Cảm thức phi lí trong tiểu thuyết của Thuận - Phạm Thị My Ny

Để tạo ngôn ngữ trùng điệp cho tiểu thuyết, nhà văn sử dụng tối đa thủ pháp lặp. Ngòi bút của nhà văn xoáy sâu vào bi kịch “kinh hoàng” của những con người tha hương lữ thứ. Lời kể với giọng vô âm sắc càng khiến tấm thảm kịch của con người càng thêm day dứt và ám ảnh. Ngôn ngữ trùng điệp diễn ra như một motif xuyên suốt tiểu thuyết của Thuận. Motif “mất tích” bao phủ như bi kịch ám ảnh nhân vật. Biểu tượng về “cái chết” được lật đi lật lại trong từng câu chuyện. Cái chết của mẹ trong Thang máy Sài Gòn được phóng đại để nâng lên thành tác phẩm điện ảnh mang tầm Hollywood “đám tang mẹ thành tác phẩm điện ảnh (về sau không ít người so sánh với Hollywood) ( ) Thuộc về mẹ chứ không ai khác, bằng cách chấp nhận cơn đau khủng khiếp để giữ cho khuôn mặt được nguyên vẹn” [7, tr. 7]. Ta thật sự ngỡ ngàng khi tác phẩm điện ảnh của anh Mai lại phô trương về cái chết của mẹ. Phải chăng đây chính là hạnh phúc của một tang gia? Nhờ cái chết ấy mà người con đạt được mục đích và những toan tính. Ngòi bút của Thuận sắc bén đến lạnh lùng. Cho đến hôm nay, cái chết của mẹ mãi mãi là một điều bí ẩn không sao lí giải nổi. Bí ẩn như cuộc đời của mẹ. 5. KẾT LUẬN Có thể nói, cảm thức phi lí trong tiểu thuyết của Thuận được thể hiện đồng nhất từ nội dung đến nghệ thuật, là kết quả của những suy tư trăn trở của nhà văn về một trạng thái tồn tại của bản thể người. Nhà văn đã thể hiện thành công yếu tố phi lí trong cuộc đời và con người, tạo nên một dòng văn học viết về cái phi lí với góc nhìn mới về hiện thực giúp, người đọc có cái nhìn đa chiều cùng sự trải lòng trước thế giới nhiều ngã rẽ.

pdf7 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Lượt xem: 342 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cảm thức phi lí trong tiểu thuyết của Thuận - Phạm Thị My Ny, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 02(34)/2015: tr. 59-65 CẢM THỨC PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN PHẠM THỊ MY NY – THÁI PHAN VÀNG ANH Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế Tóm tắt: Là nhà văn được xếp vào nhóm theo khuynh hướng hậu hiện đại, với sáu tiểu thuyết xuất hiện liên tục, gần đây nhất là Thang máy Sài Gòn, Thuận đã được trao tặng Giải Sáng tạo của Trung tâm Sách quốc gia Pháp. Trong tiểu thuyết của Thuận, ta chứng kiến một lớp người trẻ hiện đại đi tìm cội nguồn và ý nghĩa tồn tại ngay trong thế giới họ đang sống. Nhà văn để nhân vật trôi đi trong một thực tại hư ảo của kiếp người với ám ảnh “tồn tại hay không tồn tại - đó mới là vấn đề”. Tiểu thuyết của Thuận phảng phất cảm thức hậu hiện đại, cảm thức phi lí trong ngòi bút và đôi khi nhìn thế giới với cái nhìn vô nghĩa. Từ khóa: cảm thức phi lí, hiện thực phi lí, yếu tố phi lí 1. MỞ ĐẦU “Thế giới được dựa trên những điều phi lí, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lí đó” (Anh em nhà Karamazov). Đó là lời cảnh báo tiên tri của Dostoevski về vấn đề thân phận con người trong một xã hội hỗn độn. Sự hiện hữu cái phi lí trong tiểu thuyết của Thuận khiến cuộc sống nghịch lí đến nực cười. Cảm thức phi lí bàng bạc trong Chinatown, Paris 11 tháng 8, T mất tích, Vân Vy, Thang máy Sài Gòn mang đến cho thế giới nghệ thuật của nhà văn một sức hấp dẫn, lôi cuốn đặc biệt. 2. HIỆN THỰC PHI LÍ - MỘT PHẢN ỨNG CỦA THỜI ĐẠI LỊCH SỬ 2.1. Sự phi lí của thế giới Thế giới phi lí trong tiểu thuyết của Thuận nổi bật lên với cuộc khủng hoảng về niềm tin, về thân phận con người, về nỗi cô đơn của những con người tha hương, chịu sự va chạm mạnh mẽ của các vền văn hóa, trong đó nổi bật lên là văn hóa Việt - Pháp. Con người khó bám rễ vào mảnh đất mới khi rời xa quê hương, tổ quốc. Họ không thể giao tiếp, không thể hòa nhập vào cuộc sống chung và trở nên phi lí. Mở đầu Chinatown ta bắt gặp giả thuyết đầy tính hoài nghi:“Tàu đến một ga nhỏ thì dừng lại. Mười lăm phút rồi vẫn không nhúc nhích () Người ta nghi âm mưu đánh bom một cái ga hiu hắt thế này chứa một âm mưu khác nguy hiểm hơn nhiều” [3, tr. 5]. Điều bất thường được suy đoán trong sự bình thường. Con người cảm thấy xa lạ trong thế giới đó. Cũng giống như câu chuyện của Thang máy Sài Gòn được bắt đầu bởi một sự kiện hết sức phi lí “Đêm mưa trái mùa năm 2004, mẹ em qua đời, vì một tai nạn phi lí, có lẽ chưa kịp có tên trong tiếng Việt” [7, tr. 9]. Cái chết của mẹ như một lẽ thường tình ám ảnh những người ở lại và bắt đầu những cuộc rượt đuổi “kinh hoàng” của cô con gái. Cô gái tin rằng chính mẹ cô chọn cái chết và diễn vai diễn cả đời mình - vai diễn người chết sau khi đã chết. Cái phi lí trong Thang máy Sài Gòn được nhận thức một cách khách quan, không chỉ đơn thuần là một hiện tượng tồn tại ngoài xã hội mà nó còn liên quan và thậm chí 60 PHẠM THỊ MY NY – THÁI PHAN VÀNG ANH chi phối đời sống của nhân vật. Kết cục buộc ta phải chấp nhận những cái gì ta biết, như cô gái chấp nhận cái chết bất thường của mẹ trong thang máy, mà “cô không thể không nghĩ rằng chính mẹ đã chọn cho mình cái chết”. Sự phi lí bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, từ sự dửng dưng vô cảm đến lạnh lùng của con người. Thế giới trong tiểu thuyết của Thuận không phải huyền ảo, bí ẩn mà là thế giới thực tại với những cạm bẫy làm tha hóa con người. Đó là thế giới bị chế ngự bởi quyền lực, mọi thứ được cân đo, đong đếm và con người bị ràng buộc, chi phối bởi đồng tiền. Trong T mất tích, Thuận chỉ ra giá trị của con người dựa trên giấy đóng thuế, phiếu trả lương cho người lớn, tiền căng tin cho trẻ con Sự lặp lại nhàm chán, tù đọng đã mài mòn cảm xúc, biến con người trở thành những thực thể dửng dưng, lạnh lùng khép kín “ảnh chân dung được sử dụng để nhận diện một con người, còn phiếu trả lương lại được sử dụng để nhận định giá trị của người ấy () Phiếu trả lương thành vật bất li thân, một kiểu chứng minh thư đương đại” [5, tr. 24]. Trong thế giới ấy “theo thống kê mỗi năm có hàng nghìn người ra đi không để lại dấu vết, có người vì chán cuộc sống hằng ngày, có người muốn trốn nợ () Hai mươi năm sau, qua một chương trình cầu truyền hình, nhà báo hỏi tại sao. “Ra đi là ra đi, có thế thôi”, ông ta thản nhiên trả lời” [5, tr. 204]. Câu trả lời không nhận được sự tán thành của những người xung quanh, họ cho rằng như thế “đúng là một thằng điên”. Trước một hiện thực phi lí nằm ngoài trí tưởng tượng về một xã hội văn minh, mỗi ý nghĩ như một thứ độc tố làm biến dạng và phá hủy tất cả. Con người lại trượt dài trên con đường tha hóa âm thầm và đáng sợ. 2.2. Nhận thức lịch sử và các vấn đề xã hội Nhận thức luôn là một yêu cầu và thách thức đối với bản thân con người và càng khó khăn hơn khi đối tượng là những vấn đề lịch sử. Các nhà văn đương đại đã đi tiên phong trong việc tái tạo, phơi bày những tiêu cực của xã hội, nhận thức lại các giá trị lịch sử, đặc biệt là nhìn nhận lại những vấn đề trước và sau chiến tranh. Ý thức giải phóng văn học được đặt nền móng bởi sự nhận thức lại, lật lại những cách nghĩ truyền thống bảo thủ phi lí. Lịch sử khách quan là phương tiện để nhà văn thể hiện những day dứt về số phận con người, ảnh hưởng lâu dài mà con người phải gánh chịu. Những vấn đề xã hội như cách nghĩ truyền thống, lối sống vô cảm đã tạo nên bi kịch của con người và thời đại. Với Thang máy Sài Gòn, nhận thức về lịch sử, vấn đề xã hội thời hậu chiến thật kinh hoàng. Những năm 1970 -1980, vết thương sau khi đất nước thống nhất như “cải cách”, “vượt biên”, “bao cấp”, “học hành” cứ âm ỉ cháy trong mỗi con người. Theo lời kể của “em” những cải cách sau chiến tranh cứ ám ảnh gia đình “Bà nội em thời Pháp thuộc có một quầy bán tơ lụa ở phố Hàng Đào. Nếu ngày trước, nhờ cái quầy ấy mà bà nuôi được một đại gia đình gồm bố mẹ chồng, chồng và năm đứa con, thì sau này, cũng vì cái quầy ấy mà bà và đại gia đình bị xếp vào thành phần “trí thức tiểu tư sản”, thành phần “cặn bã” theo đánh giá của chế độ mới” [7, tr. 159]. Để được cấp trên tin tưởng, để sống yên ổn và làm việc gia đình bà phải hiến căn nhà cho chính phủ mới, đau lòng hơn bố đã “viết đơn tuyên bố “từ” người anh cả”. Trong gia đình, mọi người nghi ngờ lẫn nhau. Đó là câu hỏi day dứt suốt hai mươi năm bố không tìm được lời giải và không CẢM THỨC PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN 61 nhận được lời giải thích nào từ mẹ “Cô đã làm gì ở Hỏa Lò trong ba ngày đó?”. Lịch sử ở đây không liền mạch, được nhìn không theo một cái nhìn duy nhất và thống nhất. Lịch sử trở thành vòng quay trong sự hỗn độn của những mảnh vỡ liên hồi. Những mảnh vỡ mang trong nó những chân lí ngẫu nhiên về cuộc đời. Nhà văn dường như không hề nói gì, người kể dường như không kể gì. Và câu chuyện theo những ẩn ức, dồn nén cứ thế “bung” ra Hiện thực phi lí trong tiểu thuyết của Thuận được phản ánh qua các vấn đề xã hội nhức nhối. Dưới ngòi bút của Thuận, xã hội Việt Nam đương đại hiện lên một cách hài hước, đầy toan tính “bây giờ bố mẹ chúng nó nhận mấy nải chuối với mấy con vịt phế phẩm chứ thời đại chúng nó, chúng nó kiên quyết không động đến hiện vật, chúng nó chỉ lấy phong bì” [3, tr. 215]. Không chỉ ở Việt Nam mà tình trạng thất nghiệp lan tràn hầu khắp các quốc gia trên thế giới “hai tháng hè trôi qua, tôi lại tự bảo giáo viên cấp hai còn hơn gia nhập đội ngũ năm triệu người thất nghiệp” [3, tr. 92]. Với các ngành nghề khác như nhà văn, nhà báo, họa sĩ đều được nhìn bằng “đôi mắt” vật chất hóa. Các vấn đề xã hội như một cuốn phim quay chậm, độc giả dường như đau đáu trước thực trạng xã hội bát nháo, tình trạng bảo thủ, lạc hậu trong cách nghĩ, cách làm của con người đến mức phi lí. Tiểu thuyết Thuận đề cập đến nhiều vấn đề nhạy cảm trong thế giới hiện đại. Ở đó, ta nhận ra dòng người nhập cư từ Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Việt Nam sang Pháp đang ẩn mình ở những ngõ nhỏ tối tăm của Paris. Trong xã hội ấy đang nảy sinh những vấn đề mang tính thời sự. Người già cô đơn trong các viện dưỡng lão nằm chờ chết mỗi ngày; là tình trạng thất nghiệp, kì thị chủng tộc; là lối sống hưởng thụ đến thác loạn của một bộ phận giới trẻ dẫn đến sự lan truyền của căn bệnh thế kỉ; là sự kì thị của xã hội với những người “đồng tính” Các vấn đề xã hội cứ “ngồn ngộn” hiện lên khiến người đọc cảm thấy day dứt, bối rối trước các mảnh đời tang thương, xám xịt. Những vấn đề nóng bỏng nhất của xã hội Việt Nam đương đại được cập nhật liên tục. Trong bài báo cáo “Phụ nữ Việt Nam: hôn nhân và gia đình” (Paris 11 tháng 8) Mai Lan dịch các dẫn chứng đưa ra nhằm thuyết phục người nghe lại hết sức phi lí. Dẫn nguồn tư liệu tại xã M, tỉnh Thái Bình cho thấy phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ và phong trào sinh đẻ có kế hoạch chỉ nằm trên lí thuyết. Thực tế, phụ nữ chưa được tuyên truyền đúng chủ trương phát triển dân số. Đặc biệt hơn, khi nói về phụ nữ thành phố và quan niệm li hôn, li thân, Thuận chỉ ra những ung nhọt của ngành y tế. Trường hợp của vợ chồng cán bộ của một viện khoa học được giải thích thật phi lí “ngay từ năm đầu, cả hai đã đi gặp bác sĩ phụ khoa hai lần nhưng kết quả rất mập mờ. Lần thì tinh trùng của chồng bị loãng. Lần thì trứng của vợ bị ung () kết quả vẫn hoàn toàn mù tịt” [4, tr. 185]. Phải nói rằng, họ li hôn và li thân vì những lí do hết sức nhảm nhí: mê tín dị đoan. Mặt khác, một thực trạng đang được dư luận quan tâm của phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long là vấn nạn kết hôn với người ngoại quốc. Họ dường như chỉ hi vọng được lấy chồng ngoại để đổi đời nhanh chóng dù cho bao tấm gương “bất hạnh” phơi bày trước mắt. Chính những người viết báo cáo cũng nhận ra nhưng không thể lí giải nổi tại sao. Việc giải quyết các vấn đề đó theo họ “đáng tiếc, không nằm trong khả năng của chúng tôi” [4, tr. 189]. Người 62 PHẠM THỊ MY NY – THÁI PHAN VÀNG ANH đọc phải đặt ra câu hỏi nhức nhối: vậy vấn đề đó nằm trong khả năng của ai nếu không phải là của các chuyên gia đầu ngành với những bản tham luận quốc tế? 3. PHI LÍ TỪ NGHỆ THUẬT TẨY TRẮNG NHÂN VẬT Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của văn học phi lí phương Tây, Thuận đã khai thác một đề tài khó xử lí đó là sự phi lí, vô nghĩa lí trong cuộc sống của con người. Thông qua các thủ pháp nghệ thuật, cái phi lí hiện hữu trong đời sống và trong hiện thực dần được “khai mở”. Thủ pháp tẩy trắng nhân vật tỏ ra “tối ưu” khi tác giả xây dựng các nhân vật để bày tỏ những trăn trở, suy tư về lẽ hiện sinh, về sự phi lí của kiếp người. Nhân vật trong tiểu thuyết Thuận được tái hiện khá giản đơn, họ hiện lên như một khối hỗn tạp, xen lẫn thực ảo, xuất hiện một cách đột ngột, cứ như bị ném ra giữa cuộc đời. Nhân vật được khắc họa như một kí hiệu, hoặc theo hình dáng, hoặc theo số đếmkhông tên, không tuổi, “vô tăm tích”. Có lẽ vì “guồng” quay của xã hội hiện đại, ta không đủ thời gian để nhớ một cái tên của ai đó, bởi nhân vật chỉ còn là những kí hiệu. Xuất hiện với tần suất lớn trong tiểu thuyết, những kí hiệu T, B, N, M, V đã nói lên sự nhạt nhòa, vô nghĩa và trống rỗng; ở đó tiềm tàng nỗi cô đơn, lạc loài cùng tâm trạng đầy hoài nghi. Thủ pháp tẩy trắng đã hư vô hóa con người hoàn toàn. Vì vậy, cái phi lí được đẩy lên cực đỉnh. Bằng sự trải nghiệm của bản thân, nhà văn để cho con người đối thoại với hiện thực phi lí. Đặt ra vấn đề đối thoại phi lí như một sự cảnh tỉnh về thực trạng xô bồ bát nháo, nhà văn cảm thấy bất lực trước sự xuống dốc của xã hội, của tính cách, của tâm hồn con người. Người ta phát tin và nhận tin dường như đang hướng về các ngã đường tư duy khác nhau tạo nên sự trật khớp trong đối thoại. Những đoạn đối thoại vô nghĩa, những câu, đoạn văn dài lê thê hay những câu đơn ngắn đã tạo nên sự lệch pha trong giao tiếp. Trong tiểu thuyết Thuận, hiện tượng này xảy ra khi các nhân vật ngồi lại với nhau, ai cũng tranh thủ nói để đối phương biết nhưng rốt cuộc chẳng ai biết người đối diện đang nói gì. Chẳng hạn, đối thoại một chiều giữa Mai Lan và Vinh trong Paris 11 tháng 8:“Vinh bảo:/Anh không biết là sẽ gặp em ở đây./Bài báo nói là em bị chồng bỏ./Nuôi con một mình ()./Hôm nay đi ăn nhà hàng gì./ Đại ca nào đãi./Xe đón lúc mấy giờ” [4, tr. 148]. Đối thoại giúp cho nhân vật trao đổi và cùng tác giả phát triển vấn đề, khiến cho không gian nghệ thuật xôn xao âm thanh giao tiếp của cuộc sống. Cắt đi đối thoại là ngầm báo cho người đọc đối tượng vắng mặt vào lúc anh ta đang kể hoặc có thể hiểu anh ta đang trò chuyện trong tưởng tượng. Trong những lần gọi điện thoại để tìm hiểu tung tích của Paul Polotski, “cô” đã nói chuyện với rất nhiều người, nhiều kiểu đối thoại “ngắn”, “dài” khác nhau nhưng cú điện thoại sau khiến cô có cảm giác kì lạ. Đối thoại được biên tập lại thông qua lời kể của nhân vật dẫn truyện: “ - Xin lỗi, có phải đây là nhà ông Paul Polotski? () Cô gọi có việc gì? - Tôi chỉ muốn xem ông Paul Polotski có sống ở đây không. - Nói thật cho tôi biết có đúng là mafia Hoa kiều đang truy lùng cái văn tự thổ trạch ấy?” [7, tr. 89]. CẢM THỨC PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN 63 Tính đối thoại trong tiểu thuyết được thể hiện trên nhiều cấp độ: đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại trong độc thoại, đối thoại giữa các chiều văn hóa, sự đa nghĩa trong các diễn ngôn nghệ thuật. Ở cấp độ nhân vật, mỗi nhân vật là một tiếng nói, một chủ thể độc lập, bình đẳng với tác giả. Đối thoại ngắn gọn gắn với tính cách của nhân vật. Đối thoại ít mang tính xung đột, mâu thuẫn. Những câu chuyện đối thoại của hai mẹ con Mai Lan trong Paris 11 tháng 8 làm người đọc liên tưởng tới cuộc đối thoại của những người dưng, họ xa lạ và nói chuyện “bốp chát” với nhau. Đúng như nhận xét của Bakhtin “tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang chuyển biến và còn chưa định hình”. Vì vậy, nhà văn khi bước vào tiểu thuyết khác nào làm một cuộc thám hiểm đầy rẫy bất ngờ, thú vị và nguy hiểm. Và Thuận đã thể hiện đúng bản chất của phi lí qua những đối thoại từ đó góp tiếng nói của mình vào vườn hoa đầy hương sắc của nền văn học nước nhà. 4. NGÔN NGỮ TRÙNG ĐIỆP - SỰ MIÊN MAN CỦA NHỮNG DÒNG CHẢY HOÀI NIỆM MANG CẢM THỨC PHI LÍ Ngôn ngữ trùng điệp trong tiểu thuyết của Thuận vang lên bởi quá trình lặp đi lặp lại của ngôn từ. Thuận sử dụng thủ pháp lặp tạo nên ám ảnh của kí ức, những đổ vỡ bên trong tâm hồn con người. Đó là sự phi lí. Ngôn ngữ trùng điệp lột tả bằng một sự “nhấn nhá” báo hiệu sự hiện tồn và ám ảnh tha phương. Tiểu thuyết Chinatown với phong cách độc đáo gần giống thơ. Thuận để cho ngôn ngữ thay đổi linh hoạt tạo nên những điệp khúc “hằn” sâu vào tâm trí nhân vật. Đó là ám ảnh của nhân vật “tôi” về Thụy “Tôi chỉ muốn biết Thụy ở đâu, gặp ai, làm gì. Những ngày ấy. Ngôi nhà hai tầng, bảng hiệu tiếng Hoa, hai cái đèn lồng” [3, tr. 37]; “Thụy là một điều bí ẩn. Tôi đã yêu Thụy như yêu một điều bí ẩn, điều bí ẩn chứa những điều bí ẩn. Yên Khê mãi là điều bí ẩn đầu tiên. Yên Khê” [3, tr. 113]; “Yên Khê. Tôi chưa từng thấy tên nào lạ lùng đến thế. Thụy dẫn tôi về lại Yên Khê. Yên Khê. Yên Khê () Tôi cho Yên Khê là số phận. Mọi số phận đều bí ẩn” [3, tr. 113]. Những dấu chấm tạo ra sự ngắt quãng làm cho câu trở nên “im lặng”, mang giá trị biểu cảm rất lớn. Hình ảnh của Thụy, Yên Khê cứ trở đi trở lại trong suốt hoài niệm của “tôi” tạo ra cảm giác tất cả mọi thứ rất phi lí, nhuốm màu của hoài nghi, của thất vọng. Sử dụng ngôn ngữ trùng điệp, Thuận để cho âm hưởng những ca khúc trong sáng tác của Trịnh Công Sơn vang lên lặp đi lặp lại đều đều như sự hoài niệm, tiếc nuối và suy cảm. Ngôn từ trong ca khúc của Trịnh Công Sơn sâu lắng - điều duy nhất chứng minh con người có mặt trên đời này không đến nỗi vô lí. Nhân vật “tôi” trong I’m yellow mười năm chỉ nghe thằng Diễm Xưa ở Huế hát độc nhất một bài Diễm xưa “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”; hay trong Thang máy Sài Gòn, bài hát “Còn tuổi nào cho em” mà Quang Dũng hát lại lặp đi lặp lại trên môi người tài xế “tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay, tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời, tay măng trôi trên vùng tóc dài” [7, tr. 215]. Camus từng nói: trong cái phi lí này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vấn triết lí, tức là nuôi dưỡng niềm hi vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối phi lí này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại 64 PHẠM THỊ MY NY – THÁI PHAN VÀNG ANH vậy. Phải chăng sự hoài niệm trong ca từ của Trịnh Công Sơn là một cách phủ nhận tình trạng phi lí, khi không chấm dứt được phi lí hay đó là sự nổi loạn hiện sinh? Quả thật qua ngôn từ của những bài hát ta nhận thấy rằng con người dường như phải đối diện với cái chết và ý niệm hư vô trước khi có thể sống một đời sống đích thực. Thuận đã tinh tế khi để cho nhân vật cất lên ca từ trong sáng tác của Trịnh Công Sơn như để xoa dịu bớt những tâm hồn dao động, những tâm hồn đang chơi vơi trên hành trình mù mịt, xa khơi. Để tạo ngôn ngữ trùng điệp cho tiểu thuyết, nhà văn sử dụng tối đa thủ pháp lặp. Ngòi bút của nhà văn xoáy sâu vào bi kịch “kinh hoàng” của những con người tha hương lữ thứ. Lời kể với giọng vô âm sắc càng khiến tấm thảm kịch của con người càng thêm day dứt và ám ảnh. Ngôn ngữ trùng điệp diễn ra như một motif xuyên suốt tiểu thuyết của Thuận. Motif “mất tích” bao phủ như bi kịch ám ảnh nhân vật. Biểu tượng về “cái chết” được lật đi lật lại trong từng câu chuyện. Cái chết của mẹ trong Thang máy Sài Gòn được phóng đại để nâng lên thành tác phẩm điện ảnh mang tầm Hollywood “đám tang mẹ thành tác phẩm điện ảnh (về sau không ít người so sánh với Hollywood) () Thuộc về mẹ chứ không ai khác, bằng cách chấp nhận cơn đau khủng khiếp để giữ cho khuôn mặt được nguyên vẹn” [7, tr. 7]. Ta thật sự ngỡ ngàng khi tác phẩm điện ảnh của anh Mai lại phô trương về cái chết của mẹ. Phải chăng đây chính là hạnh phúc của một tang gia? Nhờ cái chết ấy mà người con đạt được mục đích và những toan tính. Ngòi bút của Thuận sắc bén đến lạnh lùng. Cho đến hôm nay, cái chết của mẹ mãi mãi là một điều bí ẩn không sao lí giải nổi. Bí ẩn như cuộc đời của mẹ. 5. KẾT LUẬN Có thể nói, cảm thức phi lí trong tiểu thuyết của Thuận được thể hiện đồng nhất từ nội dung đến nghệ thuật, là kết quả của những suy tư trăn trở của nhà văn về một trạng thái tồn tại của bản thể người. Nhà văn đã thể hiện thành công yếu tố phi lí trong cuộc đời và con người, tạo nên một dòng văn học viết về cái phi lí với góc nhìn mới về hiện thực giúp, người đọc có cái nhìn đa chiều cùng sự trải lòng trước thế giới nhiều ngã rẽ. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Văn Dân (2002). Văn học phi lí, NXB Văn hóa thông tin. [2] Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2013). “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận”, Tạp chí Văn học, (9). [3] Thuận (2014). Chinatown, NXB Văn học, (tái bản). [4] Thuận (2005). Paris 11 tháng 8, NXB Đà Nẵng. [5] Thuận (2006). T mất tích, NXB Hội nhà văn. [6] Thuận (2008). Vân Vy, NXB Hội nhà văn. [7] Thuận (2013). Thang máy Sài Gòn, NXB Hội nhà văn. [8] Nguyễn Thành, Hồ Thế Hà, Nguyễn Hồng Dũng (cb) (2013). Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận, NXB Văn học. CẢM THỨC PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THUẬN 65 Title: SENSE OF IRRATIONALITY IN THUAN’S NOVELS Abstract: As a writer of the postmodern tendency, with six continuously - published novels, the latest of which is Elevator in Saigon, Thuan was awarded the Innovation of the French National Book Centre. In Thuan’s novels, we see modern young people finding the origin and meaning of existence within the world they live in. The writer lets the characters get lost in an illusory reality of the human life with the obsession “To be, or not to be - that is the question”. Thuan’s novels have subtle sense of postmodern and sense of irrationality in her words and sometimes see the world with a nonsense look. Keywords: sense of irrationality, absurd reality, irrational factors. PHẠM THỊ MY NY Học viên Cao học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế Email: phamthimyny@gmail.com TS. THÁI PHAN VÀNG ANH Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf27_439_phamthimyny_thaiphanvanganh_10_my_ny_vang_anh_0427_2020367.pdf
Tài liệu liên quan