươi mới. Hội xuân như hòa vào vũ trụ chung ấy với tiếng trống rền vang thúc giục mọi người, tiếng cười hân hoan của các nam thanh, nữ tú chơi xuân trong các hội. Trong một bài viết về mùa xuân đăng trên tạp chí, tác giả Trần Lâm Biền đã viết: “Lễ hội, nếu như không còn thì khó mà tưởng tượng nổi, xã thôn như trở về miền hoang dã, lấy gì để cân bằng cho một năm đầy vất vả, cho hoà hợp yêu thương và phần nào bản sắc sẽ dễ tàn phai, làm cạn mòn lòng yêu quê hương, nguồn cội.”1. Theo quan niệm của người dân, lễ hội thường được họ gọi với một từ đơn giản là Hội. Trong đó có thể hiểu, hội là sự tập hợp một cộng đồng người của làng, vùng.. để thực hiện những điều về lễ trong một không gian và thời gian nhất định. Như vậy, hội không phải là trò chơi, đương nhiên lễ cũng không phải là cúng bái như chúng ta đã từng lầm tưởng, mà cúng bái chỉ là một phần rất nhỏ, HỘI XUÂN TRÊN VÙNG ĐẤT HÀM RỒNG NGUYN BÍCH THuhoanangC* * Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá 76 thuộc một khía cạnh của lễ trong mối ứng xử với thần linh mà thôi. Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hóa rất đặc trưng. Lễ hội hầu như có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy trì. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần. Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người, giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui. Lễ hội truyền thống vùng Hàm Rồng có từ thời xa xưa, gắn liền với việc tập hợp và tổ chức các lực lượng để chiến đấu với tự nhiên, hoạt động sản xuất, thể hiện nhu cầu phong phú trong đời sống tinh thần của người dân. Lễ hội truyền thống mang sắc thái của nền văn minh nông nghiệp, gắn với tín ngưỡng dân gian, thần thánh và những người có công với dân làng, đất nước. Trong mỗi lễ hội còn lưu giữ lâu dài các tục lệ, dân ca, diễn xướng, trò diễn dân gian phong phú và độc đáo... Lễ hội là biểu hiện sinh động nhất, là tổng hợp lịch sử, văn hóa làng, từ tín ngưỡng, phong tục tập quán của làng đều được thể hiện trong lễ hội. Có tham gia các lễ hội xuân trên đất Hàm Rồng mới cảm nhận hết được giá trị độc đáo, đặc trưng của lễ hội tại một vùng đất thiêng bậc nhất xứ Thanh, nơi mà những nét sơ khai vẫn còn đọng lại như gọi chúng ta tìm về quá khứ xa xăm để nhận thấy hết những gì lớn lao mà lịch sử cha ông để lại. Cần nói thêm rằng, yếu tố thương mại cũng là một lý do quan trọng góp phần bảo tồn các lễ hội trong vùng. Như đã trình bày, Hàm Rồng ở vào vị thế đắc địa, là tiền đề cho sự xuất hiện nhiều bến chợ ven sông, nơi diễn ra giao thương buôn bán sầm uất, nhộn nhịp, bên cạnh một nền nông nghiệp phát triển thì song song với nó thương mại cũng đã xuất hiện tạo đà thúc đẩy kinh tế trong vùng phát triển. Điều kiện ấy đã không làm phai nhạt đi các giá trị văn hóa truyền thống, ngược lại, kinh tế phát triển, người dân giàu có đã góp thêm cơ hội cho người dân tổ chức đều đặn các kỳ lễ hội, làm cho lễ hội không có cơ hội phai mờ hay bị lãng quên theo thời gian như như đã từng xảy ra ở nhiều địa phương khác. Việc mở hội ở Hàm Rồng có thể xem là một hiện tượng mở cửa trời đất để thông linh, đồng thời cũng là cửa giao lưu trong quan hệ thương mại quốc tế nổi bật ở xứ Thanh, mà đương thời ở đất Nguyucthn B˝ch Thuchoahoic: H i xuŽn tr˚n v•ng t Hšm R ng H i n Trn KhŸt ChŽn, “ng Sn, Thanh H‚a - uhoasacnh: TŸc gi 77 Bắc khó chưa thể có. Mùa xuân về, vùng Hàm Rồng lại bừng lên sức sống căng tràn với nhiều lễ hội diễn ra cùng thời điểm nhưng lại mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Chúng tôi không có dịp giới thiệu hết các lễ hội Xuân ở vùng Hàm Rồng, chỉ đưa ra một số lễ hội điển hình nhất để thấy, vào mùa Xuân vùng Hàm Rồng bừng lên sức sống trên nền tảng vững chắc của các giá trị nguồn cội. Lễ hội còn đọng lại những yếu tố sơ khai nhất chính là: Lễ hội đền thờ “Thượng ngàn Thiên tiên công chúa”. Theo truyền thuyết thì ngôi đền này đã có từ thời thượng cổ, thờ vị thần sinh ra người Lạc Việt - người Mẹ của Bách Việt. Lễ hội này cũng là một minh chứng sinh động cho lớp trầm tích văn hóa thật dày và độc đáo của vùng Hàm Rồng. Đồng thời, cho thấy dấu vết đầu tiên của tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc Việt Nam. Một giả thuyết được đưa ra là, tín ngưỡng này đã có từ thời thượng cổ? Vì theo những cứ liệu hiện còn lưu giữ, thì đây là một truyền thuyết cổ xưa nhất về nguồn gốc của người Việt, trong đó gắn hình ảnh Thánh Mẫu Thượng Ngàn với mẹ tổ tiên của người Lạc Việt. Nếu xem truyền thuyết “Động Tiên, Động Rồng”2 có thể thấy, đây là một hiện tượng biến thể của truyền thuyết lạc Long Quân - Âu Cơ, hoặc ngược lại truyền thuyết lạc Long Quân - Âu Cơ là biến thể của truyền thuyết này. Chúng tôi nghiêng về giả thuyết thứ hai vì: truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ nói về cội nguồn của người Việt Nam theo một cặp đôi Tiên - Rồng ra đời vào thời điểm triết lý âm dương đã rất phát triển và phổ biến, người Việt cổ đã khai phá vùng châu thổ của các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Mã, sông Cả và đang trên đường tiến ra biển. Trong khi truyền thuyết này chỉ nói đến mẹ Tiên, giống như một người mẹ vũ trụ, vào thời gian mà địa bàn hoạt động của người Việt cổ còn đang ở vùng rừng núi, chưa di chuyển xuống khai phá vùng đồng bằng, ven biển. Điều đặc biệt, lễ hội “Thượng ngàn Thiên tiên công chúa” là lễ hội của tất cả các làng trên địa bàn vùng Hàm Rồng. Thông thường vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu tổ chức đại hội, kéo dài 3 ngày, thậm chí 5 - 7 ngày nếu năm đó phong đăng hòa cốc. Nhưng năm còn lại chỉ tổ chức hội lệ kéo dài 1 ngày. Vào ngày hội, chức sắc tất cả các làng phải rước bát hương các vị thần của làng mình và các lễ vật về đền thờ của mẫu, các vị thần này sẽ chia làm hai tốp: nữ thần và nam thần để xếp hàng hai bên kiệu của Thượng ngàn Thiên tiên công chúa. Các tôn vị chư thần này xếp theo cấp bậc được phong từ thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần. Ngoài ra, cũng như các lễ hội khác, ngoài phần tế lễ còn có nhiều trò diễn đặc trưng cho xứ Thanh như trò Xuân Phả, Tú Huấn, chèo chải, múa Đèn, múa Tứ Linh, múa Song Hạc, múa Trống... Đây là một lễ hội rất đặc sắc vừa thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, vừa hàm chứa các tư liệu về một nền văn hóa lâu đời của Hàm Rồng với các tín ngưỡng gắn liền với truyền thuyết rất cổ mà chỉ còn lại ở vùng Hàm Rồng. Tín ngưỡng thờ tổ tiên dưới dạng một bà Mẹ. Một lễ hội độc đáo khác: Lễ hội làng Đông Sơn, thời gian trùng với ngày tết Thanh Minh, đây cũng là ngày giỗ đức thánh cả Lê Uy nên đã được dân làng nâng lên thành ngày hội làng. Theo Thần phả trong đền thì đức thánh cả Lê Uy là tướng nhà Lý, nhờ tài cao, đức rộng được vua giao trọng trách cầm quân chống Chiêm Thành đem quân xâm lấn và đã lập nên nhiều chiến công hiển hách. Trong một trận chiến, do quân Chiêm quá đông, thế mạnh, ông bị thương nặng song vẫn phá được vòng vây, về đến thượng trang Đông Sơn, nay là làng Đông Sơn, thì hy sinh. Ghi nhớ công lao của ông, nhân dân đã lập đền thờ và thường xuyên hương khói. Ngày hội được tổ chức long trọng, trong tâm linh của người trong làng vẫn tri ân tiền bối có công với nước, thiêng liêng tống ách, trừ tai, mang lại hạnh phúc cho dân. Sự linh thiêng của Ngài đã được dân địa phương tôn sùng truyền từ đời này sang đời khác và lan ra khắp vùng. Khi đi qua đền bất cứ ai cũng đều tự ngả mũ nón, xuống xe, xuống ngựa. Cũng vào ngày 3 tháng 3 Âm lịch hàng năm, các dòng họ làng Đông Sơn tổ chức tế họ, đây cũng là điều đặc biệt, cả làng tế họ cùng một ngày điều đó càng thấy sự gắn bó, đoàn kết của nhân dân Đông Sơn. Sau này do ngày mùng 3 hội làng rất nhiều việc, đặc biệt là những năm có Chạ, cả làng thống nhất tế họ vào mùng 2, để mùng 3 vào việc làng. Vì thế người làng có câu: Thanh minh trong tiết tháng Ba, Mùng hai tế tổ, mùng ba hội làng. Lễ hội nhân ngày mất của đức thánh cả Lê Uy mùng 3 tháng 3 Âm lịch hàng năm không chỉ là hoạt động văn hóa tưởng nhớ đến các bậc tiền nhân đã có nhiều công lao trong chống giặc ngoại S 1 (46) - 2014 - Di sn vn hoŸ phi vt th 78 xâm, mà đây còn là dịp để nhân dân phường Hàm Rồng và các du khách thập phương tham gia vào các hoạt động văn hóa truyền thống đầy ý nghĩa. Mỗi năm vào dịp này, người làng Đông Sơn lại nô nức chuẩn bị: từ chiều ngày mùng 2 tháng 3 Âm lịch, người dân trong làng đã tổ chức lễ rước Thành hoàng làng Trịnh Thế Lợi từ miếu Nhị về đình Nghè (đền đức thánh Cả) để chuẩn bị lễ tế. Trước đây, cũng trong đêm mùng 2 này, người dân trong làng tổ chức mời các đoàn văn công về diễn kịch, mua vui tại đình Nghè thâu đêm cho đến sáng hôm sau. Ngày 3 tháng 3 Âm lịch tổ chức lễ tế Thánh chính thức (ngày này được lấy theo ngày mất của đức thánh cả Lê Uy) với những mâm cỗ và nghi thức cúng tế linh đình. Ban tế Thánh: gồm 1 chủ tế, 2 bồi tế, 4 văn hiến, trong 4 văn hiến cử một vị đọc chúc, 2 bên Đông, Tây xướng. Riêng chủ tế là người có chức sắc, song thọ, có trai có gái và phải sang, sạch, đẹp người. Trang phục của chủ tế gồm áo, mũ, hia. Đến nay, sau khi kết thúc nghi lễ tế Thánh là bắt đầu khai hội với các hoạt động vui chơi như đánh cờ, đá bóng, chọi gà hoặc tổ chức hát văn tại đền Mẫu ngay bên cạnh đình. Kết thúc hội, người dân trong làng lại rước Thành hoàng làng Trịnh Thế Lợi từ đình Nghè về lại miếu Nhị. Có thể nói, hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm, điều đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến lúc tan hội. Có xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một truyền thống vàng son. Một lễ hội xuân khác cũng rất nổi tiếng ở vùng Hàm Rồng, đó chính là Lễ hội đền Lê Bố Vệ. Đền Lê Bố Vệ được xây dựng năm 1805 thời vua Gia Long trên đất làng Bố Vệ, gần Cầu Bố (thành phố Thanh Hóa). Hiện nay có nhiều lí do giải thích việc vua Gia Long cho xây dựng khu đền này. Gọi là đền Lê Bố Vệ là để phân biệt với đền Lê làng Cham trên đất Lam Sơn - Thọ Xuân. Lam Kinh là địa danh từng diễn ra nhiều lần lễ hội có quy mô lớn mỗi khi nhà vua và các quan từ Thăng Long về bái yết sơn lăng. Sau nhiều biến cố lịch sử, Lam Kinh trở nên đổ nát, hoang phế nên lễ hội làng Cham ngày càng mai một. Lễ hội đền Lê Bố Vệ được tập trung thu hút nhiều nơi hướng về. Nơi đây là Thái miếu thờ các vua Lê, để tưởng nhớ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và gần 400 năm dưới chế độ triều Lê - một thời huy hoàng. Hằng năm, ở đền Lê Bố Vệ có 2 lễ chính. Lễ hội xuân diễn ra vào các ngày rằm tháng Giêng. Lễ hội chính diễn ra vào các ngày 20, 21, 22 tháng Tám Âm lịch. Về ý nghĩa, lễ hội xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, dân làng no ấm. Lễ hội chính là lễ tưởng nhớ ngày mất của vua Lê Thái Tổ và Lê Lai. Về nghi thức tế lễ, hai lễ này đều được tiến hành các bước giống nhau nhưng quy mô thì lễ hội chính hơn hẳn. Lễ hội chính xưa kia được tổ chức quy mô hoành tráng vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Cũng vào những năm này, tại kinh đô Huế, triều đình cũng làm lễ tế Nam Giao (tế trời đất), là một trong những quốc lễ to nhất trong các triều đại phong kiến. Các quan tiến hành tế lễ, phải ở riêng, ăn chay, giữ mình thanh tịnh nhiều ngày trước. Các nghi thức tế lễ được tiến hành nghiêm trang, long trọng. Ngày 21 tháng Tám Âm lịch giỗ Trung Túc vương Lê Lai, dâng lễ vật và đèn nhang. Tương truyền khi sắp mất, Lê Lợi dặn con cháu và quần thần tổ chức lễ giỗ Lê Lai trước giỗ mình một ngày để tri ân người anh hùng liều thân cứu Chúa. Hằng năm đến ngày này, nhân dân Thái Bằng quê hương Lê Lai đem lễ vật tới đền Lê Bố Vệ để làm giỗ Lê Lai. Ngày 22 tháng Tám là ngày đại tế giỗ Lê Lợi, được tổ chức theo hình thức quốc tế vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Các năm bình thường không tổ chức đại tế thì dân làng Bố Vệ tổ chức thắp hương dâng lễ vật cúng giỗ. Sau khi tế lễ xong tổ chức vui chơi hội hè. Lễ hội đền Lê Bố Vệ truyền thống có các trò kéo chữ, trò phá trận và tung cù. Trò kéo chữ diễn ra trên bãi áng cách đền Lê gần 1km, khi diễn trong tháng Giêng thì xếp 4 chữ “Thưởng xuân đồng lạc”, còn nếu chạy chữ trong ngày giỗ tháng tám thì kéo bốn chữ: “Thiên hạ thái bình”. Trò phá trận tiếp ngay sau trò kéo chữ. Các con trò xếp thành hai hàng, một bên là quân ta, một bên là quân Ngô dàn trận đánh nhau tạo ra không khí rất sôi động, tưởng nhớ lại các trận đánh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trò tung cù là trò vui có tính thượng võ, thể thao, nhưng cũng có người cho rằng đây là trò tượng trưng cho chiến thắng bêu đầu tướng giặc. Cù được bện bằng rơm bọc giẻ bên ngoài, có phết một lớp sơn. Trong tiếng trống rộn rã, người đầu trò tung cù lên, đám đông xông vào hứng cướp và cố gắng ném lọt vào chiếc giỏ treo trên ngọn tre. Thường quả cù khá lớn được làm bằng gỗ bọc vải (d = 30 cm). Ngày Nguyucthn B˝ch Thuchoahoic: H i xuŽn tr˚n v•ng t Hšm R ng 79 xưa, sau ba hồi trống lớn, ông tiên chỉ tung cù ra sân, bất kể ai trong làng cũng có thể ra cướp, người ta tin hạnh phúc sẽ rất lớn trong cả năm với ai cướp được cù bỏ vào “lỗ cuộc” ngoài nghi môn. Việc thật khó, trong sự lao xao của sự tranh giành, song, cuối cùng thì quả cù vẫn nằm trong lỗ. Sau ba lần thì cuộc cù vượt ra ngoài khu vực di tích, cứ thế kéo dài tới nửa đêm Theo nhà nghiên cứu di sản văn hoá Trần Lâm Biền thì: Sự lao xao đầu xuân này (theo dạng khác) cũng đã xảy ra ở làng Đục Khê và Yến Vĩ (chùa Hương - Hà Nội), ở đình làng Đồng Kỵ (Từ Sơn - Bắc Ninh), hội Sóc Sơn (Đông Anh - Hà Nội) và nhiều nơi khác nữa, mỗi nơi có một cách, song cùng một nội dung. Người Việt là cư dân nông nghiệp, thời gian gắn với mùa màng và được tái tạo vào mùa xuân. Chu trình ấy đồng nhất với cuộc đời và đồng nhất với các bước đi lịch sử3. Sự hỗn mang hay hỗn độn thể hiện cái không có trật tự mang tính đồng nhất, vì tin vào sự đồng nhất mà mọi tục lệ phải tạo sự “lao xao” trước khi vào hội, nhờ vậy, xã hội, mùa màng mới theo quy luật mà diễn biến thuận lợi. Đắm mình trong lễ hội Xuân Hàm Rồng như đang quay lại những gì thuộc về lịch sử đã đi qua, ưu ái để lại trên vùng đất này. Tham gia hội Xuân để được sống lại cùng lịch sử, để tiếp thêm sức mạnh cho một chu kỳ hoạt động mới phát triển hơn. Nếu ai có dịp ghé thăm vùng đất Hàm Rồng xin dừng chân ghé lại, tham gia vào hội Xuân ở đây để cảm nhận nét độc đáo, sự nhộn nhịp và một sức lan tỏa mạnh mẽ đến từng người./. N.B.T Chú thích: 1- 3 - Trần Lâm Biền (2011), “Mùa xuân dặm dài trên đất xứ Thanh”, Tập san Thông tin Khoa học, Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật Thanh Hóa (nay là Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa), số 10, tr. 13. 2- Truyền thuyết: Động Tiên, Động Rồng Truyện kể rằng: Từ xa xưa lắm, khi con người còn sống hoang sơ, trong vùng, có một người đàn ông và một người đàn bà sống bằng nghề hái lượm, săn bắt. Mỗi người ở một hang, dần dần ăn ở với nhau và sinh được một đàn con. Khi con đã khôn lớn, vợ chồng cho con cái ở riêng, của cải chẳng còn gì ngoài một ít ruộng đất. Họ đem số đất ấy chia cho mỗi người một mảnh. Để chứng tỏ đám đất đã có chủ, mỗi người lấy một hòn đá đặt vào giữa khoảng ruộng của mình. Một hôm ông Trời đi chơi, nhìn xuống hạ giới thấy có nhiều cục đá nằm rải rác khắp nơi. Trời bèn cho đòi quan Thổ Địa đến để hỏi. Thổ Địa tâu rằng: “Đó là nhà kia chia đất cho con, họ đánh dấu phần đất đấy. Mỗi một phần đất là của một người”. Trời hỏi: - Nhà ấy có mấy đứa....? Thổ thần thưa: - Nhà ấy có một trăm con. Trời giật mình, bảo các quan rằng: “Nhà ấy định cướp ngôi của ta chăng”. Rồi ra lệnh cho các quan giảm bớt số con, không để một trăm đứa ở chung một chỗ. Các quan đành lập kế, tách cậu con út đi nơi khác bằng cách tạo một con sông ở giữa, đồng thời, biến các cục đá kia thành từng hòn núi. Các phần đất của từng người bị trời xóa nhòa, mất ranh giới. Các con lại phải tản đi các nơi tìm đất mới. Do vậy, ngày nay dãy Hàm Rồng chỉ còn 99 ngọn, còn một ngọn nằm bên kia sông, cho nên đã có câu: Chín mươi chín ngọn đứng trông Còn ngọn núi Nít qua sông chưa về. Sau này, mỗi người lập thành một làng. Để khỏi quên gốc, mỗi năm nhớ ngày giỗ mẹ, các làng lại phải gặp nhau một lần đó là vào ngày mồng 3 tháng 3 hàng năm... Người mẹ được dân trong vùng tôn là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, đền Thượng Ngàn được thờ tại Đình Hương và cũng từ ngày ấy, nhiều làng trong vùng, trai gái không lấy được nhau. Tài liệu tham khảo: 1- Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2001), Địa chí Thanh Hóa (lịch sử và địa lý), Nxb. Văn hóa Thông tin. 2- Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (2010), Địa chí Thành phố Thanh Hóa, Nxb. Khoa học xã hội. 3- Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (2010), Địa chí huyện Đông Sơn, Nxb. Khoa học xã hội. 4- Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (2000), Địa chí huyện Thiệu Hóa, Nxb. Khoa học xã hội. 5- Trịnh Quốc Tuấn (2005), Đi tìm địa chỉ văn hoá (bước đầu cảm nhận văn hoá xứ Thanh), Nxb. Thanh Hoá. 6 - Lê Tạo (2011), Di sản văn hóa ở Thanh Hóa - nguồn lực cho phát triển du lịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội. 7 - Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (2002), Di tích và danh thắng Thanh Hóa, tập 2, Nxb. Thanh Hóa. 8 - Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (2000), Di tích và danh thắng Thanh Hóa, tập 1, Nxb. Thanh Hóa. 9 - Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2002), Đất và người xứ Thanh, Nxb. Thanh Hoá. 10 - Nguyễn Quốc Chấn (chủ biên) (2007), Những thắng tích xứ Thanh, Nxb. Thanh Hóa. 11- Lương Đại Dũng (2009), Làng cổ Đông Sơn, Ban đại diện Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Thanh Hoá, Thanh Hoá. S 1 (46) - 2014 - Di sn vn hoŸ phi vt th

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf4617_hoi_xuan_tren_vung_dat_ham_rong_06_2062630.pdf
Tài liệu liên quan