Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang

2. Kiến nghị - Cầ n tăng cường công tác quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực theo pháp luật. Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường biển gắn với hoạt động phát triển tại địa phương. - Việc quản lý vịnh Nha Trang cần có một chủ thể cụ thể không nên giao chung chung. Đơn vị quản lý phải được giao một số thẩm quyền nhất định, chịu trách nhiệm quản lý, giám sát tất cả các hoạt động có liên quan đến vịnh Nha Trang kể cả các hoạt động từ đất liền. - Xã hội hóa công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, trong đó các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó để phục vụ cho họat động sản xuất và kinh doanh của đơn vị

pdf10 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 121 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 152 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TRONG KHU BẢO TỒN BIỂN VỊNH NHA TRANG SOLUTIONS FOR EFFECTIVE EXPLOITATION MANAGEMENT AND MARINE RESOURCES PROTECTION WITHIN NHA TRANG BAY MARINE PROTECTED AREA Đàm Hải Vân1, Nguyễn Đức Sĩ2 Ngày nhận bài: 02/6/2015; Ngày phản biện thông qua: 26/8/2015; Ngày duyệt đăng: 15/3/2016 TÓM TẮT Vịnh Nha Trang có tính đa dạng sinh học khá cao, là nơi tập trung nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế cảng và giao thông biển; nuôi trồng và đánh bắt thủy sản; du lịch và kinh tế đảo. Hiện nay, mặt nước trong vịnh Nha Trang, đặc biệt trong vùng nhạy cảm bị khai thác quá mức, cùng với hàng loạt vấn đề bất cập về thể chế, cơ chế và khả năng tổ chức quản lý, giám sát; đầu tư cho bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản... đang là những vấn đề đặt ra cấp thiết trong công tác quản lý vịnh hiện nay. Từ những khảo sát thực tế, tác giả đưa ra một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, bao gồm: Nhóm giải pháp về quả n lý khai thác thủy sản, nuôi trồ ng và cá c dị ch vụ giả i trí ; Nhóm giải pháp đối với những hoạt động tạo thu nhập, nâng cao đời sống cộng đồng; Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý đối với cá c cơ quan hữ u quan và nâng cao nhận thức của cộng đồng Từ khóa: quản lý; nguồn lợi thủy sản; vịnh Nha Trang ABSTRACT Nha Trang Bay where is highly biodiversityand, is a potential source of economic development of the harbor and navigation services; aquaculture and fi sheries; tourism and recreational activities. However the sensitive areas within the Nha Trang Bay have been overexploited. There are also lots of shortcomings related to institutions, mechanisms and capacities in management, supervision, and investment to protect and develop the marine resources.Those are the urgent issues raised in the management of Nha Trang Bay. Based on the fi eld survey, the author suggests some solutions to improve the effi ciency of exploitation and protection of fi shery resources within the Nha Trang Bay MPA. There are three solutions: solution related to management of fi shing, farming and recreational services; solution related to income generating activities and enhance community life; solution related to improvement of the management capacity for the relevant authorities and raise of community awareness. Keywords: management; fi shery resources; Nha Trang Bay 1 Đàm Hải Vân: Cao học Khai thác thủy sản 2011 – Trường Đại học Nha Trang 2 TS. Nguyễn Đức Sĩ: Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản - Trường Đại học Nha Trang Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 153 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Vịnh Nha Trang có diện tích 249,65 km2; trong đó diện tích mặt biển là 211,85 km2 và diện tích các đảo nằm trong vịnh là 37,8 km2, có hệ thống sinh thái rất đa dạng, là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển. Các nhà khoa học đã phát hiện được trên 26 loài cá có giá tr ị thương mại, trên 200 loài cá sống ở tầng đáy, 30 loài cá sống nổi ven bờ, 33 loài cá sống ở cửa sông và 176 loài cá sống ở các rạn san hô. Nhưng quan trọng hơn cả là phát hiện được trên 350 loài san hô sống trong ranh giới Khu bảo tồn biển. Sự đa dạng của san hô tạo rạn ít nhiều tương tự nhau với mức độ giàu có trung bình dao động: 85 - 87 loài và độ phong phú: 122 -127 trong đó các điểm có giá trị cao nhất là Đ Hòn Tre, Bãi Sạn, Hòn Nọc, Hòn Vung, TN Hòn Mun, Hòn Rơm, Hòn Cau và Bãi Bàng. Cá rạn san hô:Tổng mức độ giàu của loài tại từng điểm khảo sát đạt giá trị trung bình là 61 loài, dao động từ 33 – 83 loài. Các điểm có mức độ giàu (> 60 loài) và phong phú (>100 điểm) cao nhất bao gồm Hòn Rơm, Hòn Một, TN Hòn Mun, Đ Hòn Tre, Đầm Báy, Hòn Cau , N Hòn Tằm và Bãi Sạn Động vật không xương sống kích thước lớn. Đối với động vật không xương sống kích thước lớn, sự đa dạng giữa các điểm rạn có giá trị độ giàu có loài dao động từ 16 - 45 loài và độ phong phú từ 25 - 77 điểm. Thành phố Nha Trang có 3.128 tàu thuyền đánh bắt thủy sản, trong đó khai thác trong vịnh Nha Trang trên 2.000 chiếc, số còn lại đánh bắt các ngư trường ngoài tỉnh. Các ngành nghề đánh bắt trong Vịnh Nha Trang gồm nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới vây rút chì, mành trũ, lưới cước, lưới quét Trong đó, loại tàu có công suất nhỏ hơn 20cv chiếm khoảng trên 35%. Lực lượng này thường xuyên khai thác và khai thác quá mức ở vùng ven bờ, và đây là nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ vịnh Nha Trang. Có những sự suy giảm về mức độ giàu có loài của cá ở từng điểm từ năm 2002 đến 2007, với giá trị trung bình của độ giàu loài từ 64 loài trong năm 2002 đến 39 loài năm 2007. Có sự suy giảm có ý nghĩa về mức độ giàu có loài (P < 0.001), Có sự suy giảm chung về độ đa dạng loài và độ phong phú của san hô tạo rạn ở từng điểm khảo sát gữa năm 2002 và 2007, với tổng giá trị suy giảm dao động lần lượt từ 95 cho đến 85 loài cho thấy một sự suy giảm nhẹ về tổng mức độ phong phú trung bình giữa năm 2002 và 2007. Hình 1. Sư thay đổi độ phong phú (species abundance) của tổng các nhóm loài tại từng điểm rạn khảo sát trong KBTB vịnh Nha Trang, 2002 – 2007 Hình 2. Biến thiên mật độ trung bình (con/100m2) cá rạn san hô tại từng điểm giám sát từ năm 2002 - 2007 Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 154 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Ngoài ra, Vịnh Nha Trang có nhiều đơn vị, cá nhân tổ chức các dịch vụ du lịch trên vịnh với trên 200 tàu thuyền du lịch cả canô làm dịch vụ đưa đón khách du lịch đi tham quan trên các tuyến đảo và nhiều dịch vụ nhà hàng, khách sạn trên các đảo và ven bờ bên trong và xung quanh Vịnh Nha Trang. Các dịch vụ du lịch này rất phong phú, nhiều loại hình dịch vụ vui chơi như: du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch tham quan, các trò chơi mạo hiểm, cảm giác mạnh. Sự gia tăng cường lực khai thác quá mức bao gồm sự tăng nhanh số lượng và công suất tàu thuyền ở vùng ven bờ là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Thêm vào đó, cơ cấu nghề nghiệp khai thác bất hợp lý, khai thác mang tính hủy diệt cùng với hàng loạt vấn đề bất cập, hạn chế về thể chế, khung pháp luật; cơ chế và khả năng tổ chức quản lý, giám sát; đầu tư cho bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội của ngư dân vùng ven biển... đang là những vấn đề đặt ra một cách cấp thiết trong lĩnh vực quản lý nghề cá hiện nay. Bài báo này, nghiên cứu làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, định hướng phát triển bền vững KBTB vịnh Nha Trang, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản tại KBTB, phục vụ phát triển bền vững ở địa phương. II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Thu thập số liệ u thứ cấ p - Số liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu lưu trữ tại Sở NN&PTNT; Sở Khoa học và Công nghệ tỉ nh Khá nh Hò a; Cục Thống kê Khánh Hòa; Viện Hải dương học Nha Trang; Chi cục Khai thác và Bảo vệ NLTS; Ban quản lý Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang; Phòng Kinh tế TP. Nha Trang; UBND phường Vĩnh Nguyên- Nha Trang; các tài liệu, văn bản trên các website của Chính phủ, Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT và các trang mạng khác. 2. Thu thập số liệu sơ cấ p - Số liệu điều tra xã hội về KT&BVNLTS trong KBTB VNT theo mẫu phiếu điều tra in sẵn, thực hiện tháng 7/2012. Tác giả đã tiến hành điều tra toàn bộ số hộ có phương tiện KTTS trong vị nh Nha Trang. - Tham vấn ý kiến của 50 hộ ngư dân KTTS theo mẫu (chọn mẫu ngẫu nhiên theo tư vấn của cán bộ quản lý KBTB vị nh Nha Trang, kết hợp phỏng vấn trực tiếp và sử dụng phương pháp PRA – Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng). 2.1. Phương pháp khảo sát thực địa - Trực tiếp khảo sát, đo đạc, phân loại, thu thập các số liệu về sản lượng, đối tượng khai thác, thành phần sản phẩm...bằng cách đi biển với ngư dân hoặc thực hiện tại cảng cá ngay khi các tàu về bến và chưa tiêu thụ sản phẩm. Lựa chọn các nghề chủ lực có ảnh hưởng lớn đến NLTS và chọn ngẫu nhiên mỗi nghề 3 hộ, mỗi hộ tiến hành đo đạc 05 chuyến biển để thu thập sản lượng, thành phần sản phẩm, đo đạc kích thước đối tượng khai thác kết hợp với phiếu điều tra để đánh giá. 2.2. Phương phá p xử lý số liệ u - Sử dụng phần mềm Excel để xử lý và tính toán các chỉ số về thời gian khai thác, sản lượng khai thác, phục vụ cho nội dung tính cường độ khai thác, sự biến động NLTS của KBTB vịnh Nha Trang. - So sánh số liệu thực trạng KTTS với các tiêu chuẩn quy định của nhà nước hiện hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với NLTS trong KBTB. - Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (phân tích đánh giá nội tại: các điểm mạnh, điểm yếu và bên ngoài: các cơ hội, thách thức) để đánh giá thực trạng mô hình quản lý KBTB nói chung và quản lý KT&BVNLTS nói riêng. - Dự a trên cơ sở số liệ u thự c trạ ng, đề xuất các giải pháp quản lý KT&BVNLTS phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững tại KBTB VNT. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 155 III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng khai thác thủy sản trong khu bả o tồ n biể n vịnh Nha Trang Hiện nay, tà u thuyề n hoạt động đánh bắt quanh khu bả o tồ n biể n vớ i cá c loạ i nghề như: Lướ i rê, câu, pha xúc, mành, vây rút, lướ i ké o, trủ, lưới cước, lưới quét...tậ p trung chủ yế u ở 2 phường Vĩnh Trường và Vĩ nh Nguyên. Qua điều tra khảo sát cho thấy, các nghề hoạt động với cường lực mạnh nhất là các nghề: lướ i kéo đơn, mành, vây, trủ rút, lưới rê (lưới cước), pha xúc. Phân bố số lượ ng tà u thuyề n theo nghề , theo công suấ t tạ i cá c phườ ng, xã trong thà nh phố Nha Trang đượ c trì nh bà y ở cá c bả ng 1. Bảng 1. Phân bố số lượng tàu thuyề n theo nghề (< 90CV) TT Nghề Nhóm công suất Tổng <20 20-<50 50-<90 1 Câu 466 196 23 685 2 Cản 29 11 14 54 3 Dịch vụ thủy sản 5 40 39 84 4 Lưới kéo 4 105 84 193 5 Lưới cưới 406 190 21 617 6 Lưới quét 0 8 16 24 7 Mành 158 211 19 388 8 Nghề khác 46 15 5 66 9 Pha xúc 1 23 55 79 10 Trủ 1 15 31 47 11 Vây rút 1 1 2 4 Tổng 1117 815 309 2241 Từ kết quả điều tra và số liệu thống kê ở cá c bả ng 3.1 cho thấy, có 11 nghề với các hình thức đánh bắt khác nhau tham gia hoạ t độ ng khai thá c thủ y sả n trên vị nh Nha Trang. Loại nghề có số lượng tàu thuyền công suất nhỏ hơn 20 CV chiếm số lượng nhiề u nhất là câu (31%), lưới cước (28%), mành (17%). Các nghề có công suất tàu lớn tập trung ở nghề giã cào và pha xú. Theo điều tra thực tế cho thấy có khoả ng 50 – 70% số lượ ng tàu thuyền có công suấ t nhỏ tham gia khai thác thường xuyên trong vị nh (khoảng 25 – 30 ngày trong tháng). Hiệ n nay ngư dân tăng cường đánh bắt trên vị nh có tá c độ ng rấ t lớ n đối với nguồn lợi ven bờ. Nhóm nghề kết hợp ánh sáng: Pha xúc, mành đèn (mành cá và mành tôm hùm giống), đây là các loại nghề đánh bắt các loài cá nổi nhỏ có chiều dài khoảng < 250mm như: Cá cơm, cá nục, cá trích, mực ống,... Do kỹ thuật ngày càng phát triển, nguồn sáng có công suất lớn và kết hợp với thiết bị thăm dò cá, cấu tạo mắt lưới quá nhỏ,... nên trong sản lượng đánh bắt được có một số lượng lớ n cá con có kích thước nhỏ, chưa đạt đến kích thước khai thác. Nhóm nghề đánh bắt các loài hải sản sống ở đáy và gần đáy, gồm các loại nghề: lướ i ké o, lưới rê cước... các loại nghề này thường đánh bắt các loài như: cá mối, cá lượng, cá phèn, cá liệt, cá giò và các loại cá đặc sản khá c như cá mú, cá hồng, cá sạo,...), tôm, mực nang, mực ố ng, các loài ố c, bào ngư, cua, ghẹ,... Đây đượ c xem là nhóm nghề có nguy cơ gây ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi (trừ nghề câu và lưới rê cước) nếu như ngư dân không tự giác khai thác đúng ngư trường, cố tình vi phạm qui định về khu vự c đá nh bắ t gầ n bờ . 2. Thực trạng công tác quản lý khu bả o tồ n biể n vịnh Nha Trang Ban quản lý KBTB vịnh Nha Trang là đơn vị sự nghiệp công lập, có trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh quản lý và bảo vệ KBTB vịnh Nha Trang; Xây dựng Kế hoạch quản lý và Qui chế quản lý KBTB vịnh Nha Trang. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 156 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang hiện nay đang áp dụng quy chế tạm thời quản lý KBTB Hòn Mun được ban hành kèm theo quyết định số 26/2002/QĐ- UB ngày 11 tháng 3 năm 2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Quy chế này quy định chế độ quản lý tạm thời KBTB Hòn Mun. Quy chế quy định về giới hạn của KBTB, các cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện quy chế, các quy định thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử phạt và nguồn tài chính cho hoạt động quản lý KBTB. Bên cạnh đó, quy chế cũng quy định các hoạt động không được phép tiến hành, hoặc tiến hành có điều kiện trong các vùng của KBTB Hòn Mun [1]. Với quy chế tạm thời này, ban quản lý KBTB vịnh Nha Trang chưa được giao đầy đủ quyền hạn cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình cũng như chưa quy định vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học biển ở KBTB vịnh Nha Trang. Điều đó gây nên một số khó khăn trong các hoạt động quản lý cũng như lập các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội trong KBTB. Hệ thống phân vùng trong KBTB vịnh Nha Trang được xem xét nhằm cân đối nhu cầu của tất cả những người sử dụng KBTB với nhiệm vụ bảo vệ, bảo tồn, phục hồi và phát triển một hệ sinh thái biển phong phú, đa dạng. Kế hoạch phân vùng đưa ra các vùng đặc trưng trong KBTB. Mỗi vùng có chức năng và mục tiêu cụ thể và xác định các hoạt động được phép, không được phép trong vùng [2]. Hình 3. Bản đồ phân vùng quản lý KBTB vịnh Nha Trang (Quy chế tạm thời quản lý KBTB vịnh Nha Trang) 3. Đánh giá hiệu quả quản lý KBTB vịnh Nha Trang Khu bả o tồ n biể n vịnh Nha Trang được thành lập với mục tiêu “bảo vệ đa dạng sinh học biển, giúp cộng đồng dân cư cải thiện sinh kế và cùng với các bên liên quan khác bảo vệ và quản lý hiệu quả đa dạng sinh học biển của vịnh Nha Trang và làm mô hình mẫu về quản lý KBTB ở Việt Nam”. So sánh mục tiêu đặt ra của KBTB, các chỉ tiêu hiệu quả quản lý và hiện trạng quản lý KBTB vịnh Nha Trang, có thể sơ bộ đánh giá hiệu quả quản lý KBTB vịnh Nha Trang: Mức độ quản lý KBTB vịnh Nha Trang nhìn chung sau hơn 10 năm thành lập đã đạt được các mục tiêu quản lý đề ra được xếp loại vào những KBTB có mức độ quản lý cao. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 157 4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn biển vịnh nha trang 4.1. Các giải pháp chung về khai thác và bảo vệ nguồ n lợ i thủ y sả n Lập kế hoạch đa dạng hóa phương thức quản lý NLTS trong KBTB hướng tới phát triển bền vững. Nghiên cứu, phát huy thế mạnh của phương thức đồng quản lý đối với nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn vịnh Nha Trang. Đây có thể xem là phương thức quản lý có nhiều ưu điểm nhất hiện nay đối với quản lý nghề cá. Đồng bộ các văn bản đối với ngành khai thá c thủ y sả n trong vịnh, UBND tỉnh Khánh Hòa cần ban hành quy chế chính thức về phối hợp thực hiện giữa Ban quản lý vịnh Nha Trang và các bên liên quan (sở, ban, ngành và thành phố Nha Trang), làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động quản lý được thuận lợi hướng tới quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh Nha Trang. Tiếp tục đầu tư cho công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản bao gồm các hoạt động về tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ NLTS, khuyến khích tái tạo NLTS bằng cách thả giống ra biển để tái tạo các loài đã bị mất hoặc cạn kiệt. Tích cực công tác tuần tra ngăn chặn các hình thức khai thác hủy diệt như: sử dụng thuốc nổ, hóa chất, xung điện. Quy hoạch lại tàu thuyền đánh bắt, cấm phát triển tàu nhỏ dưới 20CV đồng thời tiếp tục tạo điều kiện để chuyển đổi nghề sang các nghề khác như nuôi trồng thủy sản, dịch vụ du lịch. Tạo điều kiện để ngư dân đi khai thác xa bờ, nhằm giảm cường lực khai thác trong vịnh. Cần duy trì hoạt động nuôi trồng thủy sản trong vịnh Nha Trang vì đây là hoạt động sinh kế có khả năng thay thế hoạt động khai thác thủy sản vùng ven bờ. Tuy nhiên, cần quy hoạch chi tiết, giám sát chặt chẽ vùng nuôi thủy sản cũng như lựa chọn mô hình nuôi, đối tượng nuôi thân thiện với môi trường và bền vững về cả mặt kinh tế như: hải sâm, trai ngọc, tu hài.... Xây dựng Quy chế quản lý về hoạt động nuôi trồng thủy sản trong vịnh Nha Trang. Bảng 2. Phân tích SWOT hiện trạng quản lý trong KBTB vịnh Nha Trang Điểm mạnh (Strenghts) - KBTB đã có Ban quản lý được 11 năm từ năm 2001 và đi vào hoạt động ổn định. - Hệ thống cơ sở hạ tầng, các trạm bảo vệ, phương tiện tuần tra khá đầy đủ. - Công tác phối hợp tuần tra tương đối chặt chẽ. - Có sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản lý của KBTB như tham gia tuần tra bảo vệ NLTS, tham gia vào các ban bảo tồn khóm. - Nhận thức của người dân trong KBTB về vai trò của KBTB đối với nghề cá và bảo vệ môi trường khá cao. Điếm yế u (Weaknesses) - Là KBTB đầu tiên ở Việt Nam nên không có KBTB nào khác trong nước để học hỏi kinh nghiệm. - Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ban quản lý và các bên liên quan. - Những quy định về quyền hạn, trách nhiệm và các hoạt động trong KBTB còn chồng chéo giữa các cơ quan và phức tạp (Ban quản lý với Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong công tác xử lý các vụ vi phạm KTTS trong KBTB). Cơ hộ i (Opportunities) - KBTB vịnh Nha Trang nằm trong mạng lưới quy hoạch hệ thống 16 KBTB đầu tiên của Chính phủ Việt Nam tới năm 2020. - Sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ từ nhiều quốc gia khác nhau (IUCN, GEF/WB, Danida). Thách thức (Threats) - Cơ chế quản lý KBTB vẫn mang tính chất đơn ngành, vì thế hiệu quả thường không mang tính lâu dài. - Ý thức của du khách trong việc tham quan, lặn biển (bẻ nhánh san hô) chưa cao. - Ô nhiễm môi trường biển từ các nguồn cũng là một thách thức. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 158 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Xây dự ng đề án quy hoạch về phát triển kinh tế biển trong vịnh Nha Trang. Trong đó ưu tiên cho các lĩnh vực hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và bảo tồn biển; Xây dựng bộ tiêu chí quy định về số lượ ng khách tham quan trên 01 đơn vị diện tích mặt nước biển và các hoạt động du lịch lặ n biể n, đặc biệt là tại khu vực vùng lõi của khu bảo tồn biển, hạn chế số lượng khách để duy trì sự bền vững các hệ sinh thái đang bị tổn thương cần phải được bảo vệ; Phát triển và bảo vệ đa dạng sinh học, tài nguyên và môi trường biển nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ suy thoái; Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học, tài nguyên và môi trường biển gắn với hoạt động phát triển tại địa phương; Xã hội hóa công tác bảo vệ đa dạng sinh học, tài nguyên và môi trường biển. Trong đó các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư bảo vệ được hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó để phục vụ cho họat động sản xuất, kinh doanh của đơn vị. 4.2. Giải pháp đối với những hoạt động tạo thu nhập, nâng cao đời sống cộng đồng Việc tạo các nguồn thu nhập cũng như các hoạt động sinh kế phụ góp phần làm giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi thủy sản trong vịnh Nha Trang. Cần duy trì và phát triển các hoạt động sinh kế phụ khác như: làm mành ốc; thúng đáy kính; . Tạo các làng nghề truyền thống nhằm quảng bá hình ảnh du lịch đồng thời tăng thu nhập cho cộng đồng ngư dân. Liên kết với các cơ sở đào tạo và cơ sở phát triển du lịch tiếp tục đào tạo các kỹ năng, nghiệp vụ du lịch cho con em trên các khóm đảo. Để duy trì chiến lược tài chính bền vững cho KBTB vịnh Nha Trang, ngoài nguồn tài chính từ việc thu phí tham quan, Ban quản lý KBTB vịnh Nha Trang cần tiếp tục chủ động tìm kiếm các nguồn tài trợ hỗ trợ cho công tác bảo tồn và quản lý vịnh Nha Trang, kêu gọi sự hỗ trợ từ các công ty du lịch hoạt động trong KBTB vịnh Nha Trang. 4.3. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý đối với cá c cơ quan hữ u quan và nâng cao nhận thức của cộng đồng - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử phạt nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm pháp luật về đánh bắt thủy sản và môi trường biển. - Cần đầu tư trang bị tàu thu gom rác trôi nổi ven bờ và trên biển. Đây là việc làm rất cần thiết hiện nay. - Đề nghị UBND tỉnh cho xây dựng đề án nghiên cứu các tiêu chí quy định về mật độ khách trên 01 đơn vị không gian diện tích trên mặt nước biển và các hoạt động du lịch của khách dưới đáy biển tại khu vực vùng lõi của khu bảo tồn, nhằm hạn chế số lượng khách vượt quá mức độ cho phép để duy trì sự bền vững cho môi trường vịnh Nha Trang. - Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên, môi trường biển không những cho cộng đồng dân cư trong và ven KBTB, mà còn tuyên truyền cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, các cấp ở Nha Trang. 4.4. Qui chế phối hợp - Trong công tác quản lý vịnh Nha Trang, các cơ quan quản lý của tỉnh ngoài việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực của mình còn phải thực hiện các hoạt động quản lý, bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị vịnh Nha Trang hoặc có liên quan đến vịnh Nha Trang - Ban quản lý KBTB là đơn vị chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, địa phương liên quan tổ chức các hoạt động và thực hiện kế hoạch phối hợp kiểm tra, kiểm soát. Thông báo những sự cố do thiên tai, tai nạn xảy ra trong vịnh Nha Trang để giải quyết, xử lý nhằm bảo vệ cảnh quan, môi trường. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 159 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận - Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang đã tuân thủ việc phân vùng quản lý theo Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngay 02/5/2008 nhằm quản lý hiệu quả sử dụng nguồn lợi và giảm mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các hoạt động ở KBTB vịnh Nha Trang. - Công tác giáo dục cộng đồng được ban quản lý KBTB vịnh Nha Trang chú trọng phát triển, nhận thức của người dân trên các khóm đảo trong KBTB và người dân xung quanh KBTB về vai trò của KBTB đã được nâng cao, đặc biệt là vai trò của KBTB với sự phát triển nghề cá. - Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang đã có được nguồn tài chính khá ổn định và bền vững cho các hoạt động quản lý của mình từ nguồn thu phí tham quan vịnh Nha Trang. - Cộng đồng trên mỗi khóm đảo đã tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội cũng như bảo tồn biển. - Sinh kế của người dân trên các khóm đảo đã có hướng chuyển biến tích cực khi KBTB đi vào hoạt động lâu dài. Sự tham gia của cộng đồng được đánh giá cao ở các lĩnh vực như tuần tra bảo vệ, tuyên truyền. - Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang là mô hình mẫu cho các KBTB tiếp theo của Việt Nam học tập kinh nghiệm xây dựng và hoạt động. 2. Kiến nghị - Cầ n tăng cường công tác quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực theo pháp luật. Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng trong công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường biển gắn với hoạt động phát triển tại địa phương. - Việc quản lý vịnh Nha Trang cần có một chủ thể cụ thể không nên giao chung chung. Đơn vị quản lý phải được giao một số thẩm quyền nhất định, chịu trách nhiệm quản lý, giám sát tất cả các hoạt động có liên quan đến vịnh Nha Trang kể cả các hoạt động từ đất liền. - Xã hội hóa công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, trong đó các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hưởng lợi từ kết quả đầu tư đó để phục vụ cho họat động sản xuất và kinh doanh của đơn vị. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (2002), Quy chế tạm thời quản lý KBTB Hòn Mun, 2002. 2. Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (2003), Kế hoạch quản lý KBTB vịnh Nha Trang, 2003. 3. Ban quản lý khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (2011), Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang-Mô hình bảo tồn biển Việt Nam. Tài liệu KBTB vịnh Nha Trang, 2011. 4. Báo cáo tổng hợp số lượng tàu thuyền nghề cá tại thành phố Nha Trang năm 2012, Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa. 5. Quyết định 738/QĐ-UB của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc xác định ranh giới vịnh Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa 6. Võ Sĩ Tuân, Nguyễn Văn Long, Hoàng Xuân Bền, Hứa Thái Tuyến, Phan Kim Hoàng, Nguyễn Xuân Hòa (2005). Đa dạng sinh học của khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, đánh giá lại 2002-2005, Dự án khu bảo tồn biển khu bảo tồn biển Hòn Mun, báo cáo đa dạng sinh học số 12. Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 160 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VÀI VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG NUÔI LỒNG BIỂN SOME ENVIRONMENTAL ISSUES OF SEA CAGE CULTURE Nguyễn Văn Quỳnh Bôi1 Ngày nhận bài: 05/10/2015; Ngày phản biện thông qua: 10/11/2015; Ngày duyệt đăng: 15/3/2016 TÓM TẮT Hoạt động nuôi lồng biển đã dẫn đến những ảnh hưởng môi trường thể hiện theo 4 dạng bao gồm thay chất lượng nước, tác động lên nền đáy, ảnh hưởng đến sinh vật biển nói chung, và ảnh hưởng do việc sử dụng hóa chất trong hoạt động sản xuất. Tỷ lệ phát thải chất dinh dưỡng tùy thuộc dạng thức ăn sử dụng, hệ số chuyển đổi thức ăn của đối tượng nuôi và chế độ cho ăn với tỷ lệ phát thải so với lượng cung cấp đầu vào lần lượt của nitrogen (N) và phosphorus (P) là 52 – 95% (33 – 44 kg/tấn cá) và 34 – 82% (1,8 – 4,9 kg/tấn cá) cả ở dạng dinh dưỡng hòa tan và dạng hạt. Tổng lượng phát thải hàng năm tùy thuộc quy mô và mức độ sản xuất. Tiếp cận theo quy mô hệ sinh thái, hệ thống quản lý được gọi là MOM (Modeling – Ongrowing fi sh farms – Monitoring) có thể được sử dụng để điều chỉnh tác động môi trường địa phương của các trại nuôi cá biển đối với sức tải (holding capacity) của các địa điểm. Sức chịu tải môi trường (Environment Carrying Capacity) có thể được xác định áp dụng phương pháp luận LOICZ (Land - Ocean Interaction in the Coastal Zone) đối với các thủy vực nuôi cá lồng bè ven biển. Từ khóa: nuôi lồng biển, tác động môi trường, tỷ lệ phát thải, Mô hình hóa - Trại nuôi cá thương phẩm - Giám sát), LOICZ; Tương tác đất liền - đại dương ở vùng ven bờ ABSTRACT Sea cage culture operations resulted in environmental effects that displayed in four types including changes of water quality, impacts on seabed, effects on general marine organisms, and effects of using chemicals for production. Loading rate of nutrients relies on type of feed, feed conversion ration (FCR) of cultured species, and feeding regime being respectively 52 – 95% nitrogen (33 – 44 kg/ton of fi sh) and 34 – 82% phosphorus (18 – 4.9 kg/ton of fi sh) in comparison to input amounts in both of dissolved nutrients and particulates. Discharged amount depends on production and operation scale. Approaching ecological scale, management system called MOM (Modeling - Ongrowing fi sh farms - Monitoring) might be applied to regulate locally environmental impacts of sea fi sh farms to holding capacity of sites. Environment Carrying Capacity could be determined applying methodology of LOICZ (Land - Ocean Interaction in the Coastal Zone) for coastal areas of sea cage culture. Keywords: sea cage culture, environmental impact, loading rate, MOM (Modeling - Ongrowing fi sh farms - Monitoring), LOICZ (Land - Ocean Interaction in the Coastal Zone) methodology 1 ThS. Nguyễn Văn Quỳnh Bôi: Viện Nuôi trồng thủy sản – Trường Đại học Nha Trang VAÁN ÑEÀ TRAO ÑOÅI I. MỞ ĐẦU Theo Tổng cục thủy sản (2014), nuôi trồng thủy sản được coi là ngành sản xuất thực phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới, cung cấp phần lớn protein động vật cho con người và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu, từ 20,9% năm 1995 tăng lên 32,4% năm 2005 và 42,2% Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 1/2016 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 161 năm 2012. Trong đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản nước mặn đã đạt 24.687 triệu tấn. Theo FAO (2014), nuôi nước mặn tiếp tục đóng góp một sản lượng đáng kể trong sản lượng các loài cá nuôi thế giới năm 2012 với 5.551.905 tấn (so với 38.599.250 tấn cá nuôi nội địa). Đa số các đối tượng nuôi này là những loài có giá trị cao. Do vậy, mặc dù chỉ chiếm 12,6% về số lượng nhưng lại chiếm 26,9% giá trị, tương đương 23,5 tỷ USD. Cùng với xu hướng này là sự phát triển hoạt động nuôi lồng trong thời gian qua (Halwart và cộng sự, 2007). Theo đó, Price và cộng sự (2015) nhận định rằng sự gia tăng dân số và việc phụ thuộc vào nuôi trồng thủy sản sẽ dẫn đến sự mở rộng của ngành công nghiệp này ở vùng biển mở. Trước xu hướng phát triển nhanh của hoạt động nuôi lồng biển, các vấn đề về môi trường cần được xem xét để bảo đảm sự phát triển lâu bền của hoạt động này. Bài viết này điểm qua kết quả của một số nghiên cứu cụ thể và khái quát vài công cụ trong tiếp cận bảo vệ môi trường biển và quản lý hoạt động nuôi lồng biển. II. NỘI DUNG 1. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới Trên thực tế, tác động của hoạt động nuôi lồng biển đã được chú ý khá sớm. Cụ thể, các tác động của nền công nghiệp nuôi cá hồi ở Chile đã được xem xét từ năm 1996. Các bằng chứng ở thời gian này chưa cho thấy các ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường. Tuy nhiên, sau gần 10 năm phát triển, các bằng chứng đã chỉ ra rằng có sự mất mát có ý nghĩa về tính đa dạng sinh học nền đáy và sự thay đổi mang tính cục bộ đối với các đặc trưng lý – hóa học của trầm tích ở các khu vực nuôi cá hồi (Buschmann và cộng sự, 2006). Các tác giả cho rằng cần cấp bách tiếp cận ở quy mô hệ sinh thái để đánh giá tất cả các tác động của việc nuôi cá hồi đối với các hệ sinh thái ven bờ ở miền nam Chile. Theo hướng nghiên cứu này, từ năm 2000, một trại thử nghiệm nuôi cá gần bờ dọc theo hướng Tây Bắc Địa Trung Hải, vịnh Tây, thành phố Matrouh gồm 8 lồng nổi có kích thước 30 m3 mỗi lồng với 3 loài là cá tráp (Sparus aurata), cá chẽm (Dicentrarchus labrax) và cá rô phi đỏ Florida (Oreochromis sp.) cũng đã được tiến hành (Essa và cộng sự, 2005). Mật độ thả giống lần lượt là 35,8 cá thể/ m3 (bán thâm canh), 50 cá thể/m3 (thâm canh) đối với cá tráp và cá chẽm với thời gian nuôi 323 ngày, 50 và 100 cá thể/m3 đối với cá rô phi với thời gian nuôi là 159 ngày. Phân tích thành phần dinh dưỡng trong trầm tích bên dưới lồng suốt thời gian nghiên cứu đã cho thấy không có có sự tích lũy đáng lưu ý chất hữu cơ dạng hạt từ hoạt động của trại nuôi thử nghiệm. Kết quả này chỉ ra rằng tốc độ dòng chảy ở khu vực nuôi (4-6 cm/s) đã phân tán được chất thải rắn. Cũng ở Tây Ban Nha, khi nghiên cứu trầm tích dưới một trại nuôi lồng biển cá tráp vàng (Spatus aurata), Domínguez và cộng sự (2001) đã chia vùng biển để xem xét ảnh hưởng làm 3 khu vực tương ứng là ngay bên dưới lồng, cách lồng lần lược 60 m và 200 m. Mẫu trầm tích được phân tích tập trung đối với 3 thành phần hóa học chính là hàm lượng hữu cơ, nitrogen (N) và phosphorus (P). Nghiên cứu cho thấy với một trại nuôi quy mô nhỏ (80 tấn sản phẩm/năm) mới đưa vào hoạt động (năm đầu tiên) ở vùng biển có tốc độ dòng chảy cao (xấp xỉ 6cm/s) ít gây ảnh hưởng đến trầm tích. Tiếp tục với vấn đề này, một nghiên cứu thử nghiệm nhằm đánh giá một vài đặc tính hóa học của trầm tích lân cận một trai nuôi cá biển (cá tráp vàng - Sparus aurata và cá chẽm - Dicentrarchus labrax) xa bờ ở phía Tây Địa Trung Hải (San Pedro del Pinatar, Murcia, SE Spain) đã được thực hiện. Trong nghiên cứu này, việc lấy mẫu được thiết kế nhằm xem xét các thay đổi về thủy văn và sự phân tán chất thải trước đó (Aguado và cộng sự, 2004). Mẫu được lấy bên dưới lồng và cách lồng lần lượt 100, 200 và 500 m theo hai hướng Bắc và Nam, và một điểm đối chứng cách lồng 1,8 km về hướng Nam. Các thông số gồm hàm lượng chất hữu cơ (OM), tổng N và tổng P được phân tích trong suốt chu kỳ một năm hoạt động.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_hieu_qua_cong_tac_quan_ly_khai_thac_va_ba.pdf