Giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu á

GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở CHÂU Á A.MỞ ĐẦU Bước vào thời cận đại, sau các cuộc phát kiến địa lý của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Nhiều vùng đất mới trên thế giới được người châu Âu phát hiện trong đó có châu Á là một trong những châu lục phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Đây là những điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược. cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thị trường là nhu cầu cấp thiết và là nơi chủ yếu để cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ. Vì vậy mà chủ nghĩa thực dân phương Tây chạy đua, cạnh tranh gay gắt trong việc xâm lược và đặt ách thống trị ở các quốc gia châu Á. Song song với quá trình xâm lược của thực dân phương Tây là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước châu Á để bảo vệ độc lập và chủ quyền của dân tộc mình. Tuy nhiên mỗi dân tộc mỗi quốc gia tùy theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cũng như phong trào đấu tranh của các giai cấp trong xã hội mà việc lựa chọn đường lối đấu tranh, hình thức đấu tranh, giai cấp lãnh đạo trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cho phù hợp và ở mỗi nước cũng có sự khác nhau. B. NỘI DUNG 1. Khái quát chung về giai cấp tư sản châu Á 1.1. Khái niệm về giai cấp tư sản Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông thì giai cấp tư sản được định nghĩa như sau: là một giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa, chiếm hữu tư liệu sản xuất, làm chủ nhà máy và xí nghiệp tiến hành bóc lột sức lao động thặng dư của công nhân. Giai cấp tư sản mâu thuẫn đối kháng với giai cấp công nhân. 1.2. Sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản châu Á. 1.2.1. Điều kiện ra đời và sự hình thành của giai cấp tư sản châu Á Trước khi bị thực dân phương Tây các nước ở chấu Á là những quốc gia có độc lập chủ quyền, chế độ phong kiến ngự trị lâu đời bên cạnh đó ở một số quốc gia vẫn đang còn ở tình trạng thị tộc bộ lạc. Khi thực dân phương Tây xâm nhập rồi xâm lược thì các quốc gia ở châu Á lần lượt đánh mất chủ quyền của dân tộc (bên cạnh đó vẫn có một số nước giữ được độc lập chủ quyền). Tuy nhiên khi bị xâm lược nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến cũng như đông đảo quần chúng nhân dân các nước châu Á đã đứng lên chống lại sự xâm lược của của thực dân phương Tây để bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc. Khi đã bị đặt ách thống trị, phong trào đâu tranh của giai cấp cũ cũng như giai cấp mới xuất hiện trong xã hội bùng nổ mạnh mẽ. Và đây cũng là buổi chuyển giao giữa cái “cũ” và cái “mới” giữa cái tiến bộ của phương Tây và cái lạc hậu của phương Đông. Xã hội có những chuyển biến quan trọng về nhiều mặt: sự xuất hiện của giai cấp mới, tầng lớp mới, sự phân hóa của giai cấp cũ, sự chuyển biến về kinh tế văn hóa làm cho phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á càng phong phú hơn. Trong bối cảnh xã hội có nhiều sự thay đổi từ bên trong và những yếu tố mới từ bên ngoài đưa vào thì tất yếu sẽ có sự thay đổi mới. Một trong những yếu tố mới từ bên ngoài là sự xâm nhập của kinh tế tư bản bên ngoài và sự phát triển của kinh tế dân tộc đã thúc đẩy nhanh chóng nền kinh tế tiểu nông ở các nước châu Á. Đồng thời sự hình thành và phát triển của nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là tiền đề vật chất cho những tư tưởng mới mang tính chất tiến bộ ra đời, đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản dân tộc. Dù những yếu tố kinh tế TBCN ở các quốc gia xuất hiện sớm hay muộn thì đến cuối thế kỉ XIX đầu XX giai cấp tư sản đã xuất hiện ở hầu hết các nước. Sự ra đời của giai cấp tư sản đồng hành cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trước khi giai cấp tư sản châu Á ra đời hầu hết các quốc gia ở châu Á đã trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây. Tuy nhiên trong quá trình xâm lược của thực dân phương Tây thì sự du nhập của nền kinh tế của các nước thực dân đã làm xuất hiện mầm mống kinh tế TBCN ở một số nước như: Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia, chính những mầm mống kinh tế TBCN cùng với việc thống trị của CNTD đã làm xuất hiện giai cấp tư sản. Trong điều kiện xã hội thuộc địa, chịu sự cai trị của thực dân thì những yếu tố tư bản bên ngoài cũng theo chân quá trình khai thác thuộc địa du nhập vào mặt khác cùng với nền kinh tế phong kiến dần dần bị phá vỡ dẫn đến việc hình thành nền kinh tế mới trong chế độ cai trị của thực dân xâm lược. Cùng với sự phát triển này, những tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện. Sớm nhất là một số tư sản mại bản đứng ra bao thầu các bộ phận kinh doanh của các nước thực dân phương Tây như thầu làm

docx8 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 12911 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu á, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở CHÂU Á A.MỞ ĐẦU Bước vào thời cận đại, sau các cuộc phát kiến địa lý của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Nhiều vùng đất mới trên thế giới được người châu Âu phát hiện trong đó có châu Á là một trong những châu lục phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Đây là những điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược. cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thị trường là nhu cầu cấp thiết và là nơi chủ yếu để cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ. Vì vậy mà chủ nghĩa thực dân phương Tây chạy đua, cạnh tranh gay gắt trong việc xâm lược và đặt ách thống trị ở các quốc gia châu Á. Song song với quá trình xâm lược của thực dân phương Tây là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước châu Á để bảo vệ độc lập và chủ quyền của dân tộc mình. Tuy nhiên mỗi dân tộc mỗi quốc gia tùy theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cũng như phong trào đấu tranh của các giai cấp trong xã hội mà việc lựa chọn đường lối đấu tranh, hình thức đấu tranh, giai cấp lãnh đạo trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cho phù hợp và ở mỗi nước cũng có sự khác nhau. B. NỘI DUNG 1. Khái quát chung về giai cấp tư sản châu Á 1.1. Khái niệm về giai cấp tư sản  Theo từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông thì giai cấp tư sản được định nghĩa như sau: là một giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa, chiếm hữu tư liệu sản xuất, làm chủ nhà máy và xí nghiệp… tiến hành bóc lột sức lao động thặng dư của công nhân. Giai cấp tư sản mâu thuẫn đối kháng với giai cấp công nhân. 1.2. Sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản châu Á. 1.2.1. Điều kiện ra đời và sự hình thành của giai cấp tư sản châu Á Trước khi bị thực dân phương Tây các nước ở chấu Á là những quốc gia có độc lập chủ quyền, chế độ phong kiến ngự trị lâu đời bên cạnh đó ở một số quốc gia vẫn đang còn ở tình trạng thị tộc bộ lạc. Khi thực dân phương Tây xâm nhập rồi xâm lược thì các quốc gia ở châu Á lần lượt đánh mất chủ quyền của dân tộc (bên cạnh đó vẫn có một số nước giữ được độc lập chủ quyền). Tuy nhiên khi bị xâm lược nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến cũng như đông đảo quần chúng nhân dân các nước châu Á đã đứng lên chống lại sự xâm lược của của thực dân phương Tây để bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc. Khi đã bị đặt ách thống trị, phong trào đâu tranh của giai cấp cũ cũng như giai cấp mới xuất hiện trong xã hội bùng nổ mạnh mẽ. Và đây cũng là buổi chuyển giao giữa cái “cũ” và cái “mới” giữa cái tiến bộ của phương Tây và cái lạc hậu của phương Đông. Xã hội có những chuyển biến quan trọng về nhiều mặt: sự xuất hiện của giai cấp mới, tầng lớp mới, sự phân hóa của giai cấp cũ, sự chuyển biến về kinh tế văn hóa làm cho phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á càng phong phú hơn. Trong bối cảnh xã hội có nhiều sự thay đổi từ bên trong và những yếu tố mới từ bên ngoài đưa vào thì tất yếu sẽ có sự thay đổi mới. Một trong những yếu tố mới từ bên ngoài là sự xâm nhập của kinh tế tư bản bên ngoài và sự phát triển của kinh tế dân tộc đã thúc đẩy nhanh chóng nền kinh tế tiểu nông ở các nước châu Á. Đồng thời sự hình thành và phát triển của nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là tiền đề vật chất cho những tư tưởng mới mang tính chất tiến bộ ra đời, đó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản dân tộc. Dù những yếu tố kinh tế TBCN ở các quốc gia xuất hiện sớm hay muộn thì đến cuối thế kỉ XIX đầu XX giai cấp tư sản đã xuất hiện ở hầu hết các nước. Sự ra đời của giai cấp tư sản đồng hành cùng với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trước khi giai cấp tư sản châu Á ra đời hầu hết các quốc gia ở châu Á đã trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây. Tuy nhiên trong quá trình xâm lược của thực dân phương Tây thì sự du nhập của nền kinh tế của các nước thực dân đã làm xuất hiện mầm mống kinh tế TBCN ở một số nước như: Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia,… chính những mầm mống kinh tế TBCN cùng với việc thống trị của CNTD đã làm xuất hiện giai cấp tư sản. Trong điều kiện xã hội thuộc địa, chịu sự cai trị của thực dân thì những yếu tố tư bản bên ngoài cũng theo chân quá trình khai thác thuộc địa du nhập vào mặt khác cùng với nền kinh tế phong kiến dần dần bị phá vỡ dẫn đến việc hình thành nền kinh tế mới trong chế độ cai trị của thực dân xâm lược. Cùng với sự phát triển này, những tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện. Sớm nhất là một số tư sản mại bản đứng ra bao thầu các bộ phận kinh doanh của các nước thực dân phương Tây như thầu làm cầu, đường trại lính, đồn bốt, phà, xe lửa, cung cấp và tiếp tế lương thực, hay làm đại lý phân phối hàng hóa. Vì vậy, giai cấp này có quyền lợi gắn liền với chủ nghĩa thực dân nên khi chủ nghĩa thực dân xâm lược chúng từng bước cấu kết với bọn thực dân và nhanh chóng trở thành tay sai, công cụ đắc lực của chủ nghĩa thực dân để quay lại đàn áp, khủng bố và bóc lột chính nhân dân của mình nên chúng không thể là lực lượng đứng ra để chống chủ nghĩa thực dân. Tầng lớp tư sản dân tộc xuất thân từ nhiều bộ phận khác nhau trong xã hội: từ địa chủ quan lại, từ các doanh nghiệp, tiểu chủ mới giàu lên, tầng lớp trí thức. Trong số những nhà tư sản dân tộc đó có một bộ phận kinh doanh riêng biệt, nhằm phát triển theo hướng độc lập. Ban đầu họ cũng kinh doanh buôn bán với phương Tây nhưng khi có một số vốn tương đối thì họ tách ra kinh doanh riêng. Một số khác có xuất thân từ địa chủ giàu có chuyển một phần vốn kinh doanh công thương nghiệp với ý thức phát triển kinh tế dân tộc. Cũng có những người có ý thức hùn vốn lại thành lập những công ty lớn để cạnh tranh với chính quốc và nước ngoài. Nhưng hầu hết, giai cấp tư sản dân tộc bị thực dân chèn ép nặng nề nên phát triển chậm chạp về mọi mặt. Ra đời và phát triển trong điều kiện một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến hoặc phụ thuộc nên còn non yếu và ít ỏi. Nhưng sự phát triển của kinh tế tư bản dân tộc là cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài. Tầng lớp tiểu tư sản ra đời trước và đông hơn giai cấp tư sản. Đó là những nhà tiểu công nghiệp, tiểu thương, những người làm việc trong các sở công hay tư, những người làm nghề tự do. Khi chủ nghĩa tư bản du nhập quan hệ sản xuất TBCN vào các nước thuộc địa và phụ thuộc thì hầu hết những nghành thủ công nghiệp đều bị phá sản. Tuy nhiên, vẫn có những nghành phát triển do nhân dân lao động có khả năng mua hàng ngoại. Nên ở một khía cạnh nào đó những nghành thủ công nghiệp vẫn có cơ hội để phát triển. Do đó, tầng lớp tiểu thương khá đông đảo ở các nước đã đứng lên làm trung gian giữa người sản xuất và người tiêu thụ ngày càng đông lên. 1.2.2.Qúa trình phát triển của giai cấp tư sản châu Á. Đến đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản ở châu Á ra đời. Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng nước mà giai cấp tư sản có sự phát triển khác nhau mạnh hay yếu, nhiều hay ít...ra đời cùng với giai cấp tư sản là giai cấp công nhân. Nhưng ở giai đoạn đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân ở các nước chưa trưởng thành và chưa trở thành một lực lượng chính trị độc lập như giai cấp tư sản mà thường đi kèm với giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh chống thực đân và phong kiến. Đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản dân tộc ở một số nước như Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia đã phát triển mạnh mẽ và trở thành giai cấp đại diện cho dân tộc mình trong cao trào đấu tranh chống thực dân và phong kiến, nhất là chống thực đân. Ở Trung Quốc, từ những năm 70 của thế kỷ XIX, ngành công nghiệp của Trung Quốc mới bắt đầu có sự phát triển. Hết Anh rồi tới Mỹ thi nhau lập xưởng sửa chữa tàu ở Thượng Hải, Hương Cảng. Các ngành công nghiệp nhẹ như chế biến chè, tơ, da, dầu, bông cán...cũng được chú trọng phát triển, nhất là chế biến chè. Các ngành công nghiệp dịch vụ như điện nước, hơi, than, diêm, giấy, thuỷ tinh, xà phòng...đã xuất hiện ở Thượng Hải. Đến đầu thế kỷ XX nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ, từ những năm 1900 đến năm 1908 số công trường thủ công đã tăng lên gấp đôi, hàng hoá tràn ngập cả nước. Đầu thế kỷ XX giai cấp tư sản ở Trung Quốc bắt đầu phát triển bằng việc mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực khác ngoài diệt như công nghiệp dân dụng, công nghiệp nặng. Nhật Bản, vào thế kỷ XVII, đặc biệt vào đầu thế kỷ XIX công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ và tác động trở lại với xã hội. Tổ chức sản xuất thủ công nghiệp truyền thống là phường hội ở thành thị, những công trường thủ công phân tán khá phổ biến. Đầu thế kỷ XVIII do nhu cầu tiêu dùng vải lụa đã làm cho số lượng các công trường thủ công diệt ngày càng tăng. Đến giữa thế kỷ XIX số công trường thủ công đã lên tới hơn 100 công trường. Việc sản xuất kinh doanh đã gây những tác động tích cực. Nó đặt ra những cơ sở mong manh cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đẩy mạnh mở rộng ảnh hưởng đến nền kinh tế sản xuất hàng hoá. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, giai cấp tư sản ra đời trong quá trình đế quốc tan rã và dần dần trở thành một nước nửa thuộc địa. Việc xâm nhập hàng hoá nước ngoài đã làm cho các ngành công nghiệp và thủ công nghiệp địa phương bị phá sản. Để phục vụ cho sự bóc lột của mình, tư bản nước ngoài đã xây dựng ở Thổ Nhĩ Kỳ nhiều đường sắt, song song với nó là việc khai thác hầm mỏ trồng bông. Điều này đã làm cho sự phân hoá giai cấp trong xã hội Thổ diễn ra nhanh chóng. Ở Iran, giai cấp tư sản ra đời trong điều kiện nước này bị thực đân Anh, Nga tranh chấp, triều đình phong kiến phải kí hiệp ước bất bình đẳng mang tính chất đầu hàng. Trước tình hình đó ý thức đân tộc được thức tỉnh ở những tri thức trong ngoài nước. Họ mở những trường dạy học, cho suất bản một số sách báo tiến bọ để tuyên truyền tinh thần dân tộc, chuẩn bị lực lượng cách mạng. Họ công kích phong kiến đương thời vào chống lại tư bản nước ngoài. Ở Ấn Độ, tuy thực đân Anh cản trở và phá hoại nền kinh tế nhưng giai cấp tư sản Ấn Độ đã không ngừng phát triển về số lượng và vốn sản xuất. Nhưng trong quá trình phát triển giai cấp tư sản Ấn Độ còn lệ thuộc nhiều vào tư sản Anh và còn nhiều liên hệ với tầng lớp địa chủ. Ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản bỏ vốn kinh doanh và thành lập được nhiều công ty trong những ngành diệt, ngành gốm, nước mắn... Nhìn chung, đầu thế kỷ XX giai cấp tư sản châu Á đã có những bước phát triển về kinh tế, chính trị, Đây là những cần thiết cho việc thực hiện vai trò to lớn của mình trong cuộc đấu tranh chống thực dân và phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản các phong trào diễn ra mạnh mẽ, rộng lớn, nó đã lôi kéo các giai cấp tầng lớp trong xã hội tham gia vào phong trào đấu tranh tuy phong trào đấu tranh diễn ra ở các nước khác nhau nhưng lại gần như cùng một thời gian, nó tạo nên một làn sóng cách mạng mạnh mẽ mà Lê Nin gọi là thời kỳ “châu Á thức tỉnh”, chủ nghĩa tư bản thế giới và phong trào cách mạng 1905 trong trạng thái trì trệ thời trung cổ đã thức tỉnh và bước vào một cuộc sống mới, vào cuộc đấu tranh giành quyền sơ đẳng nhất của con người. “sự thức tỉnh của châu Á... có nghĩa là một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới được mở ra vào đầu thế kỷ XX”. 1.3. Đặc điểm cuả giai cấp tư sản châu Á. Trong quá trình hình thành và phát triển giai cấp tư sản châu Á đã bộc lộ những điểm riêng biệt của mình. vĐặc điểm thứ nhất là: Giai cấp tư sản châu Á ra đời muộn nửa sau thế kỷ XIX, do sự xâm lược và ảnh hưởng ngày càng lớn của tư bản nước ngoài, nền kinh tế tư bản châu Á đã được kích thích phát triển nhanh chóng. Tư sản nhiều nước ra đời, vào những năm 70 của thế kỷ XIX, giai cấp tư sản Trung Quốc, Ấn Độ ra đời, giai cấp tư sản Nhật Bản thì ra đời trước đó, còn Việt Nam thì mãi đầu thế kỷ XX giai cấp tư sản mới ra đời.  vĐặc điểm thứ hai của giai cấp châu Á là ra đời trong công nghiệp nhẹ. Hầu như giai cấp tư sản châu Á đều sản xuất kinh doanh trong những ngành thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến là chủ yếu. Ngoài ra còn kinh doanh trong nghành chế tạo và sửa chữa, khai mỏ, vận chuyển...nhưng chỉ chiếm một số lượng nhỏ bé.  vĐặc điểm thứ ba của giai cấp tư sản châu Á là ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa hoặc phụ thuộc. Vì đến cuối thế kỷ XIX hầu hết các nước châu Á đều trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc, nên để tồn tại và phát triển tư sản các nước thường phải dựa vào tư sản nước ngoài về chính trị, kinh tế và kỹ thuật. Nhưng do bị tư bản nước ngoài chèn ép nên quyền lợi của tư bản thực dân mâu thuẫn với tư bản nước ngoài. Đồng thời lại bị chế độ phong kiến kìm hãm sự phát triển nên nó mang tính hai mặt.  vĐặc điểm thứ tư từ đặc điểm thứ ba dẫn đến đặc điểm thứ tư của giai cấp tư sản châu Á là họ mang tính chất hai mặt. Một mặt họ đứng về phía nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân và phong kiến nhưng mặt khác họ cũng sẵn sàng thoả hiệp khi mà các nước tư bản nhượng bộ cho họ một số quyền lợi, nhất là về kinh tế. vĐặc điểm thứ năm: Giai cấp tư sản là đại diện cho giai cấp mới trong xã hội, cho phương thức sản xuất tiến bộ với hệ tưởng dân chủ tư sản tiên tiến. Nhưng do mới ra đời lại bị tư sản nước ngoài chèn ép nên tư sản dân tộc phát triển yếu ớt và châm chạp.  . vSo sánh giai cấp tư sản châu Âu và châu Á  So với giai cấp tư sản châu Âu thì giai cấp tư sản châu Á ra đời muộn hơn nhiều vì giai cấp tư sản chấu Âu ra đời từ thế kỉ XVI, XVII, trong điều kiện nền kinh tế tư bản phát triển nhưng bị các thế lực phong kiến trong nước kìm hãm sự phát triển nên giai cấp tư sản đứng ra tổ chức lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc cách mạng tư sản để xác lập phương thức sản xuất TBCN. Ra đời trong điều kiện nền kinh tế phát triển nên giai cấp tư sản châu Âu trưởng thành hơn về số lượng và chất lượng cho nên ngay từ buổi đầu giai cấp tư sản đã đứng ra tập hợp nhân dân và liên minh với các giai câp khác tiến hành CMTS. Tuy nhiên trong buổi đầu thời cận đại thì giai cấp tư sản châu Âu mang tính chất tiến bộ và cách mạng vì giai đoạn này ở châu Âu chế độ phong kiến vẫn còn tồn tai vững chắc nên giai cấp tư sản chưa co một tư tưởng chính trị vững vàng. Ở giai đoạn sau khi giai cấp tư sản đã bộc lộ những nhược điểm là quay lại phản bội nhân dân vì lúc này giai cấp tư sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong xã hội. 1.4.Thái độ của giai cấp tư sản Trong phong trào đấu tranh của nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến: Khi thực dân phương Tây xâm nhập thông qua các hoạt động giao lưu buôn bán thương mại, truyền giáo vào chấu Á thì những mầm mống của nền kinh tế TBCN đã xuất hiện, lúc này một số người đã chuyển hướng kinh doanh, những tầng lớp tư sản xuất hiện nhưng chưa trở thành một giai cấp trong xã hội. Họ mới là tầng lớp tư sản, buôn bán, chủ các công trường thủ công phân tán. Khi thực dân phương Tây xâm lược nhà nước phong kiến và giai cấp phong kiến tổ chức đấu tranh chống thực dân thì tầng lớp này cũng đã hưởng ứng tham gia đấu tranh. Họ đi theo dưới ngọn cờ của giai cấp phong kiến bởi vì nhiệm vụ dân tộc là trên hết. Họ đồng tình ủng hộ và đi theo phong trào đấu tranh của giai cấp phong kiến trở thành lực lượng tham gia đấu tranh chống xâm lược. Khi giai cấp phong kiến mất vai trò lãnh đạo thì giai cấp tư sản lúc này đã trở thành một giai cấp trong xã hội do sự đầu tư khai thác thuộc địa của thực dân phương Tây. Nhưng lúc này giai cấp tư sản đang trong quá trình hình thành, số lượng và chất lượng yếu kém, lại chưa đủ khả năng lãnh đạo cách mạng. Vì vậy, lúc này có vai trò lãnh đạo của trí thức phong kiến tiến bộ tiếp thu tư tưởng mới tư tưởng dân chủ tư sản. Trong khi tầng lớp trí thứcphong kiến này đấu tranh thì giai cấp tư sản có thái đô là đồng tình ủng hộ về vật chất cho phong trào. Và khi phong trào theo khuynh hướng tư sản của trí thức phong kiến thất bại thì giai cấp tư sản lúc nay đã đứng ra đảm nhiệm vai trò sứ mệnh lịch sử của mình. Họ nhận thấy được yêu cầu đòi hỏi của xã hội của dân tộc họ lúc bấy giờ. Lúc này họ đại diện cho lực lượng tiến bộ trong xã hội, là lực lượng tiên tiến nhất có thể đứng ra tập hợp lực lượng bởi vì họ đại diện cho tư tưởng tiến bộ. Họ đã nhậ thấy được hoàn cảnh đất nước phụ thuộc và mâu thuẫn chủ yếu là gì, nhận thức được nhiệm vụ của mình vì vậy họ đã giương cao ngọn cờ đoàn kết thống nhất, tập hợp lực lượng đấu tranh. Vì vậy đầu thế kỉ XX giai cấp tư sản đã đứng ra lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Họ đã đông đảo về số lượng, trưởng thành về chất lượng, ý thức giai cấp, họ đã có đủ khả năng thành lập những tổ chức chính trị, các chính đảng để tập hợp quần chúng nhân dân. Ở một số nước ở châu Á vai trò và sứ mệnh giải phóng dân tộc là do giai cấp tư sản lãnh đạo và thực tế kết quả giai cấp tư sản đã thực hiện được trách nhiệm của mình là giải phóng dân tộc. Như ở Inđônêxia, Philippin,…tuy nhiên ở một số nước vai trò cảu giai cấp tư sản cũng chỉ trong một thời gian ngắn như ở Trung Quốc sau sự thất bại của cách mạng Tân Hợi thì cũng chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp tư sản, hay ở Việt Nam sau năm 1930 với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái thì cũng chấm dứt vai trò của giai cấp tư sản. Từ đó ngọn cờ cách mạng chuyển hẳn sang giai cấp vô sản. Khi giai cấp tư sản mất hết vai trò lãnh đạo thì họ có thái độ với giai cấp mới nắm chính quyền lãnh đạo là họ không bài trừ loại bỏ mà vẫn tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp vô sản. 2. Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản ở châu Á 2.1. Mục đích đấu tranh Mục đích đấu đấu tranh của giai cấp tư sản châu Á cũng tiến bộ hơn so với phong kiên và nông dân  Phong kiến đấu tranh là để bảo vệ, khôi phục lại nền quân chủ chuyên chế (ngai vàng vương tộc..) Nông dân đấu tranh để đòi các quyền lợi về ruộng đất cơm áo gạo tiền.. nếu thắng lợi thì lại đi vào con đường phong kiến hóa. Đánh đổ cái cũ không tiến bộ để thiết lập lại cái cũ tiến bộ hơn mà không xây dựng chế độ mới. Bởi vì nông dân không đại diện cho phương thức sản xuất và tư tưởng tiến bộ nào. Còn giai cấp tư sản đấu tranh giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ cũ (chống phong kiến) để thiết lập chế độ mới TBCN đưa đất nước phát triển đi lên Do hạn chế về tư tưởng vì vậy phong trào đấu tranh của giai cấp phong kiến, nông dân chủ yếu là dùng ngọn cờ tôn giáo để tập hợp lực lượng còn tư sản thì dùng đấu tranh tự do để tập hợp lực lượng. Từ mục đích đấu tranh đó thì giai cấp tư sản họ có phương pháp đấu tran đường lối cương lĩnh rõ ràng. Họ được trang bị bởi lý luận tiến bộ là tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây. Họ đã thành lập cá tổ chức chính trị, chính đảng của giai cấp mình và trở thành lực lượng chính trị độc lập (như tổ chức Đồng Minh Hội của Trung Quốc với cương lĩnh: “đánh đổ triều đình mãn Thanh, thành lập dân quốc, bình quân địa quyền” trong đó thành lập dân quốc và bình quân địa quyền là hai nhiệm vụ có ý nghĩa cách mạng và tiến bộ so với phong trào theo xu hướng tư sản thì nó cũng có nhiều tiến bộ. Giai cấp tư sản đã tiếp thu hệ tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây một cách có hệ thống, trực tiếp hơn trí thức phong kiến.  Giai cấp tư sản có chủ trương đường lối cụ thể hơn, đổi mới về chính trị, xây dựng chế độ tư sản chống xâm lược của tư bản một cách cụ thể. 2.2. Biện pháp đấu tranh Biện pháp đấu tranh thì giai cấp tư sản sử dụng nhiều biện pháp phong phú, không chỉ cải cách, hòa bình mà còn kết hợp với đấu tranh kinh tế, đấu tranh vũ trang, chính trị. Tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia, có đặc điểm lịch sử khác nhau về kinh tế xã hội, văn hóa xã hội khác nhau mà con đường đấu tranh, biện pháp đáu tranh cũng khác nhau của giai cấp tư sản ở mỗi nước có sự khác nhau và quy cho cùng ta thấy có hai con đường đấu tranh chủ yếu đó là: - Thứ nhất là con đường đấu tranh bằng vũ trang bạo lực cánh mạng - Thứ hai là con đường đấu tranh bằng phương pháp ôn hòa, hòa bình + Con đường đấu tranh bằng phương pháp hòa bình có thể nói như Ấn Độ, Inđônêxia là những nước điển hình cho con đường đấu tranh không bạo lực, mà chủ yếu bằng con đường hòa bình, ôn hòa do giai cấp tư sản lãnh đạo để giành độc lập dân tộc và con đường cứu nước của giai cấp tư sản Ấn Độ và Inđônêxia được nhân dân chấp nhận. Vì nó phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mỗi quốc gia, của mỗi dân tộc.Trong hoàn cảnh đều là những nước bị phân thành nhiều tiểu quốc, dân cư đông, thành phần dân tộc phức tạp, là những quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau… trong khi đó cùng với sự thất bại cuả các cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc ở các nước này lại không phải là bằng phương pháp vũ trang. Do đó, các cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản lãnh đạo ở mỗi nước là đều diễn ra theo con đường hòa bình. Tuy nhiên, dù là đều bằng phương pháp đấu tranh ôn hòa hay hòa bình thì đấu tranh của hai nước cũng có sự khác nhau. Ở Inđônêxia: Các trí thức tư sản Inđônêxia đã nhận thấy sự thấp kém, lạc hậu của dân tộc trong hoàn cảnh thuộc địa, sự phân tán cả trong ý thức dân tộc…Do đó họ đã cổ súy văn hóa dân tộc. Nhằm tạo ra cộng đồng dân tộc đoàn kết.  Trên nền tảng văn hóa. Họ tập trung vào nâng cao phát triển văn hóa, rồi từ đó đi đến đấu tranh giành độc lập dân tộc. Như vậy, ở đây họ đã đòi cả quyền lợi cả dân tộc, giai cấp tư sản Inđônêxia đã xác định được con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thấp đến cao. Ở Ân Độ: thì giai cấp tư sản họ không cổ súy văn hóa mà họ chỉ đấu tranh đòi quyền tự do, bình đẳng, quyền tự do giai cấp tư sản. Đảng Quốc Đại ra đời là Đảng của giai cấp tư sản Ấn Độ ra đời năm (1885), nhưng cũng chỉ được hoạt động trong khuôn khổ cho phép của thực dân Anh. Giai cấp tư sản Ấn Độ mang tính ôn hòa trong khuôn khổ của thực dân Anh. Trong khoảng 20 năm đầu từ khi thành lập, hoạt động của đảng Quốc Đại còn rất yếu kém, những yêu sách của đảng mới chỉ đóng khung trong vấn đề tự trị và bình đẳng giữa người Ấn và người Anh. Chỉ đòi quyền lợi cho giai cấp tư sản Ấn, chưa đề cập đến quyền lợi của dân tộc cho Ấn Độ  + Con đường đấu tranh bằng vũ trang,bạo lực cách mạng Trong phong trào đấu tranh do giai cấp tư sản châu Á lãnh đạo, bên cạnh con đường đấu tranh bằng phương pháp hòa bình thì giai cấp tư sản ở một số nước đã sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang, bằng bạo lực cách mạng tiêu biểu cho hình thức này đó là cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc năm (1911), cách mạng Phổ (1908), cách mạng Iran (1905-1911), cách mạng Philippin (1892 – 1898). Trong đó tiêu biểu nhất là cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do gia cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo. Có thể thấy giai cấp tư sản Ấn Độ ra đời sớm hơn so với giai cấp tư sản Trung Quốc nhưng họ lại không thực hiện được một cuộc cách mạng tư sản mà chỉ dừng lại ở mức độ phong trào. Còn giai cấp tư sản Trung Quốc với tổ chức “Trung Quốc Đồng Minh Hội” đã có cương lĩnh rõ ràng, vạch ra nhiệm vụ cách mạng, có lãnh tụ, có ngọn cờ tập hợp lượng đó là học thuyết “tam dân” của Tôn Trung Sơn và con đường đấu tranh của giai cấp tư sảnTrung Quốc là đấu tranh thiên về quân sự là bạo lực cách mạng tư sản bạo động. Có thể thấy vào đầu thế kỉ XX thì dưới sự lãnh đaọ của giai cấp tư sản ở châu Á đã bùng nổ các cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Nó không còn là những cuộc khởi nghĩa nữa mà nó đã thực sự tạo ra một đặc điểm rất lớn cho cách mạng tư sản bằng con đường bạo động, nó thức tỉnh châu Á đầu thế kỉ XX. Tuy nhiên các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ ở châu Á do giai cấp tư sản lãnh đạo ở giai đoạn này vẫn chưa đạt thắng lợi một cách triệt để, đa phần đều thất bại. Việc sử dụng bạo lực cách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp tư sản ở một số nước thuộc địa phụ thuộc châu Á sử dụng. Tình hình này là do điều kiện lịch sử xã hội của các nước đó quy định. Đặc biệt kẻ thù của cách mạng ở những nước này mạnh, với những kẻ thù chúng luôn đặt yếu tố bạo lực lên hàng đầu. Với kẻ thù như thế việc lựa chọn bạo lực cách mạng là biện pháp đúng đắn. ØTóm lại Vào đầu thế kỉ XX phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc do giai cấp tư sản lãnh đạo trở thành phong trào trung tâm mà các phong trào khác đều phải chịu ảnh hưởng. Hình thức đấu tranh mà phong trào do giai cấp tư sản lãnh đạo áp dụng đa dạng hơn, không chỉ đòi cải cách duy tân, phát triển văn hóa dân tộc, mà còn kết hợp với đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang ở những mức độ khác nhau. Phong trào đã phát triển từ thấp tới cao, từ việc lập các hội, các trường học để duy trì và phát triển văn hóa khơi dậy tinh thần dân tộc…đến sự ra đời của các tổ chức chính trị, đảng phái của giai cấp tư sản được tổ chức chặt chẽ hơn, có tính kỉ luật hơn, mục tiêu đấu tranh cao hơn. Đầu thế kỉ XX giai cấp tư sản ở các nước đã đề ra những cương lĩnh đấu tranh không cao nhưng tương đối rõ ràng trong từng nước. các cương lĩnh này đã trở thành ngọn cờ tư tưởng để tập hợp đông đảo quần chúng đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ. 2.3. Vai trò của giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ở các nước thuộc địa và phụ thuôc, giai cấp tư sản bảo giờ cũng chia thành hai bộ phận tư sản mại bản và tư sản dân tộc.  Tư sản mại bản, bộ phận này luôn gắn chặt với quyền lợi tư bản nước ngoài, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc. Vì vậy, họ là kẻ thù của đại đa số quần chúng nhân dân. Tư sản dân tộc, ít nhiều có tinh thân yêu nước, chống đế quốc và chống phong kiến họ là những nhà kinh doanh vừa và nhỏ, trí thức tiểu tư sản và tư sản có ít nhiều liên hệ với đế quốc nhưng chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản cách mạng. Tuy nhiên, bộ phận này vừa có tinh tinh thần chống đế quốc, chống phong kiến, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cương lĩnh của họ là thành lập một nhà nước trong đó có vị trí, tiếng nói của họ để có thể bảo vệ quyền lợi cao hơn nữa là một nhà nước mà giai cấp thống trị là bộ phận tư sản dân tộc. Trí thức tư sản là một bộ phận của giai cấp tư sản. Họ được đào tạo qua các trường tư bản đế quốc, nhằm mục đích là phục vụ cho chủ nghĩa thực dân. Song, nhiều trí thức tư sản do nhạy bén về nhận thức chính trị của mình trước cảnh dân tộc mất chủ quyền, nhân dân mất tự do, đất nước bị dày séo, họ đã hành động trái lại với ý đồ của thực dân. Họ đứng ra thành lập các hội, đảng chống đế quốc và phong kiến. Họ giương cao ngọn cờ dân tộc tư sản. Họ là người đại diện và phát ngôn, đồng thời là người hành động trực tiếp, chủ yếu tư sản dân tộc Ở châu Á đầu thế kỉ XX, bộ phận tư sản dân tộc đã tham gia vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, dấy lên những phong trào cách mạng tư sản ở những mức độ khác nhau như: ở Thổ, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia. Tư sản dân tộc quan tâm đến công nghiệp hóa nước nhà, phản đối tàn dư của chế độ phong kiến, chống lại đế quốc và tư sản mại bản. Đó là những mặt tích cực tiến bộ, mặt cách mạng của họ. Đầu thế kỉ XX, tầng lớp tư sản dân tộc cách mạng đã đề ra những cương lĩnh đấu tranh không cao nhưng tương đối rõ ràng trong từng nước. Các cương lĩnh này đã trở thành ngọn cờ tư tưởng để tạp hợp đông đảo quần chúng đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ. Trong các phong trào cách mạng, tư sản dân tộc còn đi với nhân dân và lôi cuốn khá đông đảo quần chúng đi theo mình. Vì thế, tư sản dân tộc có vai trò tiến bộ, tích cực và cách mạng. Cùng với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa họ ngày càng lớn mạnh và có tiếng nói vị trí quan trọng trong xã hội. Ngay từ đầu giai cấp tư sản đã tham giai đấu tranh vào phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân chống thực dân và phong kiến. Nhưng khi nhưng giai cấp cũ trong xã hội không còn đủ khả năng tập hợp và lãnh đạo những cuộc cách mạng đi tới thắng lợi thì vai trò lãnh đạo đặt lên vai giai cấp tư sản và họ đứng ra lãnh đạo cách mạng tạo nên “cơn bão táp cách mạng châu Á” đầu thế kỷ XX. Sự thức tỉnh của châu Á được đánh dấu bằng hàng loạt cuộc cách mạng dân chủ mạnh mẽ và to lớn với sự tham gia của nhiều giai tầng trong xã hộ nhưng trong đó phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản là trung tâm. Họ có vai trò quan trọng trong bước chuyển tiếp giữa cái “cũ” và cái “mới”. Khi giai cấp phong iến hết vai trò lãnh đạo thì họ chính là những người tiếp theo giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc. 2.4. Kết quả của phong trào giải phóng dân tộc do giai cấp tư sản lãnh đạo Các phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh của dân tộc châu Á thời cận đại đã thu được những kết quả nhất định: cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc đã lật đổ được triều đình mãn Thanh thiết lập được chính thể cộng hòa, phong trào tư sản ở Ấn Độ đã làm cho thực dân Anh hết sức lo sợ, ngoài ra ở một số nước khác phong trào cảu giai cấp tư sản đã tác động tuyên truyền những tư tưởng mới tư tưởng dân chủ, tập hợp lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia vào phong trào. Nhìn chung trong thời cận đại phong trào của giai cấp tư sản đã không đưa phong trào giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi triệt để do những nhược điểm của bản thân giai cấp như đã trình bày ở trên.  Một số nước sứ mệnh lãnh đạo, của giai cấp tư sản đã kết thúc sau khi phong trào do họ lãnh đạo thất bại thì con đường giải phóng dân tộc của các nước tiếp tục theo xu hướng vô sản và giành thắng lợi ở giai đoạn sau như ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều nước ở Đông Nam Á. Tuy vậy con đường của giai cấp tư sản vẫn được tiếp tục lựa chọn như ở Inđônêxia, Ấn Độ…do phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện riêng của các nước và đã giải phóng thành công đất nước sau chiến tranh thế giới thứ nhất. 1.5. Đánh giá, nhận xét về giai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. 1.5.1.Tích cực Giai cấp tư sản là lực lượng xã hội tiến bộ nhất trong xã hội lúc bấy giờ, đại diện cho phương thức sản xuất mới TBCN và tư tưởng mới dân chủ tư sản. vì vậy giai cấp tư sản cũng như phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản có những mặt tiến bộ: Thứ nhất là Giai cấp tư sản đã có tinh thần dân tộc lòng yêu nước sâu sắc, ngoài mâu thuẫn giai cấp họ còn có mâu thuẫn dân tộc vì vậy họ đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh cùng quần chúng nhân dân. Trong điều kiện khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo ở châu Á giai cấp tư sản đã gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc và họ giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến tuy cương lĩnh của giai cấp tư sản còn hạn chế nhưng đã trở thành ngọn cờ để tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân đấu tranh. Họ đi cùng quần chúng nhân dân liên minh với họ tạo nên sức mạnh tổng hợp chống lại kẻ thù chung của dân tộc điều đó thể hiện tính chất tiến bộ so với giai cấp phong kiến. Giai cấp tư sản đã làm cho tư tưởng dân chủ tư sản xâm nhập vào quần chúng nhân dân. Ta nhận thấy tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ hơn tư tưởng phong kiến. Nó đã thức tỉnh nhân dân châu Á trong hàng trăm năm của chế độ phong kiến tư tưởng này tiến bộ hơn so với tư tưởng phong kiến. Phong trào đấu tranh của giai cấp phong kiến và nhà nước phong kiến là khôi phục bảo bệ độc lập của phong kiến còn của giai cấp tư sản tư tưởng của nó là độc lập dân tộc gắn liền với tự do dân chủ. 1.5.2. Hạn chế  Bên cạnh những mặt tích cực thì trong quá trình đấu tranh giai cấp tư sản đã bộc lộ những hạn chế nhất định đó là giai cấp tư sản mang tính chất hai mặt bên cạnh việc yêu nước có tinh thần dân tộc do còn non trẻ nên họ còn dễ thỏa hiệp không kiên quyết trong vai trò lãnh đạo của mình. Trong các cuộc đấu tranh vẫn diễn ra sự thỏa hiệp họ chỉ mong muốn đem lại lợi ích cho giai cấp mình mà quên đi quyền lợi của nhân dân trong đó chủ yếu là nông dân lực lượng chính của cách mạng. Do tính chất hai mặt này mà giai cấp tư sản đã không đáp ứng được nguyện vọng của hầu hết quần chúng nhân dân do đó không liên minh với quần chúng nhân dân trong một thời gian dài dẫn đến phong trào nhanh chóng bị thất bại như ở Trung Quốc hay Việt Nam. Giai cấp tư sản vẫn còn nhậ thức sai lầm về kẻ thù không xác định được kẻ thù nào là chủ yếu như giai cấp tư sản ở Trung Quốc. Ở Ấn Độ ảo tưởng vào đế quốc, lệ thuộc vào thực dân Anh. Giai cấp tư sản châu Á còn yếu ớt, số lượng đã ít mà vốn liếng lại không nhiều, trong khi đó thực dân phương Tây đã nắm hết những khu vực rộng lớn, những tài nguyên giàu có, đã xây dựng được những công ty lũng đoạn với những quyền lực có khả năng loại trừ được những địch thủ trước kia. Chính vì sự yếu ớt về kinh tế mà giai cấp tư sản dân tộc không có tinh thần cách mạng triệt để, không xây dựng cho mình một tổ chức vững chắc không đề ra được tư tưởng chính xác. Ở châu Á đầu thế kỉ XX phong trào tư sản là phong trào trung tâm nhưng địa vị lãnh đạo của giai cấp tư sản trong phong trào thực ra không xác định rõ rệt như các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Âu Mĩ trước đây. Sự thiếu xác định của vai trò lãnh đạo của giai cấp tư sản thể hiện sự khủng hoảng chung về giai cấp lãnh đạo cách mạng ở châu Á vào đầu thế kỉ XX, khi mà giai cấp phong kiến đã mất hết vai trò lịch sử, thậm chí phản bội dân tộc, chống lại nhân dân, làm tay sai cho đế quốc và thực dân. Còn giai cấp nông dân tuy có tinh thần cách mạng, tinh thần chiến đấu nhưng không co lý luận cách mạng và khả năng lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân còn non yếu, chưa tới giai đoạn trưởng thành, tự giác. Trong điều kiện đó giai cấp tư sản đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng vì nhược điểm của bản thân nên nó không thể lãnh đạo cách mạng lâu dài và đưa cách mạng đi đến thắng lợi triệt để. vBài học kinh nghiệm Từ phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản và kết quả của phong trào mặc dù không giành được thắng lợi cuối cùng nhưng nó đã để lại bài học kinh nghiệm quý báu cho những giai cấp lãnh đạo phong trào ở giai đoạn tiếp theo cụ thể là: Thứ nhất là bài học về việc luôn luôn giương cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc. Thứ hai khi giai cấp đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh thì phải xây dựng cho mình một chính đảng vững mạnh để lãnh đạo vạch ra cương lĩnh đường lối đấu tranh đúng đắn. Thứ ba là giai cấp lãnh đạo phải xác định rõ kẻ thù của dân tộc là ai và kẻ thù nào là quan trọng nhất, nguy hiểm nhất cần phải đánh đổ ngay trước mắt để đi đúng hướng. Thứ tư là phải biết kết hợp giữa hai nhiệm vụ cơ bản là dân tộc và dân chủ không nên thiên về nhiệm vụ nào mà mắc phải sai lầm không đáng có và đó cũng là cơ sở để huy động lưc lượng qần chúng nhân dân. Thứ năm là trong phương pháp cách mạng phải biết kết hợp sao cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể của nước mình như có thể là bạo lực cách mạng, cũng có thể là ôn hòa, hòa bình và cũng có thể xen kẽ các phương pháp để giành thắng lợi cuối cùng. Thứ sáu là phải biết xây dụng tập hợp lực lượng dựa vào quần chúng nhân dân, coi dân là gốc của cách mang. Đáp ứng được tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Thứ tám là giai cấp lãnh đạo phải có tính kiên quyết trong vai trò lãnh đạo của mình, không lay động, không thỏa hiệp mà phải biết bảo vệ vững chắc thành quả của giai cấp mình không được để rơi vào tay phái khác. Thứ bảy là phải biết đặt phong trào giải phóng của dân tộc mình trong phong trào giải phóng của thế giới phải có sự học tập liên kết với nhau cùng chống kẻ thù chung. C. KẾT LUẬN Tóm lại, phong trào đấu tranh của nhân dân châu Á do giai cấp tư sản lãnh đạo với hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, đa dạng. Tùy theo đặc điểm của mỗi nước đặc điểm của giai cấp tư sản nước đó hay đặc điểm của nước thực dân chi phối tới mục tiêu, phương pháp, hình thức đấu tranh của giai cấp tư sản ở mỗi quốc gia dân tộc đó. Nên có những phong trào đưa đến thắng lợi nhưng cũng có những phong trào không đi đến thắng lợi cuối cùng nhưng qua quá trình đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của giai cấp tư sản trong việc lãnh đạo phong trào. Tóm lại dù thắng lợi hay thất bại thì phong trào do giai cấp tư sản lãnh đạo cũng thể hiện rõ sự tiến bộ của giai cấp mình so với giai cấp cũ trong xã hội. Đồng thời phong trào của giai cấp tư sản đã có ảnh hưởng to lớn đến việc giành thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc chung của nhân dân châu Á trong những giai đoạn tiếp theo của lịch sử.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxGiai cấp tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu á.docx