Kinh tế học - Chủ đề 1: Kinh tế vĩ mô

Gốc rễ của lạm phát ở nước ta chính là chính sách tài khóa ngoài nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của lạm phát trên thế giới, giá dầu thế giới tăng. Để giải quyết bài toán lạm phát một cách cơ bản cần có chính sách tài khóa lành mạnh hơn, cân đối hơn. Chính sách tài khóa tốt dựa trên nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả sẽ làm nhẹ đi áp lực lạm phát đang đè nặng lên nền kinh tế. Muốn làm được điều này cần phải giảm mạnh đầu tư công để đầu tư tư nhân trong, ngoài nước tăng nhanh, hiệu quả đầu tư cũng tăng lên. Đây là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh mà không gây ra lạm phát. Ngoài ra, cần phân công lại vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu chính sách tài khóa hướng vào mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng thì chính sách tiền tệ sẽ hướng vào mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế và ổn định tiền tệ. Thuế thu nhập là công cụ có tính tự ổn định cao. Cải cách thuế cần tập trung mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất để kích thích kinh tế. Các chương trình an sinh xã hội, ổn định thu nhập cho người nghèo, cho người lao động chủ yếu dựa vào tiền công, tiền lương cần được cải cách một cách triệt để trên cơ sở phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với sự vận hành thuế thu nhập cá nhân.

docx19 trang | Chia sẻ: nhung.12 | Ngày: 13/03/2018 | Lượt xem: 529 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kinh tế học - Chủ đề 1: Kinh tế vĩ mô, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHỦ ĐỀ 1: KINH TẾ VĨ MÔ Từ cuối năm 2007 bước sang đầu năm 2008, tình hình kinh tế nước ta biểu hiện hai trạng thái mâu thuẫn nhau. Trạng thái phấn khởi trước những thành tựu về KT – XH của đất nước sau một năm gia nhập WTO, vị thế kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên. Mặt khác đang có trạng thái lo lắng về những dấu hiệu bất ổn của tình hình kinh tế vĩ mô, mà nổi bật nhất và cũng là biểu hiện rõ nhất là hiện tượng lạm phát chưa kiểm soát được; Là bong bóng của thị trường bất động sản căng phồng và đang như “con ngựa bất kham” trước Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ... Để góp phần lý giải hai trạng thái mâu thuẫn trên, xin có một số ý kiến đánh giá tình hình kinh tế, nhìn từ 4 mục tiêu của kinh tế vĩ mô, mà về lý thuyết cũng như thực tế, mọi Chính phủ đều tập trung vào các công cụ chính sách để đạt cho kỳ được là: Tăng cường GDP với tốc độ cao và liên tục; Tăng số việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp; Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát; Tăng xuất khẩu ròng. Trong 2 năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được chỉ tiêu đề ra, với tốc độ tăng GDP bình quân khoảng 8,5%. Tuy nhiên, đằng sau kết quả này vẫn còn nhiều điều phải xem xét. Đó là sự tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào chiều rộng. Kinh tế tăng trưởng, nhưng tính chất của nền kinh tế gia công và khai khoáng hoàn toàn chưa thay đổi. Chưa có dấu hiệu của một ngành nào, sản phẩm nào chuyển từ gia công sang thiết kế, sản xuất linh kiện sau 20 năm mở cửa và bảo hộ (thông thường ở các nước công nghiệp mới, chỉ trong khoảng 5 – 10 năm đã có sự chuyển đổi). Sự kéo dài chính sách bảo hộ và độc quyền đối với một số ngành và lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng tới năng lực sáng tạo và cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Đây là nguyên nhân sâu xa và cốt lõi giải thích tại sao khi biến động giá nguyên liệu và nhiên liệu của thị trường thế giới, nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với các nước khác, trong khi lượng tiêu thụ nguyên, nhiên liệu của thị trường nước ta ít hơn nhiều. Về quan điểm phát triển, chúng ta luôn luôn xác định, mục tiêu tăng trưởng phải chú trọng cả số lượng và chất lượng. Nhưng trên thực tế chưa có những chính sách thực sự có tác dụng đến chất lượng tăng trưởng. Trong các năm qua, với tốc độ tăng đầu tư phát triển nhiều doanh nghiệp mới đã tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội. Đặc biệt trong năm 2007 đã đạt được chỉ tiêu giải quyết hơn 1,6 triệu việc làm. Tuy nhiên, tình trạng “bán thất nghiệp” ở đô thị và nông thôn đang còn rất phổ biến. Tạo việc làm mới chủ yếu diễn ra ở khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước chiếm lượng vốn đầu tư rất lớn. Chưa có chính sách rõ nét về mối quan hệ giữa đầu tư và giải quyết việc làm cho từng lĩnh vực, từng địa bàn kinh tế. Thị trường lao động đang phát triển tự phát và không cân đối về cung – cầu. Tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp đang tồn tại song song với tình trạng thiếu lao động có kỹ năng trong hầu hết các ngành kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động không chuyển dịch tương ứng với cơ cấu giá trị, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Sự phát triển thị trường lao động không gắn liền với chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nên dẫn đến tình trạng vừa thừa và thiếu trong quan hệ cung – cầu. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nghịch lý: Thừa vốn, thiếu lao động (lao động có kỹ năng, được đào tạo), mà đúng ra phải là ngược lại. Có lẽ trong vòng 10 năm qua, năm 2008 là năm đầu tiên nền kinh tế Việt Nam đứng trước sự lựa chọn rất nghiệt ngã là ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay kiểm soát lạm phát, khi hai mục tiêu này trở thành hai vấn đề mâu thuẫn nhau? Nếu năm 2008, nền kinh tế tiếp tục lạm phát 2 con số, thì những gì đã đạt được trong các năm qua sẽ bị xói mòn và các vấn đề xã hội sẽ gay gắt hơn. Diễn biến tình hình thị trường trong những tháng đầu năm 2008 cho thấy, lạm phát đang trở thành vấn đề kinh tế vĩ mô hàng đầu hiện nay. Điều đáng lo lắng nhất là dường như thị trường đang không còn đi theo ý muốn của chúng ta. Cụ thể là những nỗ lực của Chính phủ trong việc kiềm chế giá cả hàng hóa, thị trường bất động sản, hâm nóng thị trường chứng khoán... đã giảm tác dụng. Vậy nguyên nhân từ đâu?  Tôi cho rằng nguyên nhân lạm phát là từ những nguyên nhân sâu xa của nền kinh tế, còn những tác động (cả khách quan lẫn chủ quan) trong năm 2007 chỉ là nguyên nhân nhất thời. Có thể phân tích như sau: Thứ nhất, nguyên nhân sâu xa chính là nền kinh tế mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu trong nhiều năm liền do tăng đầu tư (trên 35% GDP), tăng sức tiêu thụ (doanh thu bán lẻ danh nghĩa tăng bình quân trên 20%/năm), tăng nhập khẩu (đòi hỏi phải tăng đối phần trong nước), tăng cung tiền tệ (bình quân 25%), tăng tín dụng nội địa (bình quân trên 35%), tăng công chi, trong khi đó lượng cung thực (sản lượng thực cộng với thâm hụt thương mại) chỉ tăng dưới 10%. Nếu phân tích kỹ từng yếu tố tác động đến tổng cung – tổng cầu thì sẽ thấy rất rõ khoảng chênh lệch đó chính là lạm phát. Câu hỏi đặt ra là tại sao lượng cung thực tăng thấp, trong khi các yếu tố có tác động tăng cung lại tăng cao? Câu trả lời là vì nền kinh tế không có khả năng hấp thụ các yếu tố sản xuất để có mức tăng trưởng cao tương ứng. Với mức tăng đầu tư và tín dụng như trên, nền kinh tế trong 3 năm qua phải tăng trưởng trên 10%, chứ không phải chỉ hơn 8%. Khoảng cách biệt đó là gốc của nguyên nhân gây lạm phát, khi chịu tác động bên ngoài như “những giọt nước làm tràn ly” hiện nay. Do đó, để kiểm soát lạm phát, một mặt áp dụng các giải pháp mang tính tình thế, cần phải tiến hành xây dựng một hệ thống chính sách và giải pháp đồng bộ dựa trên mối quan hệ tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế. Thứ hai, nguyên nhân trực tiếp là từ các yếu tố bên trong và bên ngoài xuất hiện trong năm 2007 như biến động giá nguyên vật liệu của thị trường thế giới, thiên tai, tăng công chi, tăng khối lượng tiền tệ, tăng đột biến tín dụng, tăng tiền lương danh nghĩa... Đặc biệt trong những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, “bong bóng” của thị trường bất động sản đã đẩy mạnh tổng cầu của nền kinh tế (vốn đã mất cân đối) tạo ra hiệu ứng số nhân với các thị trường hàng hóa và dịch vụ khác. Bên cạnh đó, vấn đề tăng công chi liên tục của hệ số nhân đã áp lực rất mạnh lên tổng cầu (nếu tăng công chi để đầu tư có hiệu quả sẽ tăng tổng cung, nên có thể cân đối trở lại ở mức cao hơn không làm mất cân đối tổng cung – tổng cầu); Nhưng nếu đầu tư không có hiệu quả sẽ trở thành nguyên nhân gây ra lạm phát). Với mục tiêu tăng xuất khẩu ròng, thì không chỉ năm 2007, mà có lẽ trong một số năm nữa cũng còn là số âm (năm 2007 âm 12,5 tỷ USD tương đương với gần 18% GDP, vượt xa ngưỡng 5% mà về lý thuyết người ta thường cảnh báo). Năm 2007, nền kinh tế nước ta xuất hiện một nghịch lý là cán cân thương mại thâm hụt đến 18% GDP, nhưng trên thị trường lại thừa USD đã gây khó khăn cho chính sách ổn định tỷ giá VNĐ của Chính phủ, trong điều kiện lạm phát cao. Việc bù đắp thâm hụt thương mại bằng các nguồn khác như FDI, FII, ODA, kiều hối, xuất khẩu lao động... đã tạo ra cảm giác yên tâm về sự an toàn trong cán cân thanh toán quốc tế và cũng từ đó không còn bức xúc trong việc đề ra các quyết sách để sớm đạt mục tiêu tăng xuất khẩu ròng (tăng xuất khẩu ròng là cách bảo đảm an toàn và căn cơ nhất trong cán cân vãng lai đối với các thị trường mới nổi lên). Dựa trên khung lý thuyết về 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô để phân tích sơ bộ như trên để có cái nhìn rõ hơn những trạng thái của nền kinh tế mà những con số mang nặng tính chất thống kê không thể biểu cảm hết. Nếu hàng quý, 6 tháng và hàng năm có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá dựa trên phân tích tổng cung – tổng cầu của nền kinh tế; Gắn với nó các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ thì mới nhận diện được bản chất của nền kinh tế đang vận động. Nếu không phân tích các yếu tố đang tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế để có cái nhìn tổng thể, mà cứ sử dụng các công cụ điều tiết cục bộ (như các biện pháp kiểm soát lạm phát) thì việc chữa bệnh đôi khi trở thành “tích bệnh”, dồn khó khăn về sau nhiều hơn.  Thông thường để điều tiết mối quan hệ giữa tổng cung – tổng cầu, Nhà nước sử dụng 4 nhóm công cụ chính sách nhằm định hướng vận động của thị trường bao gồm: Chính sách tài chính; Chính sách tiền tệ; Chính sách thu nhập; Chính sách kinh tế đối ngoại. Bốn nhóm chính sách trên sẽ hướng đến 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô và cần thực hiện đồng bộ. Trong tình hình hiện nay (tính cả sự bất lợi của thị trường thế giới), có lẽ đang đặt chúng ta trước 2 mục tiêu mâu thuẫn phải lựa chọn: Hoặc tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng GDP trên 9% trong năm 2008 như chỉ tiêu đề ra; Hoặc ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, chấp nhận tốc độ tăng trưởng GDP chậm hơn. Khi tình thế không cho phép chúng ta đạt cả hai, thì phải ưu tiên lựa chọn một mục tiêu mà thôi. Hạnh phúc là khi trong tim bạn có tên của một ai đó. Nhưng hạnh phúc nhất là khi trong tim ai đó cũng có tên bạn. CHỦ ĐỀ 5 Chủ đề 5: Chính sách tài khóa: Thế giới ngày một phát triển, các hoạt động kinh tế cũng đang diễn ra hàng ngày với tốc độ rất nhanh chóng, để tác động, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động kinh tế này chính phủ không những cần sử dụng đến các chính sách tiền tệ mà còn sử dụng cả chính sách tài khóa.Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa.Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là 2 chính sách quan trọng của kinh tế vĩ mô nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài chính nới lỏng.Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài khóa như thế này gọi là chính sách tài khóa thắt chặt. Chính sách tài khóa tác động trực tiếp, để điều chỉnh chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế , chi tiêu của chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số trong nền kinh tế như: tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng trong dài hạn. tuy nhiên trong ngắn hạn chính sách tài khóa ảnh hưởng chủ yếu đến tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ.Chính sách tài khóa gồm 3 nội dung chính đó là chính sách ổn định hóa nền kinh tế,vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước và nợ quốc gia.Chính sách ổn định hóa nền kinh tế nhằm đạt được tỷ lệ tăng trưởng GDP tiềm năng ổn định cao nhất có thể cải thiện được GDP thực tế của cá nhân.Trong quá trình điều hành ngân sách,các chính phủ thường có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi tiêu là rất khó vì liên quan đến các hoạt động y tế,giáo dục,văn hóa,xã hộiDo đó,bắt buộc chính phủ phải tính tới các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước.Giải pháp thường được chính phủ sử dung là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu,bao gồm vay trong nước và nước ngoài. Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với các hoạt động kinh tế.Có 3 loại chính sách tài khóa là Chính sách tì kháo thu hẹp,chính sách tài khóa trung lập,chính sách tài khóa mở rộng.Chính sách thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả 2.Khi đó G=T(G: chi tiêu chính phủ,T: thu nhập từ thuế).Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó,hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.Chính sách trung lập là chính sách cân bằng ngân sách khi đó G=T.Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế.Chính sách mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủ (G>T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2.Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng. Trong trường hợp chính phủ gia tăng sự mua sắm có hai hiệu ứng để lý giải: hiệu ứng số nhân và hiệu ứng lấn át.Ví dụ:Khi chính phủ mua 20 tỷ $ hàng hóa từ hãng Boeing,sẽ có một phản ứng dây chuyền xảy ra.Tác động tức thì từ nhu cầu cao hơn của chính phủ là tăng việc làm và lợi nhuận của hang Boeing.Sau đó,khi công nhân có thêm tiền lương và chủ doanh nghiệp có thêm lợi nhuận,họ phản ứng lại sự tăng lên của thu nhập bằng cách tăng chi tiêu của họ cho hàng tiêu dung.Kết quả là mua sắm của chính phủ từ hang Boeing làm tăng nhu cầu sản phẩm của nhiều hãng khác trong nền kinh tế.Do mỗi một đô la chi tiêu của chính phủ có khả năng làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ lên nhiều hơn một đô la,do vậy mua sắm của chính phủ do hiệu ứng số nhân đối với tổng cầu.Hiệu ứng số nhân tiếp tục phát huy tác dụng ngay cả sau khi vòng thứ nhất kết thúc.Khi chi tiêu của người tiêu dùng tăng,các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng tiêu dùng này sẽ thuê thêm công nhân và có lợi nhuận cao hơn.Thu nhập và lợi nhuận cao hơn một lần nữa lại khuyến khích chi cho tiêu dùng,và quá trình này cứ tiếp diễn.Như vậy, có sự phản hồi thuận chiều khi nhu cầu cao hơn dẫn tới thu nhập cao hơn,và mức thu nhập cao hơn đến lượt nó lại làm cho nhu cầu cao hơn nữa.Khi cộng tất cả các ảnh hưởng này lại với nhau,tác động tổng hợp lên lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ có thể lớn hơn rất nhiều so với xung lực ban đầu do mức chi tiêu cao hơn của chính phủ tạo ra. Nhưng trong khi sự gia tăng mua sắm của chính phủ kích thíc tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ,nó cũng làm cho lãi suất tăng,và một mức lãi suất cao hơn sẽ làm giảm chi tiêu cho đầu tư và giảm tổng cầu.Sự suy giảm tổng cầu vì lãi suất tăng khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa ở rộng được gọi là hiệu ứng lấn át. Như trên, nhu cầu của chính phủ làm tăng thu nhập của công nhân và chủ hãng ( và vì hiệu ứng số nhân, cả thu nhập của công nhân và người chủ ở các hãng khác cũng tăng). Khi thu nhập tăng, hộ gia đình dự kiến sẽ mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, và kết quả là họ muốn nắm giữ nhiều của cải hơn dưới dạng tài khoản có tính thanh khoản cao. Như vậy sự gia tăng thu nhập do sự mở rộng tài khóa gây ra làm tăng nhu cầu về tiền. Hiệu ứng lấn át: Phần (a) biểu thị thị trường tiền tệ. Khi chính phủ tăng chi tiêu để mua hàng hóa và dịc vụ, sự gia tăng của thu nhập bắt nguồn từ đó đẩy đường cầu tiền từ MD1 đến MD2 và điều này làm cho lãi suất cân bằng tăng từ r1 lên r2. Phần (b) biểu thị các tác động của tổng cầu. Tác động đầu tiên của việc gia tăng chi tiêu mua hàng của chính phủ là đẩy đường tổng cầu từ AD1 đến AD2. Nhưng vì lãi suất là chi phí của việc vay nợ, nên sự gia tăng lãi suất có khuynh hướng làm giảm lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt hàng đầu tư. Sự lấn át như vậy làm triệt tiêu một phần ảnh hưởng của sự mở rộng tài khóa với tổng cầu. Cuối cùng đường tổng cầu dịch về AD3. Hiệu ứng của sự gia tăng cầu tiền được biểu thị trong phần (a). Vì quỹ dự trữ liên bang không thay đổi cung ứng tiền tệ, nên đường cung tiền vẫn thẳng đứng như cũ. Khi mức thu nhập cao hơn dịch chuyển đường cầu tiền sang phải từ MD1 sang MD2, lãi suất sẽ phải tăng từ r1 lên r2 để giữ cho cung và cầu tiền cân bằngSự gia tăng lãi suất đến lượt nó lại làm giảm lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ.Cụ thể,vì việc vay nợ đắt hơn,nhu cầu về hàng hóa đầu tư làm cho nhà ở và đầu tư kinh doanh giảm xuống.Nghĩa là khi sự gia tăng mua sắm của chính phủ làm tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ,nó cũng có thể lấn át đầu tư.Hiệu ứng lấn át phần nào làm giảm ảnh hưởng của hiệu ứng số nhân do chi tiêu chính phủ mang lại. . Bên cạnh mức mua sắm của chính phủ thì một công cụ quân trọng khác của chính sách tài khóa là việc đánh thuế. Ví dụ khi chính phủ cắt giảm thuế thu nhập cá nhân, thu nhập thực nhận của hộ gia đình sẽ tăng lên. Phần thu nhập tăng lên này sẽ được các hộ gia đình tiết kiệm một phần, phần còn lại sẽ được mua hàng hóa tiêu dùng. Vì chi cho tiêu dùng tăng nên việc cắt giảm thuế sẽ có tác dụng dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải. Quy mô dịch chuyển của đường tổng cầu bắt nguồn từ sự thay đổi thuế cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu số nhân và hiêu số lấn át. Khi chính phủ giảm thuế và kích thích chi cho tiêu dùng, thu nhập và lợi nhuận tăng, qua đó tiếp tục kích thích chi cho tiêu dùng thêm nữa. Đây là hiêu ứng số nhân. Đồng thời thu nhập cao hơn dẫn đến cầu tiền lớn hơn và điều này có xu hướng làm tăng lãi suất. Lãi suất cao hơn làm việc cho vay nợ trở lên tốn kém hơn, qua đó làm giảm chi tiêu cho đầu tư. Đó là hiệu ứng lấn át. Nhận thức của mọi người về việc thay đổi thuế lâu dài hay tạm thời cũng tác động đến sự dịch chuyển của đường tổng cầu . Ví dụ, giả sử chính phủ tuyên bố cắt giảm thuế cho mỗi hộ gia đình. Để lập kế hoạch sử dụng số tiền cắt giảm này, hộ gia đình sẽ phải tự đặt câu hỏi rằng khoản thu nhập tăng thêm này sẽ kéo dài trong bao lâu. Nếu hộ gia đình kỳ vọng rằng việc cắt giảm thuế được duy trì trong thời gian dài, họ sẽ cho rằng nguồn tài chính của mình đã được bổ sung thêm một khỏa tiền đáng kể, và vì thế họ sẽ tăng mạnh chi tiêu. Trong trường hợp này việc cắt giảm thuế có tác động mạnh đến tổng cầu. Ngược lại nếu các hộ gia đình kỳ vọng rằng việc cắt giảm thuế chỉ có tính tạm thời, họ sẽ cho rằng khoản tiền này sẽ chỉ đóng góp thêm một phần nhỏ vào nguồn tái chính của mình, và do đó sẽ chỉ tăng thêm chỉ tiêu một lượng nhỏ, trong trường hợp này việc cắt giảm thuế sẽ có tác động nhỏ tới tổng cầu. Chính sách tài khóa cũng có thể ảnh hưởng đến lượng cung về hàng hóa và dịch vụ. Ví dụ khi chúng ta xem xét ảnh hưởng của thuế đối với tổng cung. Một trong mười nguyên lý kinh tế học là con người phản ứng đối với kích thích. Khi các hoạch định chính sách của chính phủ cắt giảm thuế, công nhân được phép giữ lại số tiền nhiều hơn từ mỗi đô la mà họ kiếm được, nên họ có nhiều động lực lao động và sản xuất hàng hóa hơn. Nếu họ phản ứng lại biện pháp khuyến khích này, lượng cung về hàng hóa sẽ lớn hơn tại mỗi mức giá và đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang phải. Giống như việc thay đổi về thuế, những thay đổi trong chi tiêu của chính phủ cũng có thể ảnh hưởng tiềm tàng đối với tổng cung. Ví dụ, giả sử chính phủ tăng chi tiêu dưới dạng đầu tư tư bản do chính phủ tài trợ, chẳng hạn xây dựng đường sá. Đường sá được các doanh nghiệp tư nhân sử dụng để chuyển hàng hóa tới khách hàng; số lượng hàng hóa tăng làm tăng năng suất của các doanh nghiệp này. Vì vậy, khi chính phủ tăng chi tiêu thêm để xây dựng cho các con đường thì nó sẽ làm tăng lượng cung về hàng hóa, dịch vụ tại bất cứ mức giá nào cho trước, và do đó làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải. Song trong dài hạn, ảnh hưởng này nên tổng cung có lẽ quan trọng hơn trong ngắn hạn, vì chính phủ phải mất thời gian nhất định để xây dựng những con đường mới và đưa chúng vào sử dụng. Thực tế chính sách tài khóa ở Việt Nam hiện nay: Khuyến nghị:Theo nghị quyết số 11 năm 2011 Nhà Nước ta chủ trương thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt,cắt giảm đầu tư công,giảm bội chi ngân sách nhà nước.Bộ Tài chính chủ trì,phối hợp với các Bộ,cơ quan,địa phương.Chỉ đạo phấn đấu tăng ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc Hội thông qua.Tăng cường kiểm tra,giám sát trong quản lý thu thuế,chống thất thu thuế;tập trung xử lyys các khoản nợ đọng thuế;triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.Các Bộ,cơ quan,địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm them 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011.Người đứng đầu các cơ quan,đơn vị,địa phương,tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị,hội thảo,tổng kết,sơ kết,đi công tác trong và ngoài nướcKhông bổ sung ngân sách ngoài dự toán,trừu các trường hợp thực hiện theo chính sách,chế độ,phòng chống,khắc phục hậu quả thiên tai,dịch bệnh do Thủ tướng Chính Phủ quyết định.Giảm bội chi ngân sách nàh nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP.Giám sát chặt chẽ việc cho vay,trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp,nhất là cho vay ngắn hạn.Thực hiện rà soát nợ Chính Phủ,nợ quốc gia,hạn chế nợ dự phòng,không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính Phủ.Bảo đảm dư nợ Chính Phủ,dư nợ công,dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì,phối hợp với các Bộ,cơ quan,địa phương không ứng trước vốn ngan sách nhà nước,trái phiếu Chính Phủ năm 2012 cho các dự án,trừ các dự án phòng,chống,khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách. Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011. Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài. Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước. Kiến nghị: Gốc rễ của lạm phát ở nước ta chính là chính sách tài khóa ngoài nguyên nhân khách quan như ảnh hưởng của lạm phát trên thế giới, giá dầu thế giới tăng... Để giải quyết bài toán lạm phát một cách cơ bản cần có chính sách tài khóa lành mạnh hơn, cân đối hơn. Chính sách tài khóa tốt dựa trên nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả sẽ làm nhẹ đi áp lực lạm phát đang đè nặng lên nền kinh tế. Muốn làm được điều này cần phải giảm mạnh đầu tư công để đầu tư tư nhân trong, ngoài nước tăng nhanh, hiệu quả đầu tư cũng tăng lên. Đây là yếu tố quyết định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh mà không gây ra lạm phát. Ngoài ra, cần phân công lại vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nếu chính sách tài khóa hướng vào mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng thì chính sách tiền tệ sẽ hướng vào mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế và ổn định tiền tệ. Thuế thu nhập là công cụ có tính tự ổn định cao. Cải cách thuế cần tập trung mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuế suất để kích thích kinh tế. Các chương trình an sinh xã hội, ổn định thu nhập cho người nghèo, cho người lao động chủ yếu dựa vào tiền công, tiền lương cần được cải cách một cách triệt để trên cơ sở phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với sự vận hành thuế thu nhập cá nhân. CHỦ ĐỀ 4ChỦ đè 4  Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyết định trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thường theo đuổi các mục tiêu khác nhau. Chính sách tài khóa là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động các nguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từng năm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia, trả nợ trong và ngoài nước đến hạn. Chính sách tiền tệ là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ của Ngân hàng Nhà nước nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền. Sau đây tôi sẽ trình bày rõ hơn về chính sách tiền tệ. Trước hết chúng ta phải hiểu được thế nào là chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ, là bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách ktế của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền ktế nhằm đạt được những mtiêu ktế - XH trog từg giai đoạn nhất định. Csách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường. Theo nghĩa rộng thì csách tiền tệ là csách điều hành toàn bộ klượng tiền tệ trog nền ktế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của ktế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hóa. Theo nghĩa thông thường là csách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong tkỳ tới phù hợp với mức tăng trưởng ktê dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn định giá cả hhóa. Cta có thể khẳng định rằng, nếu như csách tài chính chỉ tập trung vào thành phần. Kết cấu các mức chi phí thuê khóa của nhà nước, thì csách ttệ quốc gia lại tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho toàn bộ nền ktế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tín dụng đáp ứng vốn cho nền ktế, tạo đkiện và thúc đẩy hđộng của ttrường ttệ, ttrường vốn theo những quy đạo đã định. Nội dung cuả chính sách tiền tệ xét về mặt định tính có thể thấy đó là chính sách thắt chặt tiền tệ hoặc chính sách mở rộng tiền tệ. Nếu nền kinh tế đang ở trạng thái cao đòi hỏi phải thực hiện một chính sách mở rộng tiền tệ. Nếu nền kinh tế đang ở tình trạng lạm phát cao đòi hỏi phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát. Ngựợc lại, nếu nền kinh tế đang ở trọng tình trạng suy thoái thì chính sách tiền tệ cần phản ảnh khối lượng tiền tệ cung ứng tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định bao gồm tiền mặt và tài khoản. Để xây dựng các giải pháp tác động và sử dụng các công cụ để vận hành chính sách tiền tệ, nội dung của chính sách tiền tệ bao gồm 3 bộ phận hợp thành: chính sách cung ứng và điều hòa khối tiền, chính sách tín dụng và chính sách về ngoại hối. Mục tiêu của chính sách tiền tệ trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm. Ổn định giá tiền tệ là mục tiêu hang đầu của chính sách tiến tệ và là mục tiêu dài hạn. Ổn định giá trị tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và ổn định giá cả.  Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên cuảt GDP thực tế. Một nền ktế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ một chính sách kinh tế vĩ mô nào. Đó là nền tảng cho mọi sự ổn định, vì một nền kinh tế tăng trưởng sẽ đảm bảo các chính sách xã hội thỏa mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳg định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế. Chính sách tiền tệ phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội của thấp nghiệp.  Chính sách tiền tệ còn tập trung vào 2 mục tiêu nữa là lãi suất và cung ứng tiền tệ. Thông thường không thể thực hiện đồng thời 2 mục tiêu này. Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở trạng thái bình thừong, thì mục tiêu lãi suất đk lựa chọn. Còn khi kinh tế quá nóng hay quá lạnh sẽ tập trung lượng cung tiền. Ngoài mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ. Chẳng hạn, Cục dự trữ liên bang Mỹ theo đuổi các mục tiêu khác nhau như: ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất hoăch Ngan hàng nhà nước VN nhằm mục tiêu ổn định hệ thống các tổ chức tín dụng thay vì đảm bảo công ăn việc làm. VÌ vậy ở mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những chính sách tiền tệ khác nhau. Những chính sách này phải dựa trên cơ sở cơ chế thị trường, đặc điểm phát triển kinh tế thị trường của mỗi thời kỳ, mỗi quốc gia đó. Liên hệ với thực tế ở Viêt Nam: Khảo sát tình hình thực thi chính sách tiền tệ của VN từ khi thực hiện chuyển đổi cơ chế kinh tế kế họach hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường cho đến nay, cụ thể như sau: Đối với ngân sách nhà nước: Từ năm 1992, Chính phủ đã cam kết không phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước và giải quyết vấn đề này được bù đắp bằng vay nợ trong và ngoài nước, năm 1996 toàn bộ tín phiếu kho bạc nhà nước được chuyển sang đấu thầu qua thị trường tiền tệ và trở thành hóa quan trọng trên thị trường mở. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại quốc doanh huy động vốn với lãi suất 12%/tháng (1989) đảm bảo lãi suất thực dương đã góp phần hạn chế tiền mặt trong lưu thông giúp kiểm soát được lạm phát từ mức 393% năm 1988 đến năm 1993 chỉ còn 5,2%. Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách điều chỉnh lãi suất, dự trữ bắt buộc để đảm bảo tốc độ tặng trưởng tín dụng theo hướng khuyến khích xuất khẩu. Và theo dõi nền kinh tế nước ta từ năm 1992 đến năm 2008 thì chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa luôn mâu thuẫn với nhau. Chính sách tiền tệ “ thắt chặt” trong khi chính sách tài khóa lại “nới lỏng” khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng. Điều này cho thấy chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong một chừng mực nào đó hoàn toàn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ trong ngắn hạn. Đôi khi chính sách tiền tệ còn phụ thuộc vào chính sách tài khóa. Thêm vào đó, ở một số thời điểm nhất định, do nhu cầu huy động vốn cấp thiết, các đợt phát hành trái phiếu chính phủ đã phá vỡ quy luật cung cầu của thị trường tệ, gây sức ép nặng nề trong việc điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Và Trước năm 2000, việc lãi suất trái phiếu chính phủ cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng gây ra nhiều khó khăn cho hệ thống ngân hàng thương mại trong việc huy động tiền gửi ngân hàng, gây áp lực buộc hệ thống ngân hàng thương mại phải nâng lãi suất tiền gửi. Hành động tăng lãi suất này đã không thực hiện theo mức cung, cầu tiền tệ trên thị trường, gây ra xáo trộn trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Năm 2006 đến năm 2007, ngân hàng thương mại bùng nổ, sự tăng trưởng tín dụng quá mức, gắn liền với việc hạ thấp các điều kiện cho vay .Điều này khiến cho chất lượng tín dụng giảm sút và gia tăng tỷ lệ nợ xấu do cuối năm 2007 chứng khoán sụt giá nghiêm trọng và đầu năm 2008 thị trường địa ốc suy sụp hoàn toàn gần như không có giao dịch. Đây có thể xem là giai đoạn “nới lỏng” tiền tệ và tài khóa thay vì phải “thắt chặt”. Khi xây dựng chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước gặp nhiều khó khăn về số liệu thống kê, báo cáo về các vấn đề tài chính công . . .Sự không khớp nhau về thời gian báo cáo, về độ chính xác, đầy đủ và kịp thời của các báo cáo, số liệu, việc khó khăn về tính kết nối yếu tố con người và cơ sở vật chất của hai bộ phận, việc chưa thống nhất về biểu mẫu thống kê giữa ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính hiện đang là những khó khăn trong dự báo, dự đoán cũng như đưa ra các quyết định đúng đắn về điều hành chính sách tiền tệ Những kiến nghị: Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét lại mức khống chế lãi suất cho vay không được vượt quá 21%/năm hiện nay theo hướng hoặc tăng mức khống chế lên 22 – 23% hoặc tăng lãi tiền dự trữ bắt buộc để đảm bảo hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại không bị lỗ, tránh tình trạng một số ngân hàng phải ngưng hoạt động tín dụng gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh do không thể tiếp cận được vốn vay hoặc chi phí lãi suất đi vay quá cao. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước phải duy trì hoạt động giám sát chặt chẽ việc mua, bán ngoại tệ để tránh tình trạng đầu cơ ngoại tệ, những cơn “sốt giá ảo” khiến cho tỷ giá gia tăng đột biến gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và dư nợ nước ngoài của ngân sách nhà nước bị gia tăng do nội tệ mất giá vì yếu tố “đầu cơ”. Ngân hàng Nhà nước ngoài việc tạm ngưng cho phép thành lập mới ngân hàng thương mại cần phải rà soát để tiến hành sáp nhập các ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ để tăng sức mạnh về vốn và trình độ quản lý, mở rộng quy mô để tránh các cuộc chạy đua lãi suất huy động tiền gửi giữa các ngân hàng thương mại.  Thứ 2, phải Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, Ngành khác để có thể dự báo chính xác nhu cầu vốn khả dụng, kiểm soát được lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước phải được cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời từ phía Bộ Tài chính về tồn quỹ tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước để tính toán lượng tiền cơ sở, số lượng huy động vốn và cho vay của các quỹ ngoài ngân sách để kiểm soát được tổng phương tiện thanh toán của toàn bộ nền kinh tế. Bộ Tài chính quy định tần suất đấu thầu tín phiếu, lãi suất tín phiếu phát hành qua ngân hàng nhà nước phải phù hợp với tính toán mức cung ứng tiền, điều tiết khối lượng tiền của Ngân hàng Nhà nước chứ không thể qui định áp đặt vì sức ép vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước đã gây khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Bộ Tài chính phải cung cấp đầy đủ kế hoạch phát hành tín phiếu, trái phiếu chính phủ và công trái mỗi năm cho Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu. Từ đó, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cùng nhau trao đổi để quyết định về khối lượng, lãi suất mời thầu và thời điểm phát hành đảm bảo không làm giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ. Lãi suất Ngân hàng Nhà nước cho ngân sách nhà nước vay phải đảm bảo cao hơn lãi suất đấu thầu trên thị trường mở ở phiên giao dịch gần nhất nhằm làm giảm lạm phát tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời khuyến khích việc sử dụng phương thức tài trợ thiếu hụt phi lạm phát qua phát hành trái phiếu, tín phiếu làm cơ sở phát triển thị trường mở và các công cụ chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước. Kỳ hạn tín phiếu kho bạc cần phải được xây dựng sao cho có thể tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động thị trường đấu thầu và thị trường mở. Kỳ hạn giao dịch tín phiếu cần được điều chỉnh linh hoạt theo hướng đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của ngân hàng thương mại

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxkinh_te_vi_mo_2112.docx
Tài liệu liên quan