Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội của nuôi cá rô đồng trong ao, eo ngách vùng bán ngập ở lòng hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai

Để tham gia nuôi cá Rô đồng, trước hết bản thân các hộ nuôi cần có những định hướng riêng để giải quyết vấn đề về vốn của mình, cần có các tổ chức, hiệp hội đứng ra can thiệp nhằm cải tiến quan hệ giao dịch vay vốn giữa ngân hàng và chủ hộ nuôi, để cho các hộ nuôi có thể tiếp cận được nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn tín dụng ưu đãi mà không cần thế chấp tài sản. Tiến hành quy hoạch lại vùng nuôi cá Rô đồng và chỉ có những vùng thuận lợi về nguồn nước, điều kiện tự nhiên thích hợp, hộ nuôi có kinh nghiệm thì mới khuyến cáo nuôi. Trong quá trình nuôi phải gắn chặt với nhu cầu thị trường, để không lâm vào cảnh “cung vượt cầu” gây ra tình trạng thua lỗ. Chính quyền địa phương nên tìm hiểu các thông tin để mở rộng thị trường tiêu thụ cho cá Rô đồng, trong tình trạng trong nước cung vượt mức cầu như hiện nay thì chúng ta nên mở rộng thị trường tiêu thụ, không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước mà nên xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

pdf5 trang | Chia sẻ: linhmy2pp | Ngày: 23/03/2022 | Lượt xem: 146 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội của nuôi cá rô đồng trong ao, eo ngách vùng bán ngập ở lòng hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 135 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NUÔI CÁ RÔ ĐỒNG TRONG AO, EO NGÁCH VÙNG BÁN NGẬP Ở LÒNG HỒ TRỊ AN, TỈNH ĐỒNG NAI TECHNICAL ACTUALITY ACCESS AND ECONOMIC - SOCIETY EFFICIENCY FOR COMMERCIAL ANABAS (ANABAS TESTUDIEUS) AQUACULTURE FARMS IN THE CHANNEL AND POND IN THE SEMI - SUBMERGED REGION TRI AN LAKE, DONG NAI PROVINCE, VIETNAM Phan Thị Hoa1, Phạm Xuân Thủy2, Quách Thị Khánh Ngọc3 Ngày nhận bài: 04/9/2012; Ngày phản biện thông qua: 0 8/11/2012; Ngày duyệt đăng: 10/9/2013 TÓM TẮT Nghiên cứu này nhằm đánh giá về hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế - xã hội, sau đó tìm và xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng nuôi cá Rô đồng trong ao của các hộ nuôi tại vùng bán ngập hồ Trị An. Dựa trên số liệu điều tra của 100 hộ nuôi tại vùng nghiên cứu, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất cá Rô đồng của các hộ dân khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến sản lượng nuôi cá Rô đồng của các hộ ngư dân ở đây, đó là mật độ thả cá giống, mật độ nuôi, số năm kinh nghiệm của chủ hộ nuôi, diện tích ao nuôi, vốn đầu tư ao nuôi, trong đó quan trọng nhất là nhân tố vốn đầu tư. Từ khóa: cá Rô đồng, lòng hồ Trị An, hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế - xã hội ABSTRACT This research investigates situation of technology, the economic - society effi ciency, after that this paper also fi nd and identify the factors affect to outputs of anabas testudieus in the semi - submerged Tri An lake, Dong Nai province. Based on the survey data of 100 fi sh farmers in the study, researchers used multivariate regression models in SPSS software to analyze the factors affecting tilapia yield of anabas testudieus production of the households in the study recgions. Results showed that there are fi ve signifi cantly factors affect to outputs of fi shes, they are fi sh stocking density, density, experience of households, pond area, investable capital in pond, in which the most important factor is that investable capital in pond. Keywords: Anabas testudieus, Tri An lake, technical actuality, economic - society effi ciency 1 Phan Thị Hoa: Cao học Quản trị kinh doanh 2009 - Trường Đại học Nha Trang 2 TS. Phạm Xuân Thủy, 3TS. Quách Thị Khánh Ngọc: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC I. ĐẶT VẤN ĐỀ Hồ Trị An hiện là một trong những hồ chứa có diện tích ngập nước lớn nhất Việt Nam (32.400ha vào tháng 9 - 12) nhưng có độ sâu trung bình khá thấp (11m). Đặc điểm này hình thành nên những vùng bán ngập đặc trưng rộng lớn trên hồ vào mùa nước cạn với diện tích lên đến hàng chục ngàn ha. Vùng bán ngập trên lòng hồ Trị An lại có nhiều ao, eo ngách hình thành nên những vùng sinh thái ao, eo ngách đặc trưng với hàng trăm eo có diện tích trung bình mỗi eo từ vài ha đến hàng trăm ha (Theo báo cáo Đánh giá hiện trạng nuôi trồng thủy sản hồ Trị An, Trạm thủy sản Trị An, 2010) [1]. Các hộ nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An bắt đầu từ năm 2004 và bước đầu đã đạt được một số kết quả nhất định: diện tích, năng suất, sản lượng nuôi tăng nhanh, nghề nuôi cá đã góp phần giải quyết được công ăn việc làm và nâng cao đời sống sống cho nông dân. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá Rô đồng mang lại cho hộ nuôi trong Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 136 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG những năm gần đây đang giảm xuống. Do vậy vấn đề đặt ra là ph ải tìm cách hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất và sản lượng cá nuôi. Tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá Rô đồng trong ao, eo ngách vùng bán ngập ở lòng hồ Trị An, tỉnh Đồng Nai” nhằm điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An. Đồng thời nghiên cứu cung cấp các dẫn liệu giúp người nuôi và các cơ quan chức năng lựa chọn các giải pháp thích hợp giúp nghề nuôi cá Rô đồng phát triển bền vững. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Dữ liệu phân tích Số liệu thứ cấp thu thập từ Sở NN và PTNT Đồng Nai, Chi cục Thủy sản Đồng Nai, Trung tâm Thủy sản Đồng Nai, Trạm Thủy sản Hồ Trị An. Số liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát 100 hộ nuôi cá rô đồng trong ao eo ngách vùng bán ngập hồ Trị An tại xã Phú Ngọc (75 hộ điều tra chiếm 68,81%), La Ngà (22 hộ điều tra chiếm 75,86% tổng số), Mã Đà (có 3 hộ nuôi điều tra 100%). 2. Mô hình nghiên cứu Mô hình hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là năng suất và các biến độc lập là số năm kinh nghiệm (SN_nuoi), kích thước giống thả (KT_giong), mật độ nuôi (MD_nuoi), diện tích ao nuôi (DT_aonuoi), quy mô vốn đầu tư (Qm_von), độ sâu ao nuôi (DS_aonuoi) và thời gian nuôi (Tg_nuoi). Nang_suat = β0 + β1* SN_nuoi + β2* KT_giong + β3* MD_nuoi + β4*DT_aonuoi + β5*Qm_von + β6* DS_aonuoi + β7*Tg_nuoi + є Số năm kinh nghiệm nuôi là một trong những nhân tố quan trọng. Do đó mô hình kỳ vọng nhân tố kinh nghiệm của hộ nu ôi sẽ đồng biến với năng suất nuôi. Nhân tố quy mô vốn là yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất. Đối với nhân tố này mô hình kỳ vọng có phản ứng (+) với năng suất nuôi. Mật độ nuôi quá thấp hoặc quá cao trên một đơn vị diện tích sẽ ảnh hưởng tới năng suất. Do vậy với nhân tố mật độ nuôi mô hình kỳ vọng sẽ có quan hệ đồng biến với năng suất. Nhân tố độ sâu của ao nuôi: Nếu độ sâu quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sống của cá Rô đồng. Do vậy mô hình kỳ vọng nhân tố này có quan hệ đồng biến với biến năng suất. Nhân tố quy mô diện tích nuôi của hộ (m2) ảnh hưởng lớn tới năng suất nuôi, diện tích nuôi quá lớn sẽ làm ảnh hưởng năng suất. Do vậy mô hình kỳ vọng nhân tố này sẽ quan hệ (–) với năng suất. Nhân tố kích thước giống: kích thước con giống thả thích hợp sẽ cho năng suất cao theo đó mô hình kỳ vọng kích thước giống có quan hệ (+) với năng suất. Nhân tố thời gian nuôi, tác giả kỳ vọng rằng với các yếu tố khác không đổi, khi tăng thời gian nuôi/vụ sẽ làm tăng năng suất cá Rô đồng nuôi trên đơn vị diện tích đó. 3. Phương pháp xử lý số liệu Trong nghiên cứu tác giả sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập số liệu và xử lý. Kết quả phân tích sẽ cho những kết quả kinh tế về doanh thu, chi phí, lợi nhuận. Sau đó dữ liệu được chuyển sang phần mềm SPSS 16.0 để xử lý phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến năng suất cá Rô đồng nuôi tại vùng bán ngập hồ Trị An. Dựa vào giá trị P (p-value) (SPSS viết tắt p-value là sig.) để kết luận là chấp nhận hay loại trừ biến ra khỏi mô hình: - P-value (sig.) < a = 0,05 (mức ý nghĩa): biến độc lập sẽ ở lại phương trình hồi quy [3]. - P-value (sig.) > a = 0,05 (mức ý nghĩa): biến độc lập sẽ bị loại trừ khỏi phương trình hồi quy [3]. + Kiểm tra đa cộng tuyến: Thực hiện hồi quy với phần mềm SPSS, giá trị VIF của các biến < 10 thì không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến [3], [4]. + Kiểm định phương sai thay đổi: Thực hiện kiểm định White trong phần mềm Eview, tức là kiểm tra giá trị Pro của F phải lớn hơn giá trị Pro của Chi bình phương và lớn hơn 0,05 [3]. + Kiểm định tự tương quan trong phần dư: Thực hiện kiểm định d của Durbin - Watson trên phần mềm SPSS. Mô hình hồi quy không xảy ra hiện tượng tự tương quan khi 1 < d < 3 [3]. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Hiện trạng kỹ thuật 1.1. Thông số ao nuôi Theo số liệu điều tra trong 100 hộ với tổng diện tích điều tra là 182,74 ha có tới 60 hộ có 1 - 2 ao nuôi, 19 hộ có 3 - 4 ao nuôi và diện tích các ao eo ngách đa số dưới 1ha. Đa số hộ nuôi có độ sâu mực nước ao từ 2 - 3m, trong đó các hộ ở vùng Mã Đà (100%) có mực nước ao từ 2 - 3m. Lý giải điều này, các hộ nuôi ở Mã Đà cho rằng do ao đào đắp trước đó đã lâu để nuôi cá tạp và Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 137 lấy nước tưới vườn, có 3 hộ ở Phú Ngọc - La Ngà có ao sâu > 4m, do địa thế ao dựa vào vách cao để giữ nước. 1.2. Mùa vụ nuôi Có 70 hộ nuôi cá rô đồng thả 2 vụ nuôi trong năm, 42 hộ thả nuôi vào tháng 1 - tháng 6 và tháng 6 - tháng 11, tránh tháng 12 có nhiệt độ lạnh khó chăm sóc cá. Một số hộ khác (28 hộ) chọn mùa vụ thả nghịch để thu hoạch cá với giá cao vào tháng 2 và tháng 8 hàng năm. Có 30 hộ ở vùng Phú Ngọc - La Ngà chỉ nuôi 1 vụ trong năm do đặc điểm trữ nước của ao eo ngách, trong đó có 2 hộ bị ngập nước ao vào tháng 7 và 1 hộ bị thiếu nước ao vào mùa khô. 1.3. Mật độ thả, mật độ nuôi và tỷ lệ sống Tuỳ theo diện tích ao và nguồn vốn, mật độ thả cá bột dao động từ 500 - 1.000 con/m2. Một số hộ nuôi trong quá trình thả giống lần 1 không đạt nên phải thả lần 2, có khi phải thả lần 3. Mật độ nuôi trung bình từ 28 - 54 con/m2 , mật độ nuôi là căn cứ để tính sản lượng cá thu hoạch và tỉ lệ sống của cá, chủ động kiểm soát mật độ cá thả nuôi thông qua bước lọc cỡ cá giống. 1.4. Dịch bệnh Các bệnh phổ biến nhất là đen mình, nấm nhớt, cháy đuôi và xuất huyết, xuất hiện ở 100% hộ nuôi vùng Phú Ngọc - La Ngà với nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng, trong khi vùng Mã Đà chỉ phổ biến bệnh nấm nhớt (75% hộ nuôi), riêng bệnh đen mình ít xảy ra do môi trường nuôi còn tốt. 2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 1 ha ao nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An Để đánh giá hiệu quả của đồng vốn đầu tư đối với từng mô hình nuôi cá Rô đồng thâm canh tác giả đã so sánh giữa chi phí sản xuất và kết quả thu được đối với từng xã nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An qua hai năm 2009 - 2010 và kết quả điều tra được thể hiện trong bảng 1. Bảng 1. Hiệu quả kinh tế 1 ha ao nuôi cá Rô đồng vùng bán ngập hồ Trị An 2009 - 2010 Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Phú Ngọc La Ngà Mã Đà Trung bình Phú Ngọc La Ngà Mã Đà Trung bình 1. Doanh thu/ha 1.193,75 1.338,01 1.205,17 1.226,29 1.066,04 1.297,19 776,63 1.046,62 2. Chi phí sản xuất (TC)/ha 934,58 1.075,86 907,35 961,76 941,86 1.184,81 733,66 953,44 3. Lợi nhuận (Pr)/ha 259,17 262,15 297,82 264, 52 124,19 112,38 42,97 93,18 4. Pr/ TC 0,278 0,244 0,328 0,283 0,132 0,095 0,059 0,095 5. Pr/LĐ 104,843 97,040 177,275 126,386 46,966 38,908 23,900 20,936 (Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả) Năm 2009 doanh thu trung bình của nuôi cá Rô đồng trên 1 ha là 1.226,29 triệu đồng và năm 2010 doanh thu trung bình của nuôi cá Rô đồng trên 1 ha giảm xuống còn 1.046,62 triệu đồng, nguyên nhân là do năng suất nuôi cá Rô đồng giảm từ 40,08 tấn/ ha/năm vào năm 2009 xuống còn 36,32 tấn/ha/năm vào năm 2010. Lợi nhuận từ hoạt động nuôi cá Rô đồng năm 2009 là 264,52 triệu đồng/ha và năm 2010 giảm xuống còn 93,18 triệu đồng/ha. Năm 2009 các hộ nuôi tại xã Mã Đà có kết quả kinh tế cao hơn so với hai xã La Ngà và Phú Ngọc với lợi nhuận là 297,82 triệu đồng/ha nhưng tới năm 2010 giảm xuống chỉ còn 42,97 triệu đồng/ha, nguyên nhân chủ yếu là năm 2010 các hộ nuôi tại xã Mã Đà không gặp thuận lợi về nguồn nước, thất thoát cá trong quá trình gần thu hoạch, nhiều hộ nuôi không nắm bắt các thông tin về giá cá kịp thời nên không bán được với giá cao. Do giá bán giảm vào năm 2010, hơn nữa từ đầu năm 2011, thức ăn cho thủy sản được điều chỉnh tăng 2 - 4 lần/tháng, mỗi lần khoảng 200 đồng/kg [5]. Năm 2009, một lao động nuôi cá Rô đồng xã Phú Ngọc tạo ra 104,843 triệu đồng lợi nhuận, xã La Ngà là 97,040 triệu đồng, xã Mã Đà là 177,275 triệu đồng. Đến năm 2010 mức lợi nhuận giảm, một lao động nuôi cá Rô đồng trong năm tạo ra 46,966 triệu đồng lợi nhuận đối với xã Phú Ngọc, xã La Ngà là 38,908 triệu đồng, xã Mã Đà là 23,900 triệu đồng. 3. Hiệu quả về mặt xã hội Nghề nuôi cá Rô đồng còn kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ngành khác, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động như: lao động ương cá Rô đồng bột và hàng ngàn lao động làm nương rẫy, sản xuất thức ăn cho cá Rô đồng và các hoạt động dịch vụ khác và số lao động tham gia vào nuôi cá Rô đồng. Theo số liệu điều tra tác giả tính được trung bình 4 lao động/1 ha ao nuôi cá Rô Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 138 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG đồng, do vậy trong tổng số 1.068 hộ ngư dân với 3.329 lao động thì có tới 1.399 lao động tham gia nuôi cá Rô đồng [2], có thể thấy nghề nuôi cá Rô đồng đang giải quyết được số lượng lao động lớn cho người dân tại vùng bán ngập hồ Trị An. Theo thống kê của trạm Thủy sản Trị An thì nghề nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An năm 2010 đạt sản lượng là 12.701 tấn đóng góp gần 380.000 triệu đồng vào giá trị sản xuất chung của tỉnh, cứ 1 lao động trong năm tạo ra 266,641 triệu đồng thu nhập và 1 lao động nuôi cá Rô đồng trong năm tạo ra 28,315 triệu đồng lợi nhuận. 4. Mô hình hồi quy 4.1. Kết quả hồi quy Qua số liệu khảo sát có thể thấy đối với nghề nuôi cá Rô đồng diện tích dao động từ 1.200m2 đến 10.700m2, kích thước giống từ 0,2cm đến 0,3cm, thời gian nuôi từ 5 tháng đến 6 thán g, kinh nghiệm nuôi của chủ hộ nuôi từ 2 năm đến 6 năm, quy mô vốn đầu tư trung bình là 1.770,72 triệu đồng/ha, độ sâu ao nuôi trung bình là 291cm và mật độ nuôi trung bình là 38,62 con/m2. Nhìn chung độ lệch chuẩn của các chỉ tiêu như năng suất, độ sâu ao nuôi và mật độ nuôi có độ biến thiên lớn. Có sự phân tán này là do giá trị của các chỉ tiêu này có sự chênh lệch lớn từ giá trị nhỏ nhất và lớn nhất. Phương trình hồi quy của mô hình có dạng như sau: Nang_suat = 0,876 + 0,246* MD_nuoi + 1,992* SN_nuoi + 0,017*Qm_von – 0,001*DT_aonuoi + 0.066*DS_aonuoi Với 7 biến ban đầu sau khi tiến hành hồi quy và loại dần biến không có ý nghĩa thống kê, kết quả còn 5 biến có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Kết quả hồi quy chỉ ra giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập có mối tương quan bội chặt chẽ, vì các hệ số tương quan bội cũng rất gần với 1. Mức ý nghĩa 0.000 (rất nhỏ) của tiêu chuẩn F trong bảng ANOVA khẳng định mô hình thu được là rất tốt. Với R2 điều chỉnh có giá trị là 0,798 có nghĩa là 79,8% sự thay đổi của nang_suat được giải thích bằng MD_nuoi, SN_nuoi, Qm_von, DT_aonuoi, DS_aonuoi. 20,2% còn lại không giải thích được do thiếu một số nhân tố ảnh hưởng khác và tính đại diện của mẫu khảo sát. Kết quả hồi quy cho thấy khi các yếu tố khác không đổi, thì chủ hộ nuôi có thêm 1 năm kinh nghiệm thì năng suất tăng thêm 1,992 tấn/ha/năm; quy mô vốn đầu tư thêm 1 triệu đồng thì năng suất tăng thêm 0,017 tấn/ha/năm. Mật độ nuôi tăng thêm 1 con/m2 thì năng suất tăng 0,246 tấn/ha/năm, tuy nhiên đối với khi nuôi cá Rô đồng thì phải kiểm soát mật độ, không nên để mật độ cá nuôi quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng tới năng suất thu hoạch, qua số liệu khảo sát thì mật độ nuôi nằm trong giới hạn (15 < mật độ nuôi thích hợp < 110 con/m2). Nhân tố diện tích ao nuôi có quan hệ nghịch biến với năng suất, diện tích ao nuôi tăng lên 1m2 thì năng suất cá thu được giảm 0,001 tấn/ha/năm. Độ sâu của ao nuôi cá Rô đồng quá sâu cũng ảnh hưởng tới năng suất thu hoạch của hộ nuôi, nếu độ sâu quá lớn có thể năng suất không tăng, theo các số liệu điều tra dùng trong mô hình hồi quy thì đối với độ sâu mực nước ao nuôi tăng thêm 100cm thì năng suất nuôi cá Rô đồng tăng 0,066 tấn/ha/năm, qua số liệu khảo sát thì độ sâu ao nuôi nằm trong giới hạn (210 < độ sâu thích hợp < 510 cm). 4.2. Kiểm định mô hình Kiểm định tự tương quan trong phần dư với công cụ hỗ trợ là phần mềm SPSS 16.0, tác giả tiến hành kiểm định của Durbin - Watson. Kết quả cho thấy giá trị d của Durbin - Watson bằng 2,335. Do vậy mô hình hồi quy không xảy ra hiện tượng tự tương quan trong phần dư. Kiểm định đa cộng tuyến: kết quả cho thấy tất cả các biến trong mô hình đều có các giá trị VIF từ 1,275 đến 2,268. Điều này cho thấy mô hình không xuất hiện đa cộng tuyến. Kiểm định phương sai thay đổi: để kiểm định phương sai thay đổi, tác giả sử dụng phần mềm Eview để tiến hành kiểm định của White. Kết quả cho thấy: Prob. F = 0.559712 > Prob. Chi-Square = 0.534308 > 0,05. Mô hình không xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi ở độ tin cậy 95%. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Nghề nuôi cá Rô đồng tại vùng bán ngập hồ Trị An là một ngành sản xuất có hiệu quả cả về kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, theo thăm dò ý kiến của các hộ nuôi cho biết đến năm 2010 đã dần mất đi hiệu quả so với các năm trước. Do đó, cần có những giải pháp mới cho ngư dân để nghề nuôi cá Rô đồng được quan tâm và phát triển. Nhưng đáng chú ý ở đây là hầu hết các hộ nuôi cho biết họ nuôi cá Rô đồng chủ yếu là theo những kinh nghiệm của bản thân. Do đó, để phát triển bền vững nghề nuôi cá Rô đồng, ngư dân cần nắm bắt hơn nữa về kỹ thuật, các chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển cần được thực hiện một cách đồng bộ nhằm đảm bảo phát triển nghề nuôi cá Rô đồng với quy mô phù hợp. 2. Kiến nghị Diện tích nuôi hợp lý để đảm bảo hiệu quả nuôi và quản lý, không nên nuôi diện tích quá lớn Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 3/2013 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 139 (>10.000m2) vì quản lý không hiệu quả gây ảnh hưởng tới quá trình chăm sóc và thu hoạch. Chủ động kiểm soát mật độ cá nuôi, chỉ nên nuôi mật độ vừa phải, mật độ nuôi cá quá lớn sẽ ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cá và môi trường nước. Quản lý cấp, thoát nước: nên chú ý việc tăng cường trao đổi nước ra vào tự nhiên giữa ao eo ngách và hồ chứa, kiểm tra chất lượng nguồn nước cấp trước khi cho qua ao nuôi. Quản lý thức ăn: Cho ăn vừa đủ căn cứ theo tính toán mật độ thả và sức ăn của cá, với lượng thức ăn vừa phải cho mỗi lần, không để thức ăn thừa phân huỷ gây ô nhiễm môi trường ao. Để tham gia nuôi cá Rô đồng, trước hết bản thân các hộ nuôi cần có những định hướng riêng để giải quyết vấn đề về vốn của mình, cần có các tổ chức, hiệp hội đứng ra can thiệp nhằm cải tiến quan hệ giao dịch vay vốn giữa ngân hàng và chủ hộ nuôi, để cho các hộ nuôi có thể tiếp cận được nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn tín dụng ưu đãi mà không cần thế chấp tài sản. Tiến hành quy hoạch lại vùng nuôi cá Rô đồng và chỉ có những vùng thuận lợi về nguồn nước, điều kiện tự nhiên thích hợp, hộ nuôi có kinh nghiệm thì mới khuyến cáo nuôi. Trong quá trình nuôi phải gắn chặt với nhu cầu thị trường, để không lâm vào cảnh “cung vượt cầu” gây ra tình trạng thua lỗ. Chính quyền địa phương nên tìm hiểu các thông tin để mở rộng thị trường tiêu thụ cho cá Rô đồng, trong tình trạng trong nước cung vượt mức cầu như hiện nay thì chúng ta nên mở rộng thị trường tiêu thụ, không chỉ dừng lại ở thị trường trong nước mà nên xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Công Đức, 2009. Đánh giá hiện trạng nuôi trồng thủy sản hồ Trị An. Trạm Thủy sản Trị An, Đồng Nai. 2. Nguyễn Công Đức, 2009. Biểu thống kê số hộ nuôi cá Rô đồng huyện Định Quán, Vĩnh Cửu. Trạm Thủy sản Trị An, Đồng Nai. 3. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. NXB Thống kê. 4. Vũ Thiếu, Nguyễn Quang Dong, Nguyễn Khắc Minh, 2001. Kinh tế lượng. NXB Khoa học và Kỹ thuật, chương 5. 5.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdanh_gia_hien_trang_ky_thuat_va_hieu_qua_kinh_te_xa_hoi_cua.pdf