Dấu ấn văn hóa tày qua tập tản văn tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương - Trần Công Văn

Là nhà văn của miền sơn cước, mong muốn bảo tồn nét đẹp văn hóa của dân tộc mình nên Y Phương luôn có dụng ý sử dụng câu văn bằng tiếng mẹ đẻ. Điều đó vừa tạo ra tính địa phương, vừa tạo ra không khí nhiệm màu cổ tích cho ngôn ngữ của người Tày. Trong nhiều câu văn, tác giả đã sử dụng thứ ngôn ngữ của người Tày Nùng: “Ai nhìn thấy pỉ lùa, pỉ nàng đều nhâng nhâng vui” (Tết anh cả). Đó là “những người khai pác kin gò (bán mồm nuôi cổ) hay khai slư liệng minh (bán chữ nuôi thân)” (Khai pác kin gò) hoặc những câu như: “Lai cần liệng lai cần lẻ lỏoc. Cần tỏoc liệng cần tỏoc lẻ thai. Nhiều người nuôi nhiều người thì sống Một mình nuôi một mình là chết” (Cha mẹ cho ta anh em, Trời cho ta bạn). Nhà văn luôn có ý thức bảo tồn và giới thiệu đến bạn đọc thứ ngôn ngữ của người Tày Nùng, điều này không chỉ làm phong phú thêm cho ngôn ngữ bản xứ mà còn thể hiện niềm tự hào của tác giả khi viết về dân tộc mình. Như vậy, dấu ấn văn hóa Tày trong tản văn Y Phương không chỉ biểu hiện ở ẩm thực, lễ tết, tâm linh, mà còn in đậm trong phương thức thể hiện: từ ngôn ngữ, giọng điệu cho đến hình ảnh đều mang dáng dấp lối tư duy của người vùng cao. Ở đó không có cái giọng hoạt kê, hài hước như tản văn của Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) [2] hay ở Nguyễn Khắc Phê [4], cũng không đậm chất triết lý - suy tưởng như ở Hoàng Phủ Ngọc Tường [7]. Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương nhẹ nhàng mà tinh tế, giản dị mà sâu sắc, chứa chan tình nhân ái, hướng người đọc tới sự thanh cao của cái đẹp, cái thiện, cái rất thực, rất tự nhiên mang hồn cốt của người Tày.

pdf7 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Ngày: 03/12/2020 | Lượt xem: 218 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dấu ấn văn hóa tày qua tập tản văn tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương - Trần Công Văn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 01(17)/2011: tr. 65-71 DẤU ẤN VĂN HÓA TÀY QUA TẬP TẢN VĂN THÁNG GIÊNG, THÁNG GIÊNG MỘT VÒNG DAO QUẮM CỦA Y PHƯƠNG TRẦN CÔNG VĂN Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế HOÀNG ĐỨC KHOA Nhà xuất bản Đại học Huế Tóm tắt: Trong tập tản văn “Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm” của Y Phương, mảng viết về văn hóa Tày chiếm một số lượng khá lớn. Đó là những trang viết được chắt ra từ máu của tâm hồn nhà văn nên nó thật nặng lòng. Bài nghiên cứu về dấu ấn văn hóa Tày trong tản văn của Y Phương, nhằm chỉ ra và khẳng định nét độc đáo trên một số khía cạnh của văn hóa ẩm thực, văn hóa tâm linh và hơn hết là khát vọng bảo tồn những giá trị tốt đẹp của văn hóa Tày trong thời kỳ hội nhập và giao lưu quốc tế. Trong văn học Việt Nam hiện đại, mảng sáng tác về miền núi chiếm vị trí quan trọng. Những nhà văn vùng cao đã góp phần không nhỏ trong việc mang lại những âm điệu mới cho nền văn học dân tộc. Y Phương là một trong số những người tiêu biểu như thế. Người con trai làng Hiếu Lễ ấy, tên đầy đủ là Hứa Vĩnh Sước (1948). Từ cậu bé Tày chân trần, trải qua bao giông gió cuộc đời, Y Phương đã gây sự chú ý cho người đọc. Nếu trước đây người ta thường nhớ về Y Phương qua các tập thơ Tiếng hát tháng giêng (1987), Lời chúc (1991), Đàn then (1996), Chín tháng (trường ca) và đặc biệt là bài thơ nổi tiếng “Nói với con” thì nay ông lấn sang một địa hạt mới và để lại dấu ấn khá đặc biệt - đó là tản văn. Năm 2009 tập tản văn Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm (đạt giải B của Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Việt Nam) ra đời như là một phần thưởng xứng đáng cho tinh thần sáng tạo của nhà văn miền sơn cước này. Nếu thơ Y Phương là tiếng nói mạnh mẽ của một sức sống, một tình yêu không thể hoà lẫn với bất kỳ ai, thì trong tản văn một lần nữa Y Phương lại tô đậm thêm bản sắc của chính mình, của dân tộc mình. Tác phẩm của Y Phương góp phần làm giàu bản sắc văn hóa Tày nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung trong thời đại mới. Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, văn hóa “là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [6, tr. 27]. Như vậy, văn hóa chính là cái cốt tủy của mỗi dân tộc. Khai thác những nét đẹp văn hóa dân tộc luôn là khát vọng của nhiều người cầm bút - Y Phương là một trong số đó. Với Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm, nhà văn đã khám phá nét độc đáo trong văn hóa của người Tày Nùng. 1. VẺ ĐẸP VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY Trước hết là văn hóa ẩm thực. Ẩm thực là tiếng dùng khái quát nói về việc ăn và uống. TRẦN CÔNG VĂN - HOÀNG ĐỨC KHOA 66 Văn hóa ẩm thực bao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ đơn giản, đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị. Ăn uống là một bộ phận thiết yếu cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc, là một trong những lĩnh vực thể hiện đặc tính của một dân tộc. “Từ ngàn xưa, Việt Nam ăn đâu phải chỉ để ăn no mà còn để thưởng thức, ăn ngon, mà “ngon” hay “ngon miệng” là một phạm trù lớn của nghệ thuật ẩm thực đấy chứ. Và uống cũng vậy. Thì ai cũng biết uống ban đầu là để thỏa mãn nhu cầu của cái khát (). Nhưng rồi với diễn trình lịch sử, uống cái gì, uống với ai, uống như thế nào, uống lúc nào lại cũng trở thành nghệ thuật ” [3, tr. 410]. Trên phương diện mĩ học, ăn uống trong giá trị tự thân của nó đã trở thành một nét đẹp văn hóa được lưu truyền trong mỗi cộng đồng người. Nó kết tinh tri thức về thiên nhiên, tập quán, tính thẩm mĩ, cách ứng xử của từng vùng cư dân, từng quốc gia. Với phương châm “dựa vào quê mình để nói về quê mình”, Y Phương nhiệt thành giới thiệu những món ăn mang đặc trưng của vùng Tây Bắc như: vịt quay, phở chua, bánh áp chao, xôi ngũ sắc, chân giò hầm hạt dẻ, đặc biệt là món bánh cuốn Cao Bằng “ngon không gì sánh được có mùi thơm như cốm mới. Bánh cuốn Cao Bằng không có vị chua vì người ta làm bánh không cho bất cứ phụ gia nào ngoài gạo” (Ăn cái tình). Còn món xôi đen “trở thành một món ăn đặc sản không đâu có” (Dân Co Xàu hát Woàng dzà). Bên cạnh đó, có những thức quà thật dân dã như hạt dẻ ở Trùng Khánh mà đi đâu người ta cũng không bao giờ quên: “Hạt dẻ Trùng Khánh xịn, vỏ cứng, dày và có nhiều lông tơ. Nếu đem luộc, hấp hoặc mang vào lò nướng chín bạn sẽ thấy có hương thơm tự nhiên. Ngọt bùi tự nhiên” (Về Trùng Khánh mà nghe hạt dẻ). Hẳn Y Phương phải rất tự hào về quê hương Trùng Khánh vì ẩm thực ở đây không chỉ phong phú mà còn mang những nét rất riêng, trở thành đặc sản của vùng Tây Bắc. Thật ấn tượng khi nghe Y Phương giới thiệu cách làm món bánh dày nhân trứng kiến: “Loại bánh mà tôi chưa từng thấy ở đâu có. Trứng kiến lấy về làm sạch cho vào chõ hấp chín. Bỏ trứng ra cho vào chảo xào mỡ gà. Mỡ gà cho mùi thơm, ngậy. Còn trứng kiến có màu óng vàng. Khi nặn thành bánh, người ta cho trứng làm nhân. Khi ăn thấy bùi và có cảm giác có nóng đang bò loang ra trên mặt. Thúc hơi cay của mùi loài kiến lên sống mũi” (Thanh minh trong tiết tháng ba). Ngoài ra, Y Phương còn viết về nhiều món ăn mà có lẽ chỉ vùng quê nhà văn mới có, mới độc đáo như thế. Từ món cá trầm hương rán vàng đến món gà trống thiến luộc bằng đinh rồi thịt lợn quay nhồi lá mác mật đều gây ấn tượng với người đọc. Khi nhắc đến văn hóa ẩm thực, ngoài cách chế biến, bày biện không thể không nhắc đến cách thưởng thức các món ăn. Y Phương đã khám phá ra những nét đẹp trong “văn hóa ăn” của người Tày, đưa người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Nó không có kiểu cách, ăn để được lòng người như đất Hà Thành mà với người dân bản xứ, ăn là ăn cái tình “ăn bánh mà như xông hơi mới đã. Bao nhiêu cơn gió độc theo mồ hôi đi ra ngoài. Bao nhiêu nỗi buồn bực cho vào lò lửa thiêu cháy rụi. Chỉ còn tiếng khà! Tiếng rụp! Tiếng rột! Đặc biệt là tiếng cười sảng khoái của thực khách” (Ăn cái tình). Cách ứng xử của người Tày, nhất là trong bữa ăn cũng là nét đẹp văn hoá: “Đừng thấy ghế còn trống là bạn tự tiện ngồi. Phải nhìn trước nhìn sau. Phải biết nhường những người già, trẻ nhỏ và người đang mang bầu. Họ là những người cần được ưu tiên ăn trước” DẤU ẤN VĂN HÓA TÀY QUA TẬP TẢN VĂN THÁNG GIÊNG, THÁNG GIÊNG... 67 (Ăn cái tình). Người Tày Nùng rất coi trọng nghĩa tình, vì thế, họ luôn quan niệm ăn chỉ là phụ, ăn cái tình mới là chính. Có lẽ vì thế mà các món ăn luôn được chuẩn bị một cách tỉ mỉ, chu đáo. Họ làm bằng cả tâm hồn, cả tấm lòng thơm thảo của mình chỉ để mong cho người ăn được vui lòng, ngon miệng. Với đặc trưng của vùng núi cao, người Tày Nùng cũng ăn theo mùa. Mùa nóng có phở chua, phở vịt quay, món ăn này không những mát ruột mà còn mát cả da thịt, mát cả cái nhìn mọi người. Mùa lạnh thì ăn bánh áp chao - một thứ quà đêm không thể thiếu vào những ngày đông lạnh giá: “Đây là một cái thú đặc biệt của nghệ thuật ẩm thực. Người vùng cao không chỉ ăn bánh, mà còn ăn cái nhúng nhính vui trong đáy mắt Ăn bánh áp chao là ăn cái tình của chị em gái. Nó cứ áp dính vào nhau làm một như keo. Thật khó lòng chia lìa. Chẳng thể dùng răng nghiền nát bánh trong khoang miệng. Cái đậm đà ngọt ngào quyện vào nhau, từ từ trôi vào cổ họng. Trôi đến đâu nóng bừng lên tới đó. Người nhìn thấu ruột gan nhau, dường như chỉ có ở quê tôi” (Ăn bánh áp chao mà nhìn thấu ruột). Nói đến văn hóa ẩm thực, ngoài sự ăn còn phải nhắc đến sự uống. Tản văn của Y Phương đã khai thác nét đẹp này, nhờ thế văn hóa ẩm thực của vùng cao càng hiện rõ nét hơn. Trước hết là với rượu. Rượu không như người ta nghĩ theo nghĩa xấu, mà có thể xem là văn hóa giao tiếp. “Vấn đề là nhận thức cho đúng cái ngưỡng của sự vật” (Rượu làng Vân - Hoàng Phủ Ngọc Tường). Với suy nghĩ như thế, rượu trở thành văn hóa, vấn đề là cách uống. Cho nên dễ thấy các dân tộc miền núi phía Bắc - đặc biệt là người Tày, thường uống rượu lúc sinh hoạt cộng đồng, lúc đi chợ Họ thường uống bằng bát: “Thế là toại nguyện. Chỉ đơn giản thế thôi nhưng đắm đuối tình người. Quyến luyến tình duyên lắm lắm” (Đi chợ nhìn người). Uống rượu với người Tày nói riêng và người Tây Bắc nói chung còn là để chia sẻ cái tình, uống cái cảm nhớ thương mến của những người bạn lâu ngày gặp lại. Đó cũng là một tập tục giàu tính nhân văn, nó hướng tới những giá trị muôn thuở. Ngoài rượu, uống trà cũng là một nét đẹp trong văn hóa ẩm thực. Người Việt từ xưa, dù sống dưới chân núi cao, ở đồng bằng hay vùng ven biển, dù là người sang kẻ hèn luôn giữ một tập tục quí: tục uống trà. Trà không thể thiếu vào những ngày giỗ, tết, trên bàn thờ tổ tiên hay giao tiếp hàng ngày Trà là cái bắt đầu, là sự kết thúc. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đấy nhiều công phu, những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Khi khách đến chơi nhà thì chủ nhà dù có bận đến mấy cũng dừng việc, pha trà mời khách. Người bình dân uống kiểu bình dân, quý tộc có tiệc trà kiểu quý tộc. Tất cả đều thể hiện sự trân trọng, lòng hiếu khách. Bên tách trà nóng biết bao điều được đề cập, được thổ lộ. Cho nên cái thú “Ngồi ghế rơm uống trà khỉ nổc” cùng Y Phương vào mùa đông lạnh giá ở Cao Bằng thật thú vị. Y Phương rất tận tình giới thiệu nguồn gốc, công dụng và nhất là cách pha chế của loại trà đặc biệt này: “Khách khứa vừa bước chân vào cửa liền được chủ nhà dắt tay mời vào ghế ngồi. Họ khoanh hai chân, vo lại cho thật tròn. Câu chuyện bắt đầu nóng lên Nước trên kiềng ba lá sôi năm lần bảy lượt. Chủ nhà nghiêng ấm pha trà mời khách” (Ngồi ghế rơm uống trà khỉ nổc). Đúng là trong những ngày nhàn rỗi, không có gì thú vị hơn được cùng một tri kỷ vừa hàn huyên vừa uống trà khỉ nổc trong cái dáng ngồi mà Y Phương miêu tả. TRẦN CÔNG VĂN - HOÀNG ĐỨC KHOA 68 Viết về văn hóa ẩm thực, tản văn của Y Phương toát ra vẻ đẹp của tình người, của cung cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với nhiên thiên vùng cao. Bằng sự trải nghiệm của mình Y Phương đã có cái nhìn thật thấu đáo về nét đẹp văn hóa của người Tày Nùng, góp phần tô đậm thêm vào bảng màu văn hóa Việt Nam. Đúng như thi hào Balzac từng nói: “Món ăn, thức uống xét bề ngoài, chỉ là cái đích của sự thỏa mãn vật dục. Nhưng đi sâu, ta vô cùng ngạc nhiên thấy nó biểu hiện trình độ văn hóa vật chất thì rất ít, nhưng biểu hiện trình độ văn hóa tinh thần của dân tộc thì rất nhiều” [dẫn theo 1, tr. 5-7]. Bên cạnh những tản văn viết về văn hóa ẩm thực, văn hóa tâm linh của người Tày cũng được tác giả khai thác với mong muốn khám phá mạch nguồn của cuộc sống, để gửi tới người đọc những thông điệp quý báu về giá trị lịch sử và nhân văn. Ở mảng đề tài này, đòi hỏi người viết phải có bản lĩnh văn hóa, một sự am hiểu nhất định về đặc tính dân tộc mình. Bản lĩnh ấy phải được hun đúc từ nền tảng văn hóa nhân loại kết hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Trong tâm thức của người Việt Nam, sự biết ơn không chỉ dành cho người đang sống mà ngay cả những người đã khuất. Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, người Việt luôn luôn trân trọng lịch sử của cha ông để lại. Đó là dòng chảy tâm linh - một nguồn suối nuôi sống tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỉ. Dấu ấn văn hóa tâm linh trong tản văn của Y Phương thường nghiêng về các lễ hội, tục thờ cúng của đồng bào dân tộc Tày Nùng. Qua những trang viết ấy, dễ nhận thấy màu sắc huyền thoại lấp lánh trong đó. Với người Tày Nùng, văn hóa tâm linh được thể hiện trước hết qua dịp lễ tết. Cho nên người Tày có rất nhiều lễ tết trong một năm: Tết anh cả, Tết Slíp Sli ăn thịt vịt, Tết cốm, Tết vía trâu... trong đó đáng chú ý nhất là tết vía trâu - cái tết thể hiện lòng biết ơn của con người đối với con vật: “Tháng sáu người ta có tết khoăn woài, nghĩa là tết vía trâu (). Người Tày Nùng chúng tôi vốn coi trọng nghĩa tình. Ăn lộc của ai phải biết ơn người ấy. Ăn lộc từ thiên nhiên người phải biết ơn cây cỏ. Huống chi trâu là bạn nhà nông. Nên bà con dành hẳn cho trâu một cái tết” (Còn có một cái tết vía trâu). Sở dĩ người Tày xem con trâu là bạn của mình vì trong tiềm thức của họ có cả một huyền thoại về con trâu: “Người già kể rằng: Từ cổ xưa, con trâu và những con vật khác, biết nói tiếng người. Nhưng lâu rồi. Không hiểu sao, trâu tự làm mất tiếng. Trâu chỉ biết cười thôi Mỗi lần trâu cười, tôi thấy vui cả rừng cây, con suối. Rừng lao xao hát. Suối rì rào kể. Hình như khi trâu cười, đất đai mộp mạp thở. Cỏ xanh lóc léc tươi. Và lòng người hoàn toàn lâng lâng nhẹ nhõm” (Còn một cái tết vía trâu). Tản văn Y Phương thật giàu nhạc điệu - thứ âm thanh của núi rừng, bản nhạc cất lên từ tình yêu cuộc sống và niềm tự hào tha thiết. Y Phương khẳng định một chất giọng riêng, kết hợp hài hòa cách nghĩ, lối nói của dân tộc Tày với khả năng biểu cảm của tiếng Việt. Cái chất thơ ngọt ngào chắt ra từ tâm hồn nhà văn, để rồi làm nên những trang viết mát lành “như sông như suối”. Văn hóa tâm linh còn là đức tin, là thái độ chân thành đối với người đã khuất, điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt như một lẽ tự nhiên. Tết tảo mộ của người Tày Nùng mang ý nghĩa nhân văn như thế: “Đó là ngày mở cửa mồ. Người dương gặp lại người âm, trong niềm nhớ thương vô hạn. Người âm hiện hồn lên phù hộ độ trì, ban bố DẤU ẤN VĂN HÓA TÀY QUA TẬP TẢN VĂN THÁNG GIÊNG, THÁNG GIÊNG... 69 phúc lộc cho người dương. Hồn người âm khi là một luồng gió quẩn. Khi là một con bướm vàng. Khi là con ong đất. Khi là con kiến nâu. Khi là làn khói trắng cuộn thành hình ống. Tiếng người âm trầm và đục” (Thanh minh trong tiết tháng ba). Viết về văn hóa tâm linh, tản văn Y Phương thường sử dụng những hình ảnh mang tính huyền thoại hoặc được giải thích với sắc màu thần thoại của người dân tộc thiểu số. Đây là nét đặc sắc trong nghệ thuật tản văn của Y Phương. Tản văn Y Phương hết sức bình dị, không mang chiều sâu của triết lý như ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhưng lại rất phù hợp với lối suy nghĩ của người vùng cao. Cái thú vị nhất nơi tản văn Y Phương chính là đã chuyển tải được hồn cốt của người dân quê ông đến với bạn đọc. Tản văn Bà Phò là tác phẩm tiêu biểu. Hình ảnh Bà Phò - một con người sinh ra từ núi rừng Tây Bắc, được miêu tả hết sức gần gũi: bà trở thành “tài sản” chung của người dân nơi đây - đặc biệt là trẻ em của bản làng. Sự chăm sóc, quan tâm của bà đến từng gia đình đã tạo nên một thứ tình cảm thật thiêng liêng. Nhưng hình ảnh đó đôi khi cũng mang màu sắc huyền thoại: “Bà cầm ngon tay vẽ ra trước mặt một con thuyền. Con thuyền ướt đẫm ánh trăng. Con thuyền đưa con người lướt trong màn sương buốt giá. Còn giọng thì đầy âm sắc hú rít, bà Phò như một ma hiện hình” (Bà Phò). Tác giả đã tài tình kết hợp yếu tố tưởng tượng kỳ ảo với màu sắc huyền thoại của tâm linh nên tác phẩm có sức hấp dẫn riêng: “Ngày tôi về, bà Phò đã nằm yên dưới cỏ Và như có phép lạ. Một cơn mưa sương bay qua. Ông già bạc trắng không thấy nữa. Cả ngôi mộ bà Phò xanh rì cũng biến mất. Tạo thành hai vệt trắng quấn quýt bện vào nhau như dây tóc đuôi sam. Dây tóc đuôi sam lủng lẳng bay theo mây ngược mãi lên mạn Bắc” (Bà Phò). Yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo vừa tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm, vừa mở ra chiều sâu tâm linh. Điều đó rất gần gũi với tư duy của người bản xứ, chứ tuyệt nhiên không phải là chuyện mê tín, cuồng gở hay bịa đặt. Điều này cũng giải thích vì sao, các dân tộc thiểu số ở nước ta thường có những bộ sử thi đồ sộ về dân tộc mình mang đầy màu sắc thần thoại nhưng vẫn được yêu thích và phổ biến rộng rãi. Viết về văn hóa tâm linh, tản văn Y Phương không mang đậm chất triết lý như ở tản văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Song Y Phương rất tài tình đã biến cái giản dị, mộc mạc thành những trang viết làm cho người đọc thích thú. Văn phong của Y Phương nhẹ nhàng, ông đưa vào tác phẩm thứ ngôn từ của đời sống còn mang tính nguyên sơ bật ra từ cảm xúc. Nó là thứ ngôn ngữ “là lạ”, “ngồ ngộ” với cách nghĩ và lối diễn đạt hết sức chân thực, thẳng thắn của người vùng cao. Đây chính là cái cốt tử làm nên phong cách của Y Phương. 2. KHÁT VỌNG BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC Với Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm, nét đẹp văn hóa truyền thống, tính cách con người vùng cao và cả những suy tư, trăn trở được bộc lộ rõ hơn hết. Y Phương với vai trò là một hướng dẫn viên tâm huyết, đã giúp người đọc đi về với cội nguồn xa xưa của người Tày. Ở đó có “Hồn làng Khuổi Ky” cổ kính và thanh bình: “Một ngôi làng lặng lẽ im lìm trong bóng tre vầu. Thỉnh thoảng vẳng lên tiếng chó sủa, mèo kêu, gà gáy. Tiếng bà ru cháu nghe chênh vênh như nắng bò dần lên dốc”. Để rồi bây giờ hồn làng trở thành “dĩ vãng” trước sự xâm lăng của nền kinh tế thị trường: “Ra chợ TRẦN CÔNG VĂN - HOÀNG ĐỨC KHOA 70 không còn thấy bóng dáng áo chàm thắt lưng bằng the. Chả thấy trai gái nấp sau mô đá tình tự, hát lượn không còn ai trồng bông dệt vải” (Hồn làng Khuổi Ky). Thật buồn hơn khi nghe tin làng Tày Khuổi Ky sẽ đưa về khôi phục ở Đồng Mô - gần Hà Nội với một lời hứa: “Làng Khuổi Ky thuộc xã Đàm Thủy, sẽ được chọn để phục dựng lại toàn bộ bối cảnh sinh hoạt văn hóa của người Tày Nùng. Sẽ không có bất cứ đồ dùng, vật liệu hiện đại nào xuất hiện trong ngôi làng này” (Hồn làng Khuổi Ky). Thế rồi thực tế diễn ra chua xót thay: “Du khách gật gật mấy cái, cười mấy chiếc. Rồi họ đi. Bỏ lại sau lưng một dây một tràng nước hoa công nghiệp nồng nặc. Chỉ khổ người làng tôi hắt hơi, xổ mũi, nhức đầu” (Hồn làng Khuổi Ky). Với giọng điệu mộc mạc và đậm chất miền núi hồn nhiên như thế, tác phẩm của Y Phương vừa thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu nhàm chán, lan man tý chút nhưng không cà kê vô vị. Nhà văn cứ theo cái giọng khơi khơi mà nói, ai muốn nghe thì nghe, không bắt buộc, nghe rồi hiểu, đừng chất vấn Sức hấp dẫn của tản văn Y Phương chủ yếu là sự chân thật: “Ông luôn nhắc nhở tôi, mình là người Tày. Phải hiểu biết cặn kẽ, thấu đáo và chỉ viết những gì gắn bó máu thịt với người vùng mình. Tuyệt đối không vay mượn. Ở đời có vay có trả. Chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ. Tự làm lấy. Chậm cũng được. Khắc đi khắc đến” (Muôn năm số kiếp con người). Tản văn Y Phương vì thế bình dị, chân chất, hồn nhiên, lặng lẽ, cứ “nhẩn nha” mà bùng nổ, mà đắm say, nhiệt thành như chính cuộc đời ông, con người ông. Đặc biệt, nhà văn rất tinh tế khi sử dụng thủ pháp đối lập (vốn là thủ pháp quen thuộc của tản văn) để tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm của mình. Trong tản văn Đi chợ nhìn người bằng cái nhìn đầy tiếc nuối, Y Phương đã có những trang viết thật nặng lòng về phiên chợ vùng cao xưa và nay. Từ hồi ức “Tôi hay trốn mẹ, trốn bà đi chợ. Phiên nào cũng đi”, tác giả đã khéo léo đưa người đọc từ không gian hiện tại trở về với lớp mù sương của phiên chợ “đắp” đầy cổ kính: “Không tiếng còi, không tiếng động cơ xe máy. Chỉ có tiếng người và tiếng cong rượu chạm nhau lum cum, lủm củm”. Người đi chợ chật như nêm “người lèn người, chặt chẹt đến nỗi lồi cả bốn mắt cá chân. Một rừng người lao xao vừa đi vừa chào” (Đi chợ nhìn người). Trong chợ có nhiều nghề và dường như chỉ có ở vùng cao: nghề vá chảo, hàn nồi, đóng móng ngựa, thiến gà, hoạn lợn Tất cả diễn ra trong một không khí rất thân mật với sự chứng kiến của nhiều người. Thế nhưng hôm nay - một thực tế phũ phàng đang bao trùm không gian của chợ “đắp” xưa: “Tôi trở về Co Xàu, lòng đi thật chậm. Thật chậm. Bước qua hàng hàn nồi, vá chảo. Nhưng không còn dấu vết () Đi thật chậm qua nơi đóng móng ngựa. Những con ngựa ngày xưa giờ đã biến thành cao”. Những câu văn có nhịp điệu chậm đồng hành với những bước chân nặng nề, đang lê về lối cũ của nhân vật người kể chuyện làm lòng người như thắt lại: “Tôi cứ buồn. Cái nhớ bốc ra như hơi nóng. Hơi nóng có mùi tanh cao ngựa. Mùi tanh bay ra từ góc chợ ngày xưa ấy. Sự cô đơn trong tôi bò từ chỏm xương cụt, lên đến huyệt đỉnh đầu” (Đi chợ nhìn người). Là nhà văn của miền sơn cước, mong muốn bảo tồn nét đẹp văn hóa của dân tộc mình nên Y Phương luôn có dụng ý sử dụng câu văn bằng tiếng mẹ đẻ. Điều đó vừa tạo ra tính địa phương, vừa tạo ra không khí nhiệm màu cổ tích cho ngôn ngữ của người Tày. Trong nhiều câu văn, tác giả đã sử dụng thứ ngôn ngữ của người Tày Nùng: “Ai nhìn DẤU ẤN VĂN HÓA TÀY QUA TẬP TẢN VĂN THÁNG GIÊNG, THÁNG GIÊNG... 71 thấy pỉ lùa, pỉ nàng đều nhâng nhâng vui” (Tết anh cả). Đó là “những người khai pác kin gò (bán mồm nuôi cổ) hay khai slư liệng minh (bán chữ nuôi thân)” (Khai pác kin gò) hoặc những câu như: “Lai cần liệng lai cần lẻ lỏoc. Cần tỏoc liệng cần tỏoc lẻ thai. Nhiều người nuôi nhiều người thì sống Một mình nuôi một mình là chết” (Cha mẹ cho ta anh em, Trời cho ta bạn). Nhà văn luôn có ý thức bảo tồn và giới thiệu đến bạn đọc thứ ngôn ngữ của người Tày Nùng, điều này không chỉ làm phong phú thêm cho ngôn ngữ bản xứ mà còn thể hiện niềm tự hào của tác giả khi viết về dân tộc mình. Như vậy, dấu ấn văn hóa Tày trong tản văn Y Phương không chỉ biểu hiện ở ẩm thực, lễ tết, tâm linh, mà còn in đậm trong phương thức thể hiện: từ ngôn ngữ, giọng điệu cho đến hình ảnh đều mang dáng dấp lối tư duy của người vùng cao. Ở đó không có cái giọng hoạt kê, hài hước như tản văn của Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) [2] hay ở Nguyễn Khắc Phê [4], cũng không đậm chất triết lý - suy tưởng như ở Hoàng Phủ Ngọc Tường [7]. Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương nhẹ nhàng mà tinh tế, giản dị mà sâu sắc, chứa chan tình nhân ái, hướng người đọc tới sự thanh cao của cái đẹp, cái thiện, cái rất thực, rất tự nhiên mang hồn cốt của người Tày. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Anh Động (2005). Văn hóa vùng sông nước. Tạp chí Bông Sen (45), tr. 5-7. [2] Thảo Hảo (2009). Nhân trường hợp chị thỏ bông. NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. [3] Bùi Việt Mỹ (2005). Ấn tượng Thăng Long Hà Nội. NXB Lao động. [4] Nguyễn Khắc Phê (2009). Tản văn chọn lọc. NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh. [5] Y Phương (2009). Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm. NXB Phụ Nữ. [6] Trần Ngọc Thêm (1996). Bàn về bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB TP Hồ Chí Minh. [7] Hoàng Phủ Ngọc Tường (1997). Nhàn đàm. NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh. Title: TAY CULTURE THROUGH THE PROSE TITLED JANUARY, JANUARY A CIRCLE OF BUSH - WHACKER OF Y PHUONG Abstract: Written essays about Tay culture are in the majority in the prose titled “January, January a circle of bush - whacker” of Y Phuong. This article focuses on pointing out and affirming specific features about some aspects of eating and drinking culture, spirit culture as well as the desire to conserve noble values of Tay culture in the integrating period and international exchanges. TRẦN CÔNG VĂN Học viên Cao học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế ĐT: 0912.255.438. Email: Tranvan14284@yahoo.com TS. HOÀNG ĐỨC KHOA Nhà xuất bản Đại học Huế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf16_235_trancongvan_hoangduckhoa_12_tran_cong_van_7308_2021019.pdf
Tài liệu liên quan