Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

1.1. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN Thực tiễn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học, nó không chỉ là một phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác-Lênin. Có thể nói, các nhà duy vật trước mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Họ đã hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người nhưng lại xem đó là hoạt động của những con buôn, đê tiện, bẩn thỉu. Nó không có vai trò gì đối với nhận thức của con người. Lý luận của họ còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do vậy chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan. Một số nhà triết học duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu hoạt động thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người, chứ không hiểu nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính, hoạt động lịch sử – xã hội. Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm vể thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa ra phạm trù thực tiễn vào lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và lý luận nhận thức nói riêng. V.I.Lênin đã nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.167). Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm tất cả các hoạt động của con người mà chỉ là hoạt động vật chất của con người. Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng những phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất để tác động vào tự nhiên, xã hội, cải tạo, biến đổi chúng cho phù hợp. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới, sự vật và làm cho hình ảnh của đối tượng thay đổi trong nhận thức. Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn, con người tiến hành hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất để biến đổi tạo ra sản phẩm mới phục vụ cuộc sống con người. Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Chính nhờ lao động, con người thoát khỏi giới hạn của con vật và tự hoàn thiện mình. Do vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất, đặc trưng của con người, là cái quan trọng để phân biệt con người với con vật. Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Mác đã viết: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó còn con người thì tái sản xuất ra tất cả thế giới” ( C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.119). Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa vật chất và những điều cần thiết đối với con người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất hóa tư tưởng, chuyển cái tinh thần vào cái vật chất hay mục đích của nhận thức là vì thực tiễn. Tuy nhiên hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức nhiều khi lại hoàn toàn khác nhau, đôi khi người ta nhận thức giỏi song hoạt động lại không tốt, không hiệu quả và ngược lại. Hoạt động thực tiễn còn là qúa trình tương tác giữa chủ thể và khách thể, trong đó thực tiễn là khân trung gian nối con người với thế giới khách quan.

doc15 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 03/09/2013 | Lượt xem: 7401 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN MỞ ĐẦU Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ hệ thống triết học Mác-Lênin. Vậy thực tiễn đóng vai trò như thế nào đối với nhận thức? Có thể nói, thực tiễn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học. Từ xưa các nhà triết học đã tìm hiểu đời hiện thực của con người, đã cố gắng tìm kiếm phương pháp để con người thoát khỏi kiếm sống trần ai khổ cực. Tuy nhiên vì nhiều hạn chế về nhận thức nên họ đã không hiểu đúng về thực tiễn. Một số nhà triết học trước Mác coi thực tiễn như là hoạt động kiếm sống của những người lao động khổ cực, số khác lại hạn chế thực tiễn dưới hình thức quan sát, thí nghiệm, thậm chí có người coi thực tiễn là hoạt động “bẩn thỉu” của những con buôn. Vì vậy trong nhiều thế kỷ, thực tiễn bị loại ra khỏi phạm vi triết học. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời, với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và tổng kết thành tựu khoa học của nhân loại, hai ông đã vạch ra vai trò cách mạng của thực tiễn, đồng thời đưa nó vào trong phạm trù của triết học. Việc đưa thực tiễn vào triết học với tính cách là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã làm cuộc cách mạng trong lịch sử triết học và trong nhận thức luận. Lịch sử đã chứng minh rằng, quan hệ đầu tiên của con người không phải là quan hệ lý luận mà là thực tiễn. Chính trong thực tiễn con người làm ra lịch sử của mình với tất cả những mặt đa dạng, phong phú của nó. Thật vậy, con người muốn tồn tại và phát triển, trước hết cần phải có cái để mà ăn, mà mặc, mà ở. Đó là những nhu cầu tối thiểu nhưng nếu không có lao động, không có hoạt động thực tiễn thì kể cả những nhu cầu tối thiểu đó cũng không đáp ứng nổi, đừng nói chi đến những nhu cầu luôn ngày càng cao và không ngừng đòi hỏi của con người sau này. Do vậy, không có cách nào hơn là con người phải lao động sản xuất, cải tạo xã hội và nghiên cứu khoa học. Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất cải tạo thế giới của con người, qua đó cho chúng ta phân biệt được thực tiễn với tất cả các hoạt động khác của con người. Đồng thời, nó vạch ra vai trò nền tảng của thực tiễn đối với xã hội và vai trò quyết định của nó đối với nhận thức (lý luận). Từ đây, nhận thức một mặt phải xuất phát từ thực tiễn, được thúc đẩy và kiểm tra bởi thực tiễn, mặt khác lý luận phải thực hiện được chức năng chỉ đạo, điều chỉnh và định hướng thực tiễn. Thực tiễn có một vai trò vô cùng quan trọng đối với nhận thức cũng như mọi mặt của đời sống xã hội nói chung. Nó không chỉ là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý mà còn là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội. Thông qua lao động thực tiễn, con người cải tạo tự nhiên, thay đổi tự nhiên đồng thời cũng hoàn thiện chính bản thân mình. Cũng thông qua lao động thực tiễn, hình thành nên ngôn ngữ, phát triển tư duy, nhận thức và xác lập những mối quan hệ xã hội. Từ việc hiểu được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, chúng ta rút ra được quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học đi đôi với hành. Muốn nhận thức, lý luận tốt phải tổng kết thực tiễn, lý luận phải đi đôi với thực tiễn, lý luận soi đường cho thực tiễn. Nắm vững nguyên tắc này giúp chúng ta tránh được những sai lầm trong thực tế mà cuộc sống thường hay mắc phải như bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu. Với những lý do trên, người viết lựa chọn đề tài “Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức” Chương 1 THỰC TIỄN LÀ GÌ? 1.1. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN Thực tiễn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học, nó không chỉ là một phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác-Lênin. Có thể nói, các nhà duy vật trước mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Họ đã hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người nhưng lại xem đó là hoạt động của những con buôn, đê tiện, bẩn thỉu. Nó không có vai trò gì đối với nhận thức của con người. Lý luận của họ còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do vậy chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan. Một số nhà triết học duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu hoạt động thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người, chứ không hiểu nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính, hoạt động lịch sử – xã hội. Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm vể thực tiễn của các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa ra phạm trù thực tiễn vào lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và lý luận nhận thức nói riêng. V.I.Lênin đã nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.167). Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm tất cả các hoạt động của con người mà chỉ là hoạt động vật chất của con người. Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng những phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất để tác động vào tự nhiên, xã hội, cải tạo, biến đổi chúng cho phù hợp. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới, sự vật và làm cho hình ảnh của đối tượng thay đổi trong nhận thức. Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn, con người tiến hành hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất để biến đổi tạo ra sản phẩm mới phục vụ cuộc sống con người. Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao động có hiệu quả, con người phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Chính nhờ lao động, con người thoát khỏi giới hạn của con vật và tự hoàn thiện mình. Do vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất, đặc trưng của con người, là cái quan trọng để phân biệt con người với con vật. Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Mác đã viết: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó còn con người thì tái sản xuất ra tất cả thế giới” ( C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.119). Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa vật chất và những điều cần thiết đối với con người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất hóa tư tưởng, chuyển cái tinh thần vào cái vật chất hay mục đích của nhận thức là vì thực tiễn. Tuy nhiên hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức nhiều khi lại hoàn toàn khác nhau, đôi khi người ta nhận thức giỏi song hoạt động lại không tốt, không hiệu quả và ngược lại. Hoạt động thực tiễn còn là qúa trình tương tác giữa chủ thể và khách thể, trong đó thực tiễn là khân trung gian nối con người với thế giới khách quan. 1.2. TÍNH CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN Tuy trình độ và hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người. Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó; trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người. Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử . Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, người ta dùng những phương tiện, công cụ, sức mạnh khác nhau để tác động vào thế giới vật chất. C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng ta sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào” (C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, tập 23, tr.129). Thông qua phương tiện, công cụ, tư liệu lao động, người ta có thể biết được trình độ sản xuất của một xã hội. Hoạt động thực tiễn chỉ có thể được tiến hành trong các mối quan hệ xã hội, nên nó mang tính xã hội. Để tiến hành hoạt động thực tiễn, con người phải hỗ trợ, tác động lẫn nhau trong xã hội chứ không thể hoạt động riêng lẻ, đơn độc. Qua qúa trình lao động làm phát sinh nhu cầu trao đổi về hoạt động, sản phẩm hay kinh nghiệm, tình cảm… Và cũng chính qua quá trình trao đổi, ngôn ngữ xuất hiện với tư cách là phương tiện giao tiếp. Mác đã nói, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Chính nhờ giao tiếp bằng ngôn ngữ mà các quan hệ xã hội xuất hiện. Qua hoạt động thực tiễn, cái cụ thể trong tư duy được vật chất hóa thành cái cụ thể cảm tính. Thực tiễn vừa mang tính tương đối, vừa mang tính tuyệt đối. Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối bởi thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm tra lý luận, kiểm tra chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý. Bên cạnh đó, tiêu chẩn thực tiễn cũng mang tính tương đối bởi thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà biến đổi và phát triển không ngừng, mặt khác thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi các yếu tố chủ quan. Lịch sử đã chứng minh có những chân lý chỉ đúng ở một thời điểm nhất định (vì mang tính lịch sử, phải đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể mới xem xét được). Do vậy trong quá trình phát triển của nhận thức và thực tiễn, tri thức luôn phải được kiểm nghiệm, điều chỉnh, bổ sung, sửa chữa để hoàn thiện hơn. Thực tiễn còn mang tính khách quan và tính phổ biến bởi thực tiễn phải tuân thủ các quy luật khách quan, trong quá trình cải tạothế giới, con người phải nhận thức được các quy luật khách quan. V.I.Lênin nhận xét: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả ở tính hiện thực thực tiễn”. (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tập 29, tr.230). Thực tiễn không đứng yên mà luôn vận động và phát triển do nhu cầu của con người ngày càng nhiều và cao hơn. Nhu cầu con người là một trong những động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng nhiều và cao của con người, phải đa dạng hóa, hiện đại hóa các ngành nghề. Hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải đa dạng hóa công cụ lao động bởi có bao nhiêu sản phẩm phải có bấy nhiêu công cụ lao động. Trình độ phát triển của thực tiễn chính là trình độ chinh phục và làm chủ tự nhiên của con người. Muốn vậy, con người phải nắm được quy luật và hoạt động theo quy luật. 1.3. CÁC YẾU TỐ VÀ CÁC DẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỰC TIỄN Thực tiễn bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động. Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả. Các yếu tố đó có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được. Hoạt động thực tiễn có ba dạng cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học. Chúng tác động, bổ sung nhau nhưng hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động quan trọng nhất, quyết định đối với hai hoạt động còn lại. Tuy nhiên, khoa học kỹ thuật ngày nay đang phát triển và giữ thế mạnh, chúng đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Dạng cơ bản đầu tiên của hoạt động thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất. Đó là qúa trình con người sáng tạo ra công cụ lao động, làm biến đổi giới tự nhiên, xã hội, cải biến các dạng vật chất khác đáp ứng nhu cầu của con người nhằm đảm bảo sinh tồn và phát triển của con người, xã hội. Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất (cổ xưa và đầu tiên nhất) và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, đồng thời quyết định các dạng còn lại của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật. Dạng cơ bản khác của hoạt động thực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội nhằm trực tiếp thay đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội hiện thực lạc hậu, thay vào đó là những quan hệ xã hội, chế độ xã hội tiến bộ hơn. Nó xóa bỏ xã hội lỗi thời (đặc biệt trong xã hội có giai cấp đối kháng), biến đổi, cải tạo xã hội và phát triển các qquan hệ xã hội. Qúa trình sản xuất vật chất của nhân loại làm nảy sinh, phát triển quan hệ cá nhân con người, nhóm người, gia cấp, dân tộc, quốc gia, tổ chức chính trị - xã hội, đảng phái, nhà nước… Đây là hoạt động đấu tranh xã hội, thể hiện chủ yếu trong quan hệ giai cấp nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển. Ngoài ra, với sự ra đời và phát triển của khoa học, một dạng cơ bản nữa của thực tiễn cũng xuất hiện là hoạt động thực nghiệm khoa học, nghiên cứu ứng dụng khoa học để áp dụng vào sản xuất. Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan trọng trong sự nghiệp phát triển xã hội, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Ngoài ra, trên nền tảng của hoạt động sản xuất vật chất, cải tạo xã hội và thực nghiệm khoa học, hình thành và phát triển những hoạt động đa dạng, phong phú khác của đời sống xã hội như: sinh hoạt gia đình, nghiên cứu khoa học, y tế, giáo dục, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo… Hoạt động của con người rất đa dạng và phong phú, chúng thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, khái quát lại có hai dạng cơ bản là hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Trong đó hoạt động vật chất là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội, nó quy định hoạt động tinh thần của đời sống xã hội. Chương 2 VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 2.1. THỰC TIỄN LÀ CƠ SỞ, ĐỘNG LỰC CHỦ YẾU VÀ TRỰC TIẾP CỦA NHẬN THỨC Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn. Nhận thức ngay từ đầu phải xuất phát từ thực tiễn và do thực tiễn quy định. Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triển. Qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người nhận thức chúng. Từ những tài liệu cảm tính mà ban đầu thu nhận được, con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa… để phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, từ đó xây dựng thành lý luận. Như vậy, thực tiễn đã cung cấp những tài liệu sinh động cho nhận thức mà không có chúng thì không có nhận thức. Lịch sử phát triển khoa học đã chứng minh rằng, mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp suy cho cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn. Không chỉ cung cấp tài liệu cho nhận thức, thực tiễn còn làm xuất hiện những nhu cầu, đề ra nhiệm vụ và cung cấp những công cụ, phương tiện để nhận thức giải quyết. Trong qúa trình hoạt động thực tiễn, con người biến đổi thế giới đồng thời biến đổi cả bản thân mình, các giác quan phát triển hoàn thiện tạo điều kiện cho nhận thức ngày càng tốt hơn. Thông qua các hoạt động thực tiễn, con người đã chế ra công cụ, phương tiện và thông qua các giác quan, con người có nhận thức. Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá thế giới, làm phong phú thêm tri thức của mình. Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải luôn có tri thức mới thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học. Khoa học ra đời cũng chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người. THỰC TIỄN LÀ MỤC ĐÍCH CỦA NHẬN THỨC Tri thức khoa học chỉ thật sự có ý nghĩa khi được vận dụng vào thực tiễn để biến đổi thế giới và bản thân con người. Nhận thức không phải là hoạt động tự thân vì nhận thức mà vì thực tiễn, vì cuộc sống của con người. Chính vì vậy, những tri thức đạt được phải quay về phục vụ con người, kết quả nhận thức phải hướng dẫn, điều chỉnh và chỉ đạo thực tiễn. Nhờ có hoạt động (kể cả vật chất lẫn tinh thần), con người in được dấu ấn của mình vào thế giới. Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn, nhận thức không ngừng phát triển. Với thực tiễn xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết phải vì mục đích của nhân dân lao động, của giai cấp công nhân. Nếu không phải vì mục đích của nhân dân, sẽ không có động lực phát triển, không huy động được sức mạng toàn dân để thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Chính nhu cầu của đời sống thúc đẩy khoa học phát triển. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học. Ăngghen đã rất đúng khi nói, ngay từ đầu sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học đã do sản xuất quy định. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, nó đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu để đáp ứng những nhu cầu đó. Đó là những vấn đề về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường, phương pháp xây dựng nó. Vấn đề về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thuận lợi và thách thức khác nhau. Vấn đề làm sao đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để năn 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sác dân tộc và nhiều vấn đề quan trọng nữa cũng đặt ra và yêu cầu phải giải quyết. Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề trên, nghĩa là nhận thức đã đóng vai trò quan trọng góp phần đắc lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta. 3.1. THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ So với lý luận, thực tiễn cao hơn ở tính hình thức trực tiếp. Lý luận phải được thực tiễn kiểm nghiệm. “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý…” (C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr.9-10). Tất nhiên, nhận thức khoa học còn có tiêu chẩn riêng là tiêu chuẩn logic, song tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn. Do đó, muốn nhận thức được phải tổng kết thực tiễn, bản thân lý luận phải đi đôi với thực tiễn, lý luận phải soi đường cho thực tiễn, chỉ đạo thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Thực tiễn là tiêu chuẩn trong việc kiểm tra tri thức, chân lý. Một mặt, thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất đáng tin cậy để kiểm tra tính chân thực hay sai lầm của tri thức, vì thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) ở chỗ nó không chỉ có “tính phổ biến” mà còn có “tính hình thức trực tiếp”. Tính đúng đắn hay sai lầm của tri thức chỉ có thể kiểm tra trong thực tiễn, vì chỉ có hiệu quả của hoạt động thực tiễn mới chứng minh được sự phù hợp hay không phù hợp củ tri thức của chúng ta về khách thể với bản chất khách quan của khách thể đó. Mặt khác, tiêu chuẩn thực tiễn không phải là cái tuyệt đối, đầy đủ hoàn toàn vì thực tiễn bao hàm trong mình không chỉ cái khách quan mà còn cả cái chủ quan, hơn nữa, nó luôn vận động, biến đổi và phát triển. Do đó, không quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn xét về thực chất, không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa. Tiêu chuẩn ấy cũng không xác định để không cho phép các hiểu biết của con người trở thành một cái “tuyệt đối”, đồng thời nó cũng xác định để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và bất khả tri. Việc kiểm tra tri thức của con người không phải làm một lần, mà nó là một quá trình cùng với quá trình vận động và phát triển của thực tiễn. Một tri thức đã được thực tiễn kiểm tra xác định là đúng thì nó trở thành chân lý, nhưng không phải là chân lý tuyệt đối cuối cùng bất biến mà nó cần phải được kiểm tra trong thực tiễn tiếp theo. Đó là điều cần thiết bảo đảm tri thức con người không bị chết cứng, giáo điều mà ngày càng chính xác, hoàn thiện và sinh động hơn. Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng, tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối. Tiêu chuẩn thực tiễn mang tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn có thể xác nhận được chân lý. Tuy nhiên, vì thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển không ngừng nên nó cũng mang tính tương đối. Thực tiễn là một qúa trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan. Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức con người thành chân lý cuối cùng mà buộc chúng phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm, bổ sung, điều chỉnh và phát triển hoàn thiện hơn. Điều này giúp cho chúng ta tránh khỏi cực đoan, giáo điều, bảo thủ. Thực tiễn và lý luận là hai mặt mâu thuẫn của nhận thức nhưng chúng thống nhất biện chứng nhau, không thể tách rời nhau. Từ thực tiễn không thể rút ngay ra lý luận và từ lý luận không thể đưa ngay vào thực tiễn. KẾT LUẬN Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Việc nhận thức phải xuất pháp từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải liên hệ thực tiễn, học phải đi đôi với hành. Thực tiễn là quá trình biện chứng mà trong đó hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần hòa quyện làm một, vật chất được phản ảnh vào tinh thần còn tinh thần thì được hiện thực hóa trong sự biến đổi của thế giới vật chất. Lý luận càng thích ứng với thực tiễn bao nhiêu thì hoạt động cải tạo của con người càng có hiệu quả bấy nhiêu. Do vậy lý luận và thực tiễn luôn phải thống nhất với nhau và trở thành nguyên tắc tối cao của hoạt động con người. Việc biến lý luận thành hiện thực không phải là con đường thẳng tắp và trực tiếp mà phải thông qua những khâu trung gian nhất định. Trước hết lý luận phải phản ánh đúng quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và lợi ích của quần chúng. Sau đó lý luận phải được thâm nhập vào quần chúng và trở thành tư tưởng. Từ đó, tổ chức hành động thực tiễn của quần chúng để thực hiện lý luận. Nếu lý luận xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu, duy lý. Ngược lại nếu tuyệt đối hóa thực tiễn sẽ dẫn tới chủ nghĩa kinh nghiệm. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980 Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Nguyễn Thế Nghĩa, Những chuyên đề triết học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. V. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 18, Nxb. Tiến bộ Mátxcơva, 1980.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò của thực tiễn đối với nhận thức.doc