Bài giảng học phần kinh tế học phát triển

ChươngI: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VẾ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ I. Phân chia các nước theo trình độ phát triển 1. Sự hình thành thế giới thứ ba Cho tới 1945, nhiều nước ở Tây Âu, nhất là Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, còn kiểm soát những thuộc địa rộng lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước ở Châu Á châu Phi, Mỹ La tinh giành được độc lập dân tộc, có những cố gắng trong phát triển kinh tế, với đường lối “độc lập tự chủ nhằm giảm bớt sức ép từ các nước phát triển vốn đã từng là “chính quốc” của họ.Các nước này được gọi là “thế giới thứ ba”. Cách gọi này nhằm phân biệt với “thế giới thứ nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển, phần lớn là các nước ở Tây Âu, “thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế tương đối phát triển, tập trung ở Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Để tránh rơi vào vòng ảnh hưởng của khối này hay khối kia, nhiều nước trong thế giới thứ ba đã liên kết lại với nhau dưới nhiều hình thức. Tháng 4-1955, tại Indonexia đã diễn ra Hội nghị Bandung, thành lập Phong trào ” Không liên kết”. Những người tham gia Hội nghị khẳng định quyết tâm xây dựng quan hệ quốc tế mới, ưu tiên giúp đỡ cho các quốc gia nghèo, xây dựng trật tự kinh tế bình đẳng. Việt Nam là một trong số các nước sáng lập Phong trào Không liên kết. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã tham gia Hội nghị Bandung. Phong trào này những nắm 1970 hoạt động rất sôi nổi, tạo những áp lực với các nước phát triển trong việc xây dựng trật tự mới của kinh tế Thế giới, 2. Phân chia các nước theo trình độ phát triển Về mặt kinh tế, các nước thuộc thế giới thứ ba còn được gọi là các nước “đang phát triển”. Khái niệm này xuất hiện vào những năm 1960, thời kỳ mà hầu hết các nước này đang đối mặt với đói nghèo, bệnh tật, bất bình đẳng về kinh tế và xã hội, đang tìm cách bứt phá các ràng buộc để đi lên. Khái niệm này còn dùng để phân biệt với các quốc gia giàu có ở phía Bắc. Tuy vậy, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai nhiều nước đang phát triển đã tìm kiếm được con đường đưa đất nước vượt lên, tiến hành công nghiệp hóa, đi vào hàng ngũ các nước phát triển. Xuất phát từ trình độ phát triển và những đặc trưng trong quá trình vận động, Ngân hàng Thế giới đề nghị sắp xếp các nước trên thế giới thành 4 nhóm: các nước công nghiệp phát triển, các nước mới công nghiệp hóa, các nước đang phát triển, các nước xuất khẩu dầu mỏ.

doc57 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 22/08/2013 | Lượt xem: 1214 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài giảng học phần kinh tế học phát triển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ợng đầu tư, đặc biệt là đầu tư của Chính phủ để tạo ra các điều kiện bắt nhịp, đón đầu hoặc kích thích sự xuất hiện nhanh các xu hướng cầu tiến bộ. - Sử dụng các biện pháp tác động vào cung và cầu để điều tiết cung khối lượng tái sản xuất, liên tục hóa tăng trưởng theo điều kiện mới của thị trường. Tại sao trước đây trong nghiên cứu và quản lý, vai trò của cầu tiêu dùng chưa được coi trọng?. Sự thật đó do cả lý luận và thực tiễn chưa đưa ra những “ lời giải “ có độ thuyết phục : - Mặt bằng kinh tế thấp, các sức cầu, đặc biệt là các sức cầu để sống còn chưa đạt mức tối thiểu cần thiết. - Sản xuất có tính tự cung tự cấp, bó hẹp trong từng khu vực nhỏ. - Hợp tác quốc tế chưa đủ sức tạo lập những mạng quan hệ ổn định, tạo nên những sức ép thay đổi về kinh tế và thể chế. - Vai trò kinh tế của Chính phủ còn nhỏ bé và giản đơn. - Các lý thuyết về kinh tế và quản lý chưa làm rõ vai trò của cầu và vai trò Chính phủ trong kinh tế. Chỉ đến khi học thuyết của J. Keynes (1936) ra đời, vấn đề này mới được nghiên cứu và vận dụng vào quản lý II. Nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế 1. Nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng 1.1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài (trên) độ tuổi đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Việc quy định độ tuổi lao động trong Luật lao động là khác nhau giữa các nước, các thời kỳ, do trình độ và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ở Việt Nam, theo Luật Lao động (2002), tuổi lao động của nam là từ 15 đến 60; tuổi lao động của nữ từ 15 đến 55. Nguồn nhân lực được xét cả về số lượng và chất lượng. Theo các định nghĩa trên, số lượng nhân lực gồm: - Số người từ 15 tuổi trở lên có việc làm. - Số người trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng đang đi học, muốn làm việc nhưng đang thất nghiệp, đang làm việc nhà và những người thuộc các tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng nhân lực được đánh giá qua trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của từng các nhân và tập thể người lao động. 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến số lượng nhân lực Số lượng nhân lực phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu sau đây: - Quy mô dân số Yếu tố này lại phụ thuộc vào tốc độ tăng tự nhiên và tốc độ tăng cơ học của dân số - Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động phụ thuộc vào giới tính, nhóm tuổi, điều kiện kinh tế- xã hội và các yếu tố thuộc về tập quán-thể chế - hình thái ý thức xã hội (người theo đạo Hồi không muốn phụ nữ đi làm ở ngoài gia đình. 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực Số lượng nhân lực chỉ mới phản ánh một mặt sự đóng góp của họ vào tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chất lượng nhân lực đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua việc tăng năng suất lao động,năng suất các tài nguyên được sử dụng thông qua tính tíccực và sáng tạo của nó. Chất lượng nhân lực phụ thuộc vào các nhận tố chủ yếu sau: - Mặt bằng giáo dục: Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các loại hình và hình thức học tập nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng về các mặt liên quan đến toàn bộ cuộc sống con người. Giáo dục phổ thông (được coi là lĩnh vực cơ bản, có tính chất nền tảng) nhằm cung cấp kiến thức cơ bản để từ đó mỗi người tiếp tục học tập với hình thức thích hợp để phát triển năng lực của mình. Giáo dục nghề và giáo dục đại học vừa cung cấp kiến thức vừa cung cấp tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp.Vai trò của giáo dục với trình độ nhân lực được thể hiện qua các nội dung sau: * Giáo dục là các thức để tích lũy vốn con người (thông qua các tri thưc, kỹ năng…).Từ đó, con người có thể tiếp thu, sáng tạo kỹ thuật, công nghệ tiến bộ hơn, tạo ra tăng trưởng trong dài hạn. * Giáo dục” cải lão hoàn đồng” và tạo ra và đội ngũ nhân lực có trình độ, kỹ năng làm việc có năng suất trên tinh thần hiệp tác, kéo theo tăng hiệu quả các tài nguyên, tăng trưởng nhanh và bền vững. * Giáo dục cung cấp cho người học kiến thức và kỹ năng để hiểu biết và tự hoàn thiện mình, đặc biệt là những kiến thức về sức khỏe để tái sản xuất dân số về số và chất lượng. Với ý nghĩa đó, giáo dục đã bổ sung cho y tế (giảm cầu về các dịch vụ y tế). - Mặt bằng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe Sức khỏe tác động đến chất lượng nhân lực cả trong hiện tại và tương lai. Sức khỏe của nhân lưc thường được đánh giá qua một hệ thống chỉ tiêu trực tiếp và gián tiếp. Đối với người đang làm việc, sức khỏe của họ, một mặt phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, mặt khác phụ thuộc vào dịch vụ chữa trị bệnh và chăm sóc sức khỏe thường xuyên và các chính sách của Chính phủ về bảo hiểm. Trong thực tế, nhiều Chính phủ còn có những chính sách quan tâm đến chất lượng sức khỏe nhân lực trong tương lai. Đây là cách thức vừa hỗ trợ, động viên cho nhân lực hiện tại vừa tạo điều kiện đón đầu cho nhân lực trong tương lai. Một điều cần chú ý là khái niệm sức khỏe ngày nay còn bao hàm cả sức khỏe tâm lý và tinh thần. - Tác phong, tính kỷ luật của nhân lực Nhân tố này vừa có tính độc lập tương đối vừa phụ thuộc các nhân tố nói trên, đặc biệt là mặt bằng giáo dục. Ngày nay, lao động bằng máy móc trên cơ sở hợp tác giữa các cá nhân và tập thể người lao động là hình thức tổ chức lao động cơ bản. Do vậy, tác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của nhân lực ảnh hưởng đến an toàn lao động, chất lượng, năng suất cá nhân và tập thể. 2. Việc làm và các nhân tố ảnh hưởng 2.1. Việc làm và nhân tố ảnh hưởng. Theo kinh tế học về lao động, việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa nhân lực (sức lao động) với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo nhu cầu của con người. Luật Lao động Việt Nam ghi rõ “Mọi hoạt động lao động tạo ra ngụồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.” Từ quan niệm này, việc làm bao gồm các nội dung: * Là hoạt động của con người. * Hoạt động nhằm tạo ra thu nhập. * Hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Số lượng việc làm phản ánh cầu nhân lực của nền kinh tế. Về lý thuyết, cầu nhân lực phản ánh số lượng nhân lực mà các tổ chức (đơn vị) kinh tế sẵn sàng thuê để tiến hành các hoạt động kinh tế với mức tiền lương nhất định. Cầu nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào quy mô sản lượng và hệ số co dãn việc làm đối với sản lượng đầu ra. Tuy vậy cần chú ý là trong nền kinh tế thị trường, cầu nhân lực mang tính chất thứ phát, ngoài hai nhân tố trên, nó còn phụ thuộc vào vốn đầu tư và kỹ thuật công nghệ cùng nhiều nhân tố khác. 3. Nhân lực với tăng trưởng và phát triển kinh tế 3.1 Vai trò của nhân lực Nhân lực, so với các nhân tố khác, nó là nhân tố sống với hai đặc tính là tích cực và sáng tạo. Tác động của nó với tăng trưởng có tính haimặt. - Là yếu tố chi phí: nó giữ vai trò phối hợp, liên kết các nhân tố khác để tạo nên kết quả kinh tế. Với đặc tính vốn có, dưới tác động của chính sách, nhân lực có thể liên kết, kéo theo các nhân tố khác tạo nên độ co dãn lớn về nhiều mặt của kết quả sản xuất. - Là bộ phận của dân số - yếu tố chủ thể hưởng thụ mà quá trình phát triển phải phục vụ: nó đòi hỏi chiến lược, chính sách phát triển phải phù hợp với cung cầu nhân lưc, hướng tới toàn dụng nhân lực, phân phối ngày càng công bằng hơn,..Kết quả là tăng nhu cầu xã hội, hiệu quả sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống của con người. Dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ và sự thay đổi cơ cấu lực lượng sản xuất cùng với việc nhận thức ngày càng rõ hơn vai trò của nhân lực; ngày nay người ta cho rằng nhân lực có vị trí trung tâm, là một trong những nhân tố giữ vai trò quyết định tăng trưởng và phát triển kinh tế. 3.2. Các vấn đề có tính tiêu điểm của quản lý nhân lực Để quản lý có hiệu quả nhân lực, làm cho nó giữ đúng vị trí và vai trò trong nền kinh tế hiện đại, các Chính phủ thường coi trọng các vấn đề có tính tiêu điểm sau đây: Đối với chiến lược, chính sách phát triển con người và nguồn nhân lực: - Phải có chiến lược, chính sách về chăm sóc sức khỏe ban đầu, sức khỏe bà mẹ và trẻ em - Lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng, theo phương châm căn bản, toàn diện, chú trọng các kiến thức, kỹ năng về xã hội, con người và tự nhiên. - Có hệ thống đào tạo thích ứng với các thời kỳ phát triển, hướng tới ba mục tiêu cơ bản: có tính đa ngành, chuyên sâu và đón đầu. - Phối hợp, tăng tính đồng thuận giữa chính sách dân số với chính sách nhân lực, chính sách việc làm. (2) Đối với chính sách sử dụng nhân lực: - Thường xuyên hoàn thiện chế độ trả công, gắn chế độ trả công với chế độ tiền thưởng, chế độ đào tạo lại, đào tạo bổ sung,… (3) Các chính sách văn hóa – xã hội khác: - Xây dựng, triển khai hệ thống chính sách hỗ trợ, bảo trợ việc làm, đào tạo và đào tạo lại,… - Xây dựng, triển khai các thể chế văn hóa trong các đơn vị, tổ chức kinh tế xã hội. III. Vốn với tăng trưởng và phát triển kinh tế 1. Vốn sản xuất và vốn đầu tư 1.1. Vốn sản xuất và vốn đầu tư - Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. - Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất. - Đầu tư là hoạt động kinh tế, trong đó người ta sử dụng các tài nguyên để tiến hành các hoạt động nhằm tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng tài sản cố định và các tài sản khác để phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh,… nhằm thu được kết quả nhiều hơn trong tương lai so với giá trị các tài nguyên đã bỏ ra. * Các tài nguyên bỏ ra là vốn, nhân lực, máy móc,công nghệ,… * Kết quả đầu tư là năng lực sản xuất mới tăng thêm, tài sản cố định mới đưa vào sử dụng, số lượng và chất lượng nhân lực tăng thêm, tiềm lực khoa học, công nghệ được tích lũy,… - Hoạt động đầu tư được nghiên cứu và quản theo nhiều hình thức. * Nếu xét mức độ chi phối, tham gia của người đầu tư vào quá trình đầu tư người ta phân ra đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp * Nếu xét theo tính chất, người ta phân ra đầu tư phát triển, đầu tư thương mại, đầu tư tài chính. 2. Tác động của vốn sản xuất và vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế - Đầu tư làm thay đổi tổng cầu, chiều hướng tăng trưởng và tính ổn định kinh tế vĩ mô Trong ngắn hạn mà xét, vốn đầu tư là bộ phận có tỷ trọng và độ dao động lớn trong chi tiêu. Do vậy nó sẽ kéo theo độ co dãn và chiều hướng chuyển dịch của tổng cầu, sản lượng thực tế, giá cả cùng với các yếu tố khác thuộc về tính ổn định kinh tế vĩ mô. - Đầu tư làm thay đổi số lượng và chất lượng của tổng cung. Trong trung hạn,dài hạn mà xét, thông qua đầu tư kỹ thuật được đổi mới, văng lực sản xuất tăng lên, trình độ nhân lực được cải thiện.Tổng cung tăng, đường biểu diễn chuyển dịch về bên phải. - Thông qua đầu tư,dưới tác động của các chính sách và công cụ quản lý; cơ cấu ngành, cơ cấu kỷ thuật, cơ cấu vùng kinh tế được chuyển dịch. - Thông qua đầu tư (với số lượng và chất lượng nhất định), các nguồn tài nguyên khác được lôi kéo hoặc có môi trường hoặc có thêm điều kiện để kết hợp có hiệu quả trong hoạt động kinh tế. - Là điều kiện và là dung môi để kết chuyển các thành tựu khoa học công nghệ. - Thông qua đầu tư, các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại có điều kiện và “dung môi” để du nhập, kết chuyển. Với những tác động trên đây, ngày nay người ta coi đầu tư là chìa khóa của sự phát triến. Cần chú ý rằng, sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng không là những quá trình riêng lẻ mà là những quá trình lồng ghép, quy định lẫn nhau, tác động liên tục vào nền kinh tế. Có thể thấy sự tác động của đầu tư đến tăng trưởng qua mô hình sau: AS AD1 AD p1 p2  Y0 Y1 E0 E1 E2 p0 Y2 P Y AS1 Hình trên cho thấy: Nền kinh tế đang cân bằng ở E0 (Y0; p0) ;khi đầu tư tăng, đường cầu chuyển dịch về bên phải, nền kinh tế cân bằng ở E1 ( Y1; p1 ). Sau khi đầu tư, vốn được kết chuyển, năng lực sản xuất và phục vụ tăng lên, chi phí sản xuất giảm; đường tổng cung chuyển dịch về bên phải nền kinh tế cân bằng hiệu quả hơn ở E2 (Y3; p3 ). 3. Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tư Cầu vốn đầu tư là dự định (kế hoạch) của chủ đầu tư nhằm thay thế và tăng thêm giá trị tài sản cố định hay dự trữ tài sản lưu động.Giá trị những tài sản này là nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất, dịch vụ hoặc tiêu thụ trong tương lai (với thời gian đã dự định). Cầu đầu tư phụ thuộc vào tốc độ tăng cầu về các hàng hóa dịch vụ. Cần chú ý rằng: không có mối liên hệ chặt chẽ giữa khối lượng sản xuất hiện thời và sự thay đổi cầu về các hàng hóa dịch vụ được dự báo trong tương lai. Qua nghiên cứu về cầu đầu tư người ta thấy rằng, tại mỗi thời điểm xác định, nhu cầu đầu tư là một đại lượng xác định không phụ thuộc khối lượng sản xuất hay thu nhập mà phụ thuộc vào nhân tố như lãi suất tiền vay và các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay. 3.1 - Lãi suất tiền vay: Đầu tư nhằm mục đích tăng số và chất lượng tài sản cố định và tài sản lưu động và các tài sản khác. Mục đích này, xét cho cùng do quy luật tối đa hóa lợi nhuận quyết định. Khi đầu tư, các nhà đầu tư thường sử dụng vốn vay và coi tất cả các vốn đầu tư khác như là vốn đi vay. Hiện giá thuần và nội suất thu nhập là những chỉ tiêu và và công cụ để người ta kiểm định và quyết định có đầu tư hay không.Như vậy lãi suất tiền vay là nhân tố làm hăng hái hay nản lòng nhà đầu tư, làm thay đổi cầu đầu tư của nền kinh tế. I0 I1 I i0 i1 Di Hình trên minh họa mối quan hệ giữa lãi suất i và cầu đầu tư I: Khi lãi suất suất tiền vay giảm từ i0 xuống i1 thì cầu đầu tư tăng từ I0 đến I1. 3.2 - Các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay: Các nhân tố ngoài lãi suất tiền vay, tạo nên những tín hiệu theo đó các nhà đầu tư lựa chọn để tìm thấy “sự mong đợi hợp lý”. 3.2.1. Chu kỳ kinh doanh: Yếu tố quan trọng quyết định đầu tư là sản lượng kỳ vọng ở thời kỳ các dự án đi vào hoạt động.Trong khi đó mỗi mức sản lượng lại phụ thuộc vào từng phân kỳ của chu kỳ kinh doanh. Do vậy, ở mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ có các cầu đầu tư khác nhau. 3.2.2. Thuế thu nhập doanh nghiệp: Cùng với lãi suất tiền vay, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng làm thay đổi cầu đầu tư. Nhờ đó, Chính phủ có thể điều chỉnh cầu đầu tư cho phù hợp với yêu cầu phát triển thông qua các chính sách. 3.2.3. Môi trường đầu tư: Đầu tư, hiểu theo một khía cạnh khác, có thể coi là canh bạc với số tiền lớn, rõ ràng, để mong thu lại nhiều hơn ở tương lai mà đầy may rủi. Độ rủi ro của đầu tư phụ thuộc rất lớn vào môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố lồng ghép quy định lẫn nhau: số lượng và chất lượng cơ sở hạ tầng; hệ thống luật, chính sách; trạng thái ổn định kinh tế vĩ mô, các quy định hành chính; mặt bằng giáo dục văn hóa,…Trong quá trình tạo lập môi trường đầu tư, Chính phủ giữ vai trò quan trọng, có tính trung tâm. Nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng, trước đây cầu đầu tư phụ thuộc rất lớn vào lãi suất,thuế, cơ sở hạ tầng, giá cả các nhân tố, …Những nghiên cứu gần đây cho thấy, do toàn cầu hóa , hợp tác hóa về kinh tế, nhiều yếu tố cần phải và có thể và phải đi nhanh tới các tiêu chuẩn và mặt bằng chung. Trong điều kiện đó, cầu đầu tư ở mỗi quốc gia sẽ phụ thuộc vào những nhân tố đặc thù nhất, hoặc có tác dụng liên kết, xâu chuỗi nhiều nhất. Người ta nêu lên một thứ tự ưu tiên như sau: Tính rõ ràng,minh bạch của hệ thống luật, chính sách, thủ tục hành chính; tình trạng cơ sở hạ tầng; tình trạng nguồn nhân lực và mặt bằng giáo dục, văn hóa,…Cuối cùng mới là độ ưu đãi trong thuế khóa liên quan đến đầu tư. 4. Các nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tư của một quốc gia, xét theo nguồn gốc, có các bộ phận sau: - Nguồn từ quỹ khấu hao - Nguồn từ tiết kiệm nội địa - Nguồn từ tiết kiệm ở bên ngoài - Các nguồn đặc biệt khác Các nguồn vốn này được tích tụ, tập trung và vận động thông qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính. Các chủ đầu tư tiếp cận với hệ thống này để vay vốn, trang trải cho các nhu cầu đầu tư. IV. Khoa học công nghệ với phát triển kinh tế 1. Khoa học và công nghệ Khoa học là tập hợp những hiểu biết và phát minh trên cơ sở khám phá những thuộc tính tồn tại khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Khoa học, về bản chất là cách mạng và tiến bộ. Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình,kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương pháp để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hoặc dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Các thành tựu của khoa học và công nghệ đựơc biểu hiện hữu hình và vô hình. Khoa học, công nghệ có những mặt giống và khác nhau, đồng thời quy định lẫn nhau. Tính quy định cũng có những khác nhau trong từng giai đoạn phát triển. 2. Vai trò của khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế Khoa học và công nghệ là bộ phận của nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển. Ngày nay, chúng là một trong những nhân tố giữ vị trí trung tâm, nối kết các nguồn lực, giữ vai trò quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. - Khoa học, công nghệ mở rộng khả năng và thay đổi cách thức sản xuất. - Thúc đẩy nhanh việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội. - Tăng sức cạnh tranh của các hàng hóa dịch vụ, đáp ứng cầu với hiệu quả ngày càng cao. Tuy vậy, phát triển khoa học và tiến bộ công nghệ cũng tạo ra những hiệu ứng tiêu cực: - Có thể tạo ra những cú sốc về cơ cấu như tăng tỷ lệ thất nghiệp (do áp dụng nhiều kỹ thuật mới), làm tăng hao mòn vô hình, làm phá sản nhiều ngành , nhiều doanh nghiệp,… - Tạo ra nhiều chất thải độc, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người. - Trực tiếp, gián tiếp làm cạn kiệt nhanh các tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái sinh. - Chứa đựng nhiều nguy cơ không lường trước (các nhà máy hóa chất, nhà máy sử dụng chất phóng xạ và năng lượng nguyên tử, các sản phẩm biến đổi gien,…) 3. Các vấn đề có tính tiêu điểm trong quản lý đầu tư và khoa học công nghệ - Phải phối hợp các chính sách về đầu tư với phát triển khoa học công nghệ nhằm tạo sự đồng thuận cao nhất có thể được, tối thiểu hóa những tiêu cực do đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ. - Phối hợp các nguồn vốn đầu tư để vốn tích tụ, kết chuyển có hiệu quả (số lượng, chất lượng, thời gian, đối tượng, địa điểm,…). - Xác định các ưu tiên (về nguồn vốn, loại hình đầu tư,…) để tác động tích cực vào cân bằng chung về đầu tư và hàng hóa dịch vụ,...) - Xác định các biện pháp để ổn định môi trường đầu tư. - Xác định các biện pháp dự phòng và khắc phục tai nạn và những hiệu ứng tiêu cực khi ứng dụng khoa học công nghệ và đầu tư V. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường với phát triển kinh tế I. Phân loại tài nguyên thiên nhiên 1. Đặc điểm của tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực tự nhiên, bao gồm đất, không khí, nước, rừng, các loại năng lượng và khoáng sản trong lòng đất,…Con người có thể khai thác và sử dụng những lợi ích tự nhiên của chúng theo những nhu cầu đa dạng của mình. Tài nguyên thiên nhiên có một số đặc điểm sau: - Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên phân bố không đều giữa các vùng trên trái đất. Có thể nói, sự phân bố này là do “sự an bài của thượng đế” và là cơ sở tự nhiên của sự giàu có của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. - Tài nguyên thiên nhiên là kết quả tích tụ lâu dài Chính những đặc điểm này làm cho tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên quý hiếm, khan hiếm, là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh trong lịch sử và các hành động hôm nay cùng nhau duy trì, bảo tồn, khai thác có hiệu quả hơn những cái mà tạo hóa đã ban tặng. 2. Phân loại tài nguyên 2.1. Phân loại theo công dụng Tài nguyên thiên nhiên bao gồm:nguồn năng lượng, các khoáng sản, tài nguyên rừng, đất đai, nguồn nước, biển và thủy sản, khí hậu,… 2.2. Phân loại theo khả năng tái sinh Tài nguyên thiên nhiên gồm tại nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn II. Tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế 1. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực, là yếu tố chi phí quan trọng của quá trình sản xuất. Trên phạm vi toàn bộ mà xét, nếu không có tài nguyên thiên nhiên thì không có hoạt động kinh tế và không có sự tồn tại của loài người. 2. Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo ra tích lũy, phát triển ổn định và bền vững. 3. Căn bệnh Hà Lan – và những vấn đề trong quản lý và khai thác tài nguyên III. Tài nguyên thiên nhiên với phát triển bền vững 1. Những hạn chế của khai thác và sử dụng tài nguyên hiện nay Sau chiến tranh thế giới thứ hai, “tăng trưởng” được coi là liệu pháp có tính đầu tàu để khôi phục và tăng tốc kinh tế ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tiếp đó,quan điểm “phát triển” có nhấn mạnh vai trò nhân lực và con người trong hoạt động kinh tế. Tuy vậy các trường phái này đầu lấy lợi ích kinh tế làm chính, coi nhẹ vai trò của tự nhiên với phát triển dài hạn và an toàn. Việc khai thác và sử dụng quá nhiều, quá nhanh tài nguyên đã đến mức báo động ở mỗi nước và trên phạm vi toàn thế giới.Tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên đã xuất hiện, biểu hiện tiêu cực trên nhiều mặt: - Chi phí khai thác tăng lên, làm tăng giá thành hàng hóa, dịch vụ - Có tình trạng đầu cơ,lũng đoạn việc khai thác và lưu thông một số sản phẩm thô có tính chiến lược. - Môi trường sống bị ô nhiễm, bị phá vỡ, nhiều tài nguyên tái sinh không có khả năng phục hồi, bị tuyệt chủng, bị mất đi. - Toàn cầu đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm và mất cân bằng bầu khí quyển, thiếu nước sạch; lương thực, thực phẩm thiếu an toàn,… Tình trạng trên đây làm cho chất lượng cuộc sống một bộ phận dân cư giảm xuống, tạo ra nhiều rào cản để tăng trưởng, phát triển hiệu quả của nhiều ngành, khu vực và quốc gia. 2. Phát triển bền vững Đã đến lúc con người phải từ bỏ quan niệm con người là chúa tể của muôn loài, muôn sự vật, đối lập với thiên nhiên. Ủy ban môi trường và phát triển thế giới (WCDE) định nghĩa: phát triển bền vững là sự phát triển để đáp ứng những nhu cầu của ngày hôm nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai. Như vậy, trong quá trình phát triển phải luôn đặt ra và tìm cách trả lời tối ưu cho các câu hỏi: - Quy mô, tốc độ khai thác các tài nguyên có bảo đảm cho chúng tái sinh để đáp ứng nhu cấu của các thế hệ tương lai không? - Các tài nguyên thay thế có tương xứng với các nguyênbị cạn kiệt và không có khả năng tái tạo hay không? Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa 4 nhóm mục tiêu lớn: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường và mục tiêu an ninh quốc phòng. Mối quan hệ này có thể biểu diễn qua sơ đồ sau: Mục tiêukinh tế Tăng trưởng cao, ổn định Phát triển bền vững Mục tiêu môi trường Cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Mục tiêu xã hội Cải thiện phúc lợi xã hội,côngbằng xã hội, phát triển nhân lực Hình Bền vững về kinh tế đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng sản lượng (GDP và GDP bình quân đầu người) ở mức tương đối cao, cơ cấu kinh tế phải hợp lí và chuyển dịch theo xu hướng tiến bộ, chuyển dần sang tăng trưởng theo chiều sâu là chính, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí chủ yếu để đánh giá tăng trưởng. Bền vững về xã hội là bảo đảm cho đất nước không giảm sút dân số, không có dịch bệnh triền miên, chiến tranh, khủng bố, xung đột sắc tộc,…là quá trình con người được tự do và có nhiều cơ hội lựa chọn, cùng tham gia vào hoạch định chính sách, chiến lược phát triển, là quá trình mội người cùng được hưởng lợi kết quả của quá trình phát triển ngày càng công bằng hơn. Bền vững về môi trường: Đối với từng cá nhân cũng như toàn nhân loại, môi trường luôn có 3 chức năng: - Là không gian sinh tồn - Cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người - Là nơi chứa dựng, hoàn lưu các chất thải trực tiếp và gián tiếp của con người. Do vậy, môi trường bền vững là môi trường luôn thay đổi nhưng vẫn thực hiện được 3 chức năng trên (về số và chất lượng). Môi trường bền vững sẽ bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững. VI. Hợp tác quốc tế với tăng trưởng và phát triển kinh tế Hợp tác kinh tế quốc tế là quá trình lịch sử lâu dài. Trước đây, nó phụ thuộc vào kinh tế như là bộ phận còn lại sau khi đã cân bằng ở bên trong, được trao đổi và nối với phần còn lại của thế giới; ngày nay trong chừng mực nhất định, nó có những mặt vượt trước và mở đường cho các hoạt động kinh tế; tạo điều kiện cho cân bằng bên trong có hiệu quả hơn Hợp tác quốc tế là cần thiết, ngày nay lại càng cần thiết bởi vì: -Do tính không đồng đều trong phân bố tài nguyên thiên nhiên, sau quá trình khai thác tính không đều càng tăng lên. - Do nhiều nguyên nhân, sự phát triển không đều về kinh tế và chính trị, đã kéo theo sự không đều về số và chất lượng các nhân tố sản xuất. - Sự phát triển của khoa học,công nghệ đã cho phép vận tải thông tin liên lạc rút ngắn thời gian, không gian. - Sự phát triển theo hướng chất lượng buộc phải cân bằng động các nhân tố trên cơ sở tầm nhìn toàn thế giới. Vì vậy, hợp tác quốc tế trở thành nhân tố quan trọng, thậm chí có tính sống còn của nhiều quốc gia. Hợp tác quốc tế tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế trên nhiều mặt: - Cho phép mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của quốc gia. - Duy trì tăng trưởng, giảm nhẹ tác động tiêu cực của chu kỳ kinh doanh. - Cho phép tập trung các nguồn lực để phát triển một số ngành có lợi thế, cân bằng có hiệu quả các nhân tố sản xuất cũng như cân bằng có hiệu quả cơ cấu sản xuất với với cơ cấu nhu cầu tiêu dùng cuối cùng. - Cho phép du nhập, đuổi bắt nhanh hơn các thành tựu khoa học công nghệ, kiến thức kỹ năng kinh doanh và quản lý. Để hợp tác quốc tế có hiệu quả, phải tạo ra và không ngừng hoàn thiện các vấn đề có tính điều kiện sau : - Số lượng, chất lượng các yếu tố vật chất bên trong. Đây là cơ sở và nền tảng của hợp tác quốc tế. - Thiết lập và hoàn thiện quan hệ chính tri- xã hội giữa các quốc gia. Đây là điều kiện có tính mở đường, tạo ra môi trường pháp lý, tâm lý để các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh và hành động. - Thiết lập và hoàn thiện quan hệ với các tổ hợp kinh tế - tài chính quốc tế, các tổ hợp địa chính trị. Đây là điều kiện có tính nối kết để tạo ra mạng các quan hệ kinh tế, tài chính. - Đào tạo và nâng cao trình độ các nhà doanh nghiệp, các nhà quản trị, các nhà quản lý. Đây là điều kiện có tính nối kết và quyết định hiệu quả của hợp tác quốc tế. - Cuối cùng là các vấn đề thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội và thể chế. Hợp tác quốc tế diễn ra dưới nhiều hình thức: - Trao đổi hàng hóa dịch vụ. Đây là hình thức đầu tiên, có tính phổ biến, cho đến nay vẫn là hình thức cơ bản của nhiều nước trong hợp tác quốc tế. - Mua bán, chuyển giao phát minh, qui trình công nghệ,… - Hợp tác đầu tư.(Hình thức này được các nước coi trọng từ những năm 1980 đến nay). Tùy trình độ phát triển và yêu cầu của của chiến lược phát triển, mỗi nước đều tích hợp cho mình một phương thức hợp tác trên cơ sở các hình thức cơ bản trên đây. VII. Các nhân tố phi kinh tế Có nhiều nhân tố phi kinh tế có tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Phạm vi bài giảng chỉ đề cập đến một số nhân tố sau đây: 1. Truyền thống, tập quán với tăng trưởng và phát triển kinh tế Truyền thống tập quán (trong sản xuất, tiêu dùng và các sinh hoạt xã hội) là kết quả lâu dài của lịch sử - tự nhiên và xã hội, được thể hiện qua kiểu cách sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, các hình thức sinh hoạt xã hội của các cộng đồng, các khu vực và vùng lãnh thổ. Quốc tế hóa và toàn cầu hóa làm cho thị trường các nhân tố được mở rộng. Trong khi đó, truyền thống và tập quán ít bị quốc tế hóa và toàn cầu hóa, nó trở thành lợi thế để các quốc gia duy trì tăng trưởng, chuyển hóa nó vào hàng hóa, dịch vụ đáp ứng cầu cho cả thị trường bên ngoài. Cần chú ý rằng, truyền thống, tập quán là lợi thế, nhưng không có ý nghĩa tuỵêt đối và vĩnh viễn. Khoa học và nghệ thuật vận dụng truyền thống, tập quán là phải phối hợp với các nhân tố khác như thế nào để nó hóa thân vào các yếu tố kinh tế và được thời đại chấp nhận. Hàng hóa dịch vụ dựa trên đó phải duy trì được tính cạnh tranh ở các thị trường. 2. Các thể chế có tính tự nguyện của các cộng đồng Nhân tố này cũng là kết quả của quá trình lịch sử -tự nhiên và xã hội. Nó được các cá nhân hoặc hộ gia đình tự nguyện cùng xây dựng và thực hiện các quy ước của các cộng đồng dân cư (hoặc dân tộc) về các hoạt động kinh tế và sinh hoạt xã hội. Với các thể chế này, một hệ thống ràng buộc, hệ thống hành lang và luật chơi được vận hành. Nó tác động tích cực và cả tiêu cực đến sự phát triển. Sự tác động của hệ thống này thường vận động ngược chiều với đà phát triển kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện của thể chế quản lý của Chinh phủ. Một khi đất nước đã đi vào phát triển hiện đại các thể chế này có thể lụi tàn, thay vào đó là hệ thống thể chế quản lý của Chính phủ. 3. Các hình thái ý thức xã hội (các tôn giáo) Mỗi hình thái ý thức xã hội (tôn giáo) có hệ thống các giá trị mà mỗi tín đồ và toàn thể giáo hội hằng theo đuổi. Ứng với hệ thống giá trị đó là hệ thống các giáo luật, các quy ước đặt ra cho các tín đồ. Một khi các hế thống trên vận hành nó sẽ tác động, ghi dấu lên quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tín đồ đạo Hồi coi con heo là con vật dơ bẩn nên ngành nuôi và chế biến thịt heo không phát triển. Trong khi đó nghĩa vụ đóng thuế được coi là giáo luật nên nguồn thu của ngân sách Chính phủ tương đối ổn định. Phụ nữ không được khuyến khích đi làm nên một bộ phận tài nguyên bị lãng phí. Do vậy, chiến lược và chính sách phát triển, đặc biệt những quốc gia đa tôn giáo cần phải đặc biệt coi trọng cân bằng lợi ích của các tôn giáo. 3. Diễn biến cùa thời tiết Thời tiết, khí hậu biến đổi theo những quy luật của nó.Tuy vậy con người chỉ có thể tiếp cận sự vận động của nó theo quy luật số lớn mà không thể biết hết mọi diễn biến của nó trong ngắn hạn. Thời tiết có thể tạo nên những thuận lợi bất ngờ, nhưng cũng có thể đưa lại nhiều mất mát và đau khổ không lường trước cho con người. Để tối đa hóa những thuận lợi, tối thiểu hóa những bất lợi, ngày nay các nước đều có chiến lược phát triển bền vững, chính sách thân thiện với thiên nhiên, chung sống với thiên nhiên. Chương V. QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ I. Hệ thống các công cụ quản lý Để làm chủ môt phức hợp đa nhân tố, trong đó nền kinh tế là một phức hợp khổng lồ, Nhà nước phải sử dụng hệ thống các công cụ và phối hợp chúng theo những quan hệ và nguyên tắc nhất định. Xét cho cùng, nội dung cơ bản có tính chất tiêu điểm của quản lý là phối hợp đồng bộ các công cụ quản lý nhằm làm chủ sự vận động của các quan hệ cân đối theo hệ mục tiêu đã xác định. Quản lí là một khoa học,đồng thời là nghệ thuật. Tính khoa học chắc chắn có nhiều người đồng tình, còn tính nghệ thuật nhiều người còn e ngại? 1. Hệ thống luật (về kinh tế) - Luật do cơ quan quyền lực quản l‎ý - Nhìn vào trung hạn, dài hạn là chính - Đưa ra những định hướng, những giới hạn điều tiết có tính nguyên tắc, làm cơ sở cho hệ thống quản l‎ý - Góp phần định hướng quỹ đạo vận động, điều chỉnh cấu trúc phát triển (của đối tượng quản l‎ý) 2. Hệ thống chính sách kinh tế Luật nhằm điều chỉnh những mặt căn bản, có tính ổn định, tạo ra “luật chơi” nhằm định hướng, tạo ra khuôn khổ vận động của một phức hợp quản l‎‎‎ý trong trung và dài hạn. Trong khi cuộc sống đa dạng và luôn biến đổi đòi hỏi kinh tế và quản l‎ý phải có những thích ứng nhất định. Do vậy phải có chính sách để điều chỉnh đối tượng quản l‎ý thích ứng với các diễn biến ngắn hạn và trung hạn . Nói theo ngôn ngữ triết học là chính sách điều chỉnh những cái riêng, cái cụ thể nhưng không ổn định trong cái chung. - Chính sách do cơ quan hành pháp (chính phủ,UBND các đia phương) quản l‎ý. - Dựa trên cơ sở luật - Chính sách nhìn vào trung hạn, ngắn hạn là chính, nhằm ổn định hóa, liên tuc hóa tăng trưởng và phát triển theo giới hạn, xu hướng mà chiến lược và hệ thống luật đã xác định. * Chú ý: trong một số lĩnh vực chưa thể hoặc không thể dùng luật, hoặc một số mặt và lĩnh vực có tính căn bản, nền tảng của sự tồn tại và phát triển của đất nước bên cạnh luật còn phải có chính sách để điều tiết. Tất cả những trường hợp đó, chính sách lấy trung hạn, dài hạn làm chính 3. Các giải pháp ổn định hoá Dù cho luật, chính sách được xây dựng và quản lí thật tuyệt vời, sự mất ổn định vĩ mô vẫn có thể xẩy ra do những nhân tố "bất định”: diễn biến thời tiết, sự thay đổi luật và chính sách từ bên ngoài, dòng xoáy đẩy tới (tốt và xấu) của quản lí từ thời kì trước, các biến động ngẫu nhiên của thị trường,…. Do đó phải sử dụng các giải pháp ổn định hóa để lập lại sự ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện mới, khôi phục môi trường để hệ thống quản lí hoạt động. Các giải pháp ổn định hóa thường sử dung là :điều tiết dự trữ hàng hóa, tiền tệ; hạn ngạch xuất nhập, các biện pháp đặc biệt khác. 4. Hệ thống thông tin, tiêu chuẩn định mức 4.1. Hệ thống thông tin: Thông qua hệ thống thông tin Chính phủ xây dựng và kiểm tra sự hoạt động của hệ thống quản lí, đưa ra những khuyến cáo có tính chất định hướng các hoạt động kinh tế, giúp các tác nhân lựa chọn các hành vi phù hợp. Như vậy,thông tin sơ lược, sai lạc, thậm chí dối trá thì tai họa biết nhường nào cho mọi tác nhân kinh tế. Hệ thống thông tin gồm hai bộ phận cơ bản: - Hệ thống thông tin của Chính phủ (hệ thống thống kê, thông tin của các cơ quan nghiên cứu và xử lí thông tin của chính phủ ) - Hệ thống thông tin phi Chính phủ: hệ thống thông tin này do các tổ chức xã hội, viện nghiên cứu-kinh doanh thông tin thu thập, xử lí và công bố (theo luật về thông tin-báo chí. 5. Hệ thống kế hoạch Hệ thống kế hoạch theo nghĩa rộng gồm chiến lược phát triển, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn. Có quan điểm cho rằng hệ thống quy hoạch về phát triển cũng thuộc hệ thống kế hoạch. Do nội dung và chức năng của nó, kế hoạch là đối tượng và là căn cứ của hệ thống quản lí. 6. Các công cụ khác Các công cụ khác, trong thực tế, là những truyền thống, tập quán, những thể chế tự nguyện có những yếu tố tiến bộ; được luật pháp hóa,chính sách hóa trong phạm vi cần thiết cho phép. Ví dụ:Truyền thống, tập quán tiến bộ của các làng xã, được “chính sách hóa” thành chính sách xóa đói giảm nghèo và chính sách văn hóa làng xã;… II. Quản l‎‎ý hệ thống cân đối vĩ mô Trong nghiên cứu và quản l‎ý kinh tế vĩ mô, cân đối là vấn đề có tính trung tâm. Bởi vì, sự tác động của Chính phủ vào kinh tế, xét cho cùng, là nhằm phối hợp các lực của Chính phủ với các lực của thị trường nhằm giải bài toán về các cân đối vĩ mô hướng tới các mục tiêu tăng trưởng, phát triển, ổn định, công bằng, hiệu quả và gia tăng việc làm. 1. Các hình thức biểu hiện của quan hệ cân đối Các hoạt động và quan hệ kinh tế tác động lẫn nhau và lồng vào nhau, hình thành các quan hệ cân đối vĩ mô. Có thể và cần phải nghiên cứu các cân đối này theo hình thức biểu hiện, trong thời gian, không gian với mục tiêu nhất định. a- Cân đối là sự tương quan giữa cung và cầu về các hành hóa dịch vụ. Đây là hình thức biểu ra hiện bên ngoài, có tính tổng hợp, phản ánh kết quả tương tác của nhiều quan hệ cân đối khác. Vì vậy, người ta thường tìm cách ổn định cung cầu (và giá cả) việc tái sản xuất các hàng hóa dịch vụ chủ yếu, để từ đó tác động vào cân bằng chung trên thị trường (xem trang sau) b- Cân đối là sự thích ứng về tốc độ và tỉ lệ cấu thành của một tổng thể kinh tế. Đây là quan hệ cân đối phản ánh cấu trúc và xu hướng vận động của một tổng thể kinh tế, trong đó nền kinh tế quốc dân là một tổng thể khổng lồ, đa dạng, đa nhân tố. Quan hệ về tốc độ tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế (thường gọi là cơ cấu kinh tế) trở thành đối tượng nghiên cứu, quản lý ở tầm vĩ mô. Trong các quan hệ cân đối phản ánh cơ cấu thì cơ cấu ngành, cơ cấu lĩnh vực, cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế,…là những cân đối quan trọng, có tính tiêu điểm trong phản ánh cấu trúc và xu hướng vận động của nền kinh tế. c- Cân đối là sự tương quan giữa các luồng Tái sản xuất xã hội không chỉ tái sản xuất hiện vật mà còn tái sản xuất cả giá trị. Giá trị và giá cả của các hàng hóa, dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào các chi phí tái sản xuất ra chúng mà còn phụ thuộc vào các biến số của chính sách,… Nền kinh tế không đóng kín mà nối với bên ngoài ngày càng đa dạng và năng động. Vì vậy, sự thay đổi các luồng trong cung cầu tiền tệ, thu chi ngân sách, xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, cân đối tài khoản vãng lai sẽ làm thay đổi tổng cung, tổng cầu, trạng thái ổn định kinh tế vĩ mô, lợi thế tương quan của các ngành bộ phận trong tổng thể kinh tế. Trong các tương quan theo luồng, thì các tương quan: Thu chi ngân sách, cung cầu tiền tệ (của ngân hàng trung ương), xuất nhập khẩu các hàng hóa, cân đối tài khoản vãng lai, cân đối thanh toán quốc tế là những tương quan theo luồng quan trọng, là đối tượng nghiên cứu và quản lý ở tầm vĩ mô. 2.Phương thức thực hiện cân đối Bất kỳ quan hệ cân đối nào cũng chịu tác động tổng hợp, lồng ghép của nhiều phương thức. Tuy vậy do vị trí, tầm quan trọng, đặc điểm trong quá trình hình thành và vận động của các quan hệ cân đối,…mà trong từng thời kỳ mỗi cân đối (hoặc nhóm quan hệ cân đối) sẽ chịu tác động của một phương thức nào đó là chính. 2.1 Cân đối theo các hoạt động kinh tế có tính ngẫu nhiên hoặc theo truyền thống tập quán. Đây là phương thức cân đối xuất hiện đầu tiên để điều tiết cung cầu các hàng hóa, dịch vụ. Cho đến nay, phương thức này vẫn còn điều tiết việc tái sản xuất các hàng hóa, dịch vụ ở những vùng kinh tế kém phát triển, có tính tự cung, tự cấp hoặc các hàng hóa, dịch vụ có phạm vi sản xuất, tiêu dùng hẹp. 2.2 Cân đối thông qua trao đổi trên thị trường Đây là phương thức cân đối giữ vai trò chính có vị trí trung tâm của nền kinh tế hàng hóa. Phương thức này đang ngày càng hoàn thiện theo đà phát triển của kinh tế thị trường. Theo phương thức này, người sản xuất và người tiêu dùng gặp nhau thông qua thị trường để trao đổi các hàng hóa dịch vụ. Qua đó giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện; cung cầu và giá cả, các luồng chuyển dịch các hàng hóa được hình thành; các tương quan theo luồng được thiết lập theo trật tự và mặt bằng mới. Cơ cấu kinh tế cũng được điều chỉnh trong phạm vi nhất định tùy theo thời gian và biên độ dao động của cung cầu các hàng hóa, dịch vụ và tương quan của các luồng. 2.3 Cân đối thông qua tương quan lực lượng Đây là phương thức cân đối của nền kinh tế thị trường hiện đại do sự xuất hiện của các độc quyền và sự tác động của Chính phủ vào kinh tế với nhiều hình thức mới. 2.3.1 Thực hiện cân đối thông qua tương quan lực lượng bởi độc quyền: Theo phương thức này, các độc quyền, với lợi thế có được trong cạnh tranh, họ áp đặt cho nền kinh tế xu hướng tiêu dùng về khối lượng, giá cả, hình thức tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ có tính độc quyền. Phương thức cân đối này về cơ bản là tiêu cực. Hiện nay các Chính phủ đều có những đạo luật dưới các tên gọi: Luật chống độc quyền, Luật tự do cạnh tranh, hoặc Chính sách điều tiết lợi nhuận siêu ngạch để hạn chế độc quyền, khuyến khích tự do cạnh tranh làm cho cung cầu các hàng hóa, dịch vụ được hình thành và vận động “ thông suốt hơn” theo thị trường. 2.3.2 Thực hiện cân đối thông qua tương quan lực lượng bởi Chính phủ Đây là phương thức thực hiện cân đối cần thiết trong nền kinh tế hiện đại do tính quy định của chức năng kinh tế của Chính phủ và những thất bại của thị trường. Theo phương thức này, Chính phủ thông qua các công cụ quản lý và các hoạt động kinh tế để điều chỉnh lợi thế tương quan của các ngành; lĩnh vực; các hàng hóa, dịch vụ theo những mục tiêu đã xác định. Nội dung cụ thể của phương thức cân đối này ứng với từng đối tượng cụ thể đang là vấn đề tranh luận (ở Việt Nam cũng như các nước ) .Tiêu điểm chính của tranh luận bao hàm cả vấn đề khoa học và nghệ thuật quản lý là: Trong những điều kiện xác định, với những mục tiêu đặt ra ứng với từng cân đối cụ thể (- những mục tiêu này là dẫn xuất từ chiến lược và kế hoach tổng hợp kinh tế quốc dân) Chính phủ cần sử dụng phương thức nào, với nội dung cụ thể ra sao, duy trì trong khoảng thời gian nào để đạt mục tiêu và tạo được hiệu ứng tích cực tác động vào cân bằng chung của nền kinh tế. Trong khi đó, những yêu cầu và nguyên tắc căn bản của cân đối (cân bằng) thông qua trao đổi trên thị trường vẫn được tôn trọng. Cân bằng theo tương quan lực lượng bởi Chính phủ được diễn ra dưới hai hình thức tương quan lực lượng trực tiếp và tương quan lực lượng gián tiếp. a- Cân đối theo tương quan lực lượng trực tiếp bởi Chính phủ: Phương thức này thường áp dụng để điều tiết tương quan cung cầu một số hàng hóa dịch vụ chủ yếu mà cân bằng qua thị trường bị thất bại hoặc một số hàng hóa đặc biệt mà không thể cân bằng qua thị trường. Theo phương thức này, Chính phủ sử dụng đồng bộ, các công cụ quản lý, các hình thức tổ chức sản xuất và lưu thông,…để tái sản xuất các hàng hóa dịch vụ đã lựa chọn với độ co dãn thấp nhất (về khối lượng và giá cả). b- Cân đối theo tương quan lực lượng gián tiếp bởi Chính phủ: Phương thức này thường áp dụng để điều tiết tương quan cung cầu một số hàng hóa dịch vụ chủ yếu, các cân đối vĩ mô về cơ cấu kinh tế và cân đối theo tương quan luồng. Theo phương thức này, tùy theo mức độ cân bằng thông qua thị trường mà Chính phủ sử dụng đồng bộ các công cụ và giải pháp quản lý có điều chỉnh thích ứng với từng cân đối theo thời gian để điều chỉnh các quan hệ cân đối với độ co dãn chấp nhận được. 3. Hệ thống cân đối và phương thức thực hiện các cân đối trong kế hoạch kinh tế của Chính phủ Hệ thống cân đối kinh tế rất rộng và phức tạp, hình thành và vận động chi phối, lồng ghép vào nhau. Những cân đối nào được lượng hóa và quản lý theo kế hoạch là do các yếu tố sau đây quy định: - Chức năng của quản lý - Khả năng của thị trường trong việc việc giải quyết các cân đối tầm vĩ mô, đặc biết là cung cầu các hàng hóa dịch vụ chủ yếu. - Các vấn đề (ưu tiên) của kinh tế và quản lý của thời kỳ kế hoạch Các yêu cầu do chức năng quản lý đặt ra Khả năng giải quyết các cân đối (vĩ mô )của thị trường Các vấn đề của kinh tế và quản lý đặt ra cho kỳ kế hoạch Hệ thống cân đối kế hoạch và phương thức thực hiện với từng cân đối và nhóm cân đối 3.1 Hệ thống cân đối kế hoạch Hệ thống cân đối trong kế hoạch kinh tế của Chính phủ bao gồm ba bộ phận: - Các cân đối phản ánh tương quan cung cầu về các hàng hóa dịch vụ chủ yếu. - Các cân đối phản ánh cơ cấu kinh tế. - Các cân đối phản ánh tương quan theo luồng. III. Phối hợp các chính sách theo mục tiêu ưu tiên trong quản lí III.1. Vấn đề và mục tiêu ưu tiên trong quản lí Hoạt động kinh tế diễn ra đa dạng với nhiều cấp độ nhưng bị giới hạn bởi sự khan hiếm các nguồn tài nguyên và khả năng nhận diện và làm chủ nền kinh tế của chủ thể quản lí. Do vậy phải xác định vấn đề của quản lí nói chung và vấn đề chính sách nói riêng. Vấn đế của chính sách là tập hợp những mâu thuẫn phải giải quyết theo những xu hướng nào đó; những hoạt động phải tiếp tục duy trì hoặc loại bỏ,…để nền kinh tế hoạt động động ổn định và chuyển dịch lên mặt bằng cao hơn,… Vấn đề chính sách là một phức hợp các “yếu tố “ quy định lẫn nhau. Xác đinh vấn đề, giải quyết vấn đề chính sách là khoa học và nghệ thuật quản lí. Vấn đề của chính sách được thể hiện qua tập hợp các mục tiêu. Mục tiêu ưu tiên của chính sách là những mục tiêu thuộc vấn đề chính sách đã lựa chọn, có tính cấp bách nhất phải giải quyết theo những hướng khác nhau để duy trì, cải thiện tình hình; có tác động kéo theo, gây sức ép và tạo ra sự liên kết phát triển nhiều nhất,..Như vậy, xác định và quản lí có hiệu quả các mục tiêu có tính ưu tiên là vấn đề khoa học và nghệ thuật có tính hàng đầu. V.I. Lê-Nin,nhà chính trị và khoa học nổi tiếng của thế kỉ XX đã từng nói: trong mỗi giai đoạn của lịch sử, người cộng sản phải tìm cho được mắt xích của sự biến lịch sử và tìm mọi cách thực hiện bằng được mắt xích đó.Nhưng,trình tự kế tiếp và sự chuyển biến của mắt xích lịch sử khác với trình tự kế tiếp và sự chuyển biến của mắt xích trong tay người thợ rèn. Xác định mục tiêu ưu tiên là cần thiết khách quan.Bởi vì:nguồn tài nguyên là có hạn, tính khan hiếm ngày càng tăng lên ,trong ngắn hạn và trung hạn nguồn tài nguyên là một tích phân xác định; kết quả đạt được của mỗi mục tiêu có tác động khác nhau đến hiện tại và tương lai; đến nguyên nhân và kết quả của vấn đề; có khả năng lôi kéo, gây sức ép và liên kết phát triển cũng khác nhau,… Về mặt phương pháp, muốn xác định đúng,với phạm vi thích hợp các mục tiêu ưu tiên cầc dựa vào những tiêu chuẩn (hay căn cứ ) nào? Trong thực tế, người ta thường dựa vào các căn cứ sau: 1 - Tính cấp thiết: việc lựa chọn và giải quyết các mục tiêu đó cho phép duy trì hoặc điều chỉnh tính ổn định kinh tế vĩ mô ở mức cần thiết cho phép. 2 - Tính quyết định - điều chỉnh: khi thực hiện một quyết định quản lí để giải quyết một vấn đề nào đó; nó sẽ tác động vào cả vào nguyên nhân và kết quả.Mục tiêu ưu tiên trong lựa chọn là muc tiêu khi thực hiện nó tác động mạnh nhất, nhiều nhất vào nguyên nhân của vấn đề. 3 - Tính chuẩn bị-lôi kéo-đón đầu: tiêu chuẩn này có nghĩa là nên chọn mục tiêu-coi là ưu tiên khi thực hiện mục tiêu đó nó tạo ra những điều kiện có tác động kích thích, lôi kéo, gây sức ép phát triển nhiều nhất. Đặc biệt, mục tiêu đó có tác động mạnh trong việc tạo ra các điều kiện đón đầu tăng trưởng, phát triển . III.2. Một số mô hình nguyên tắc phối hợp đồng bộ các chính sách theo mục tiêu ưu tiên Phối hợp đồng bộ các chính sách là một yêu cầu có tính nguyên tắc lại vừa có tính nghệ thuật. Nhờ đó, tối đa hóa các tích cực và tối thiểu hóa các tiêu cực khi sử dụng các công cụ quản lí. Có thể đưa ra một số mô hình có tính nguyên tắc để minh họa vấn đề nghiên cứu như sau: * Mô hình1: khuyến khích tăng trưởng là chính Gỉa sử kì kế hoạch cần phải phối hợp đồng bộ các chính sách để đạt các mục tiêu ưu tiên của tăng trưởng sau đây: Đạt tốc độ tăng trưởng cao Tăng đầu tư, đặc biệt là đầu tư nội địa Tăng việc làm, việc làm ở nông thôn … Chính sách Vị trí CS trong Hệ thống Các xu hướng,giới hạn thay đổi chính sách Kết quả Tích cực Tiêu cực 1. Chính sách Tài khóa 2. Chính sách Tiền tệ 3. Chính Sách Giá cả -tiền công 4. Chính Sách Nhân lực Việc làm 5. Chính Sách đầu tư 6.Chính Sách Kinh tế đối ngoại Giữ Vai trò chính Giữ Vai trò chính Vai trò hỗ trợ Vai trò Hỗ trợ Vai trò Hỗ trợ Vai trò Hỗ trợ - Tăng chi đầu tư phát triển, lôi kéo đầu tư toàn bộ; - Vay nợ để đầu tư phát triển, hoặc đầu tư tài chính có tính chất ưu đãi - Phối hợp với các chương trình đầu tư để điều tiết vốn - Điều chỉnh lãi suất theo lạm phát, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất tái chiết khấu giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng chính phủ - Khuyến khích đầu tư trung dài hạn bằng nhiều biện pháp - Tìm cách ổn định giá cả một số hàng hóa, dịch vụ - Kiểm soát và điều chỉnh tiền lương tối thiểu - Tăng chi tiêu trợ cấp và cứu tế xã hội - Đàm phán giữa chính phủ với các tập đoàn kinh tế,các tổ chức công đoàn nhằm ổn định các vấn đề lao động-tiền công - Xây dựng các chương trình việc làm,đào tạo,đào tạo lại, huấn luyện kĩ năng - Triển khai hệ thống hỗ trợ,bảo trợ đào tạo ,việc làm - Xây dựng các chương trình, dự án đầu tư ở nông thôn theo hướng sử dụng nhiều nhân lực - Phối hợp với các chính sách để khuyến khích đầu tư vào nông thôn,… - Khuyến khích, kêu gọi đầu tư từ nhiều nguồn ( FDI,ODA,…) - Khuyến khích xuất khẩu - Từng bước tăng tỉ giá hối đoái - Khuyến khích đầu tư từ bên ngoài,trao đổi mậu dịch biên giới, - Mở rộng các hoat động xúc tiến thương mại; - Phối hợp các chính sách tài chính,tiền tệ ,đầu tư…với bên ngoài - Tăng đầu tư Toàn xã hội - Tăng việc Làm,thu nhập - Tốc độ tăng Trưởng cao Hơn - Lãi suất vốn Giảm; tăng đầu tư tư trung và dài hạn - Ổn định cung cầu tiền tệ trên thị trường và ở các ngân hàng thương mại; - Ổn định thu nhập-đời sống của một bộ phận nhân dân - Ổn định tương quan tiền – hàng một số hàng hóa dịch vụ - Tăng việc làm, Năng suất lao Động - Tăng tính linh hoạt của thị trường lao động - Tăng đầu tư gắn với tăng việc làm - Tạo ra sức ép phát triển nhiều mặt ở nông thôn - Tăng xuất khẩu - Lành mạnh cán cân thanh toán - Tăng sức cạnh tranh và kĩ năng kinh doanh quốc tế - Lạm phát tăng - Có những dao động về giá một số hàng hóa và dịch vụ - Phân hóa giàu Nghèo,mở rộng Khoảng cách về thu nhập - Ngân hàng Thương mại có thể thiếu vốn - Khan hiếm tiền mă mặt trong lưu thông - Tạo thêm sức đẩy cho lạm phát - Tăng áp lực chi tiêu ngân sách,tăng thâm hụt… - Làm tăng chi Phí sản xuất - Độ rủi ro tăng - Cung-cầu nhân lực ở thành thị có biến động - Có thể có buôn lậu ngoại tệ, - Tệ nạn xã hội và tội phạm kinh tế dễ xâm nhập * Mô hình 2: Thiết lập sự ổn đinh kinh tế vĩ mô, kềm chế và đẩy lùi lạm phát.Các mục tiêu ưu tiên cụ thể là - Ổn định và giảm chỉ số giá cả - Giảm bội chi ngân sách Chính sách (CS) Vi trí CS trong hệ thống Xu hướng,giới hạn thay đổi để phối hợp các chính sách Kết quả Tích cực Tiêu cực 1. CS Tài Khóa 2. CS Tiền tệ Giữ vai Trò chính Giữ vai trò chính - Cắt giảm chi tiêu,trước hết Những chi tiêu chưa phát huy tác dụng trong kì - Kiểm soát chặt các chi tiêu hành chính sự nghiệp - Điều chỉnh lãi suất theo mức độ lạm phát - Áp dụng những các giải pháp “ổn định hóa” để điều tiết thị trường ngoại tệ,vàng bạc - Giảm cung tiền - ChỈ số giá cả giảm - Giảm cung tiền trên thị trường -Đầu tư,tăng trưởng giảm (suy thoái) - Giảm phát,suy thoái,đình trệ đầu tư 3. CS Thu nhập Giữ vai Trò hỗ trợ - Chi tiêu hỗ trợ thất nghiệp - Kích thích tiêu thụ nhanh một số hàng hóa - Khuyến khích đa dạng hóa sản phẩm và đầu tư - Ổn định đời sống cho người thất nghiệp - Hỗ trợ tiêu thụ một số sản phẩm - Làm linh hoạt đầu tư 4. CS Nhân lực việc làm Giữ vai trò hỗ trợ - Xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo và đào tạo lại - Chuẩn bị nhân lực cho thời kì tới với cơ cấu mới 5. CS Kinh tế đối ngoại Giữ vai trò hỗ trợ - Xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường xuất khẩu - Tăng cường đàm phán, phối hợp luật, chính sách với bên ngoài -Tăng xuất khẩu,cải thiện cán cân thanh toán

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài giảng học phần kinh tế học phát triển.doc