Nông nghiệp - Chương 3: Chọn giống nhãn

Cấu tạo của chùm hoa: Là loại hoa kép đƣợc cấu tạo bởi một trục chính và nhiều nhánh.  Căn cứ vào hình thái chùm hoa, nông dân Hƣng Yên phân biệt là "chùm sung", “chùm bị” hay “chùm dâu da".  Trên một chùm hoa có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm. Có thể từ vài trăm hoa đến 2-3 nghìn hoa.  Hoa nhãn màu trắng vàng, đài và cánh có 5, phía ngoài có lông, mùi thơm nhẹ, có nhiều mật.  Hoa nhãn gồm có 4 loại: hoa đực, hoa cái, hoa lƣỡng tính và hoa dị hình.

pdf13 trang | Chia sẻ: nhung.12 | Ngày: 14/03/2018 | Lượt xem: 71 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nông nghiệp - Chương 3: Chọn giống nhãn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
7/18/15 1 CHƢƠNG 3 CHỌN GIỐNG NHÃN I.MỞ ĐẦU  Nhãn (Dimocarpus longan Luor) là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và là một loại quả quý trong tập đoàn cây ăn quả nƣớc ta.  Quả nhãn có giá trị dinh dƣỡng cao không chỉ để phục vụ mục tiêu ăn tƣơi mà các sản phẩm từ Long nhãn cò có tác dụng chữa bệnh rất tốt.  Cây nhãn có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập tốt, có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Quả nhãn là loại quả có giá trị dinh dƣỡng cao:  Cùi nhãn khi tƣơi có 77,15% nƣớc, độ tro 0,01%, chất béo 0,13%, protit 1,47%, hợp chất có nitơ tan trong nƣớc 20,55%, đƣờng sacaroza 12,25%, vitamin A và B.  Cùi khô (long nhãn nhục) chứa 0,85% nƣớc, chất tan trong nƣớc 79,77%, chất không tan trong nƣớc 19,39%, đội tro 3,36%.  Trong phần tan trong nƣớc có glucoza 26,91%, sacaroza 0,22%, axít taetric 1,26%, chất có nitơ 6,309%. II. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY NHÃN Nhãn tươi Long nhãn Calories 61 286 Độ ẩm 82,4 g 17,6 g Protein 1,0 g 4,9 g Chất béo 0,1 g 0,4 g Carbohydrates 15,8 g 74,0 g Chất xơ 0,4 g 2,0 g Calcium 10 mg 45 mg Phosphorus 42 mg 196 mg Sắt 1,2 mg 5,4 mg Thiamine 0,04 mg Ascorbic Acid 6 mg 28 mg Thành phần dinh dƣỡng trong 100g Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/ 7/18/15 2 Những món ăn từ nhãn  Hạt nhãn chứa tinh bột, chất béo và tanin. Trong chất béo có các axít xyclopropanoit và axít dihydrosterculic C19H36O2 khoảng 17,4%.  Hạt nhãn cạo bỏ lớp vỏ đen, thái mỏng tán bột rắc lên những vết thƣơng chảy máu, hoặc trộn với dầu bôi lên nơi bị bỏng có tác dụng làm lành vết thƣơng.  Trong lá nhãn có vị nhạt, tính bình, có tác dụng chữa cảm mạo với liều 10 - 15g dƣới dạng thuốc sắc. Giá trị trong y học  Cùi nhãn khô hay long nhãn nhục (Arillus Longanae) dẻo, có màu nâu hoặc nâu đen, đƣợc dùng làm thực phẩm đồng thời là một vị thuốc thƣờng đƣợc dùng trong Đông y chữa các chứng bệnh hay quên, thần kinh kém, suy nhƣợc, hay hoảng hốt, khó ngủ.  Long nhãn vị ngọt, tính bình, vào 2 kinh Tâm, Tỳ. Có tác dụng bổ tâm, bổ tỳ, nuôi huyết, lƣu thông máu, an thần, giúp trí nhớ. Dùng chữa các chứng bệnh mất ngủ, thần kinh suy nhƣợc. Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/ 7/18/15 3 Cùi nhãn khô Long nhãn tƣơi Nhãn làm cây bóng mát Gỗ Nhãn làm đồ mỹ nghệ 3. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI A.Nguồn gốc  Cây nhãn đƣợc ghi chép trong sử sách của Trung Quốc từ thì Hán Vũ Đế cách ngày nay trên 2000 năm.  Hiện nay Trung Quốc là nƣớc có diện tích lớn nhất và sản lƣợng vào loại hàng đầu trong các nƣớc trồng nhãn.  Ngoài Trung Quốc nhãn còn đƣợc trồng ở: Thái Lan, Ấn độ, Malaisia, Việt Nam, Pilipipine  Đầu thế kỷ XIX nhãn mới đƣợc trồng ở một số nƣớc Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Đại Dƣơng trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. B. Phân loại: Cây nhãn là cây nhiệt đới thuộc họ bồ hòn (Sapindaceae) Phân loại khoa học. + Giới: Plantae. + Ngành: Magnoliophyta. + Lớp: Magnoliopsida. + Bộ: Sapindales. + Họ: Sapindaceae. + Chi: Dimocarpus. + Loài: D.longan Tên khoa học: Dimocarpus longan Luor Cây nhãn ở Phố Hiến trên trăm tuổi Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/ 7/18/15 4 IV. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT A. Trên thế giới Trung Quốc là nƣớc có diện tích nhãn lớn nhất và sản lƣợng vào loại hàng đầu trong các nƣớc trồng nhãn (40.000 ha). Thái Lan có diện tích trồng nhãn 31.855 ha với sản lƣợng hàng năm 87000 tấn trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc với các giống chủ yếu : Daw, chompoo,Thái Lan có thể xuất khẩu 85 % lƣợng nhãn của mình. Các nƣớc cung cấp nhãn chủ yếu cho thị trƣờng thế giới là Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. B. Ở Việt Nam Nhãn đƣợc trồng lâu đời nhất ở Phố Hiến – Hƣng Yên. Hiện nay nhãn đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao và miền nam sông Tiền, sông Hậu cũng có rất nhiều nhãn và đã trở thành những vùng hàng hoá. Trong những năm gần đây do nhu cầu quả tƣơi tại chỗ, cây nhãn đƣợc phát triển mạnh ở các tỉnh phía nam: Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long)... Đặc biệt ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre,... diện tích trồng nhãn tăng rất nhanh. Năm 2009, diện tích trồng nhãn khoảng 150 nghìn ha, sản lƣợng 650 nghìn tấn. V. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC 1. Rễ Dựa vào chức năng của rễ, với cây nhãn có thể chia làm 3 loại: + Rễ tơ (còn gọi là rễ hút), + Rễ quá độ + Rễ vận chuyển. Căn cứ vào sự phân bố của bộ rễ có thể phân: + Rễ cọc + Rễ ngang. 7/18/15 5 2. Lộc cành:  Trên cây khi mầm mới nhú gọi là lộc, khi lộc phát triển đã thành thục thì gọi là cành.  Dựa vào mùa vụ phát sinh mà có thể gọi là cành xuân, cành hè, cành thu, cành đông.  Khi cây còn bé các loại cành này phát triển và có thể trở thành bộ khung của cây.  Còn khi cây đã có quả thì những loại cành này đều có thể trở thành cành mẹ của vụ quả năm sau. 3. Thân cành:  Mầm ngọn hay mầm nách của nhãn đều có thể phát triển thành cành.  Việc hình thành thân cành của nhãn có những điểm khác với cây ăn quả khác là khi cây đã ngừng sinh trƣởng mầm ngọn ở đỉnh đƣợc các lá kép rất non bọc lấy, gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi mầm ở đỉnh này kéo dài thêm.  Qua các đợt lộc trong năm, cứ mỗi đợt ở phần ngọn lại đƣợc bao bọc bởi các tầng lá kép, dần dần các lá này rụng đi để trơ ra một đoạn trống khiến chúng ta có thể dễ phân biệt đƣợc các đợt lộc cành trong năm trên đoạn cành dài từ gốc đến ngọn 4. Lá  Lá nhãn thuộc loại kép lông chim. Lá đơn mọc đối xứng hay so le.  Đại bộ phận các giống nhãn có từ 3 đến 5 đôi lá, có giống có từ 1-2 đôi, thƣờng gặp là 4 đôi lá, 7 đôi trở lên là hiếm thấy.  Lá nhãn hình mác, mặt lá xanh đậm, lƣng lá xanh nhạt, cuống lá ngắn, gân chính vỡ gân phụ nổi rõ.  Lá non màu đỏ, tím hay đỏ nâu tuỳ giống và thay đổi theo thời tiết. Mặt lá bằng, có giống biên lá hơi quăn.  Lá nhãn từ lúc bắt đầu nhú đến thành thục biến động trong khoảng thời gian 40-50 ngày tuỳ nơi trồng, điều kiện dinh dƣỡng và mùa vụ.  Tuổi thọ của lá là 1-3 năm. 7/18/15 6 5. Hoa nhãn  Cấu tạo của chùm hoa: Là loại hoa kép đƣợc cấu tạo bởi một trục chính và nhiều nhánh.  Căn cứ vào hình thái chùm hoa, nông dân Hƣng Yên phân biệt là "chùm sung", “chùm bị” hay “chùm dâu da".  Trên một chùm hoa có rất nhiều hoa tùy thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm. Có thể từ vài trăm hoa đến 2-3 nghìn hoa.  Hoa nhãn màu trắng vàng, đài và cánh có 5, phía ngoài có lông, mùi thơm nhẹ, có nhiều mật.  Hoa nhãn gồm có 4 loại: hoa đực, hoa cái, hoa lƣỡng tính và hoa dị hình. a) Hoa đực  Đƣờng kính hoa 4-5 micron, nhị cái thoái hoá, hoa có 5 cánh màu vàng nhạt, có 7-8 chỉ nhị và túi phấn xếp hình vòng.  Túi phấn đính vào đầu chỉ nhị. Khi thành thục túi phấn nứt ra, phấn hoa tung ra ngoài để thụ phấn thụ tinh.  Hoa nở sau 1-3 ngày thì tàn. b) Hoa cái  Ngoại hình và độ lớn giống hoa đực, có 7-8 chỉ nhị, nhƣng nhị đực đã thoái hoá.  Có hai bầu nhị kết hợp làm một, ở giữa có một nhụy khi thành thục đầu nhụy chẻ làm đôi, cong lại.  Sau khi hoa cái nở, nhụy hoa tiết ra một loại dịch nƣớc.  Sau thụ phấn thụ tinh 2-3 ngày cánh hoa héo, bầu hoa phát triển, bầu có màu xanh. 7/18/15 7 c) Hoa lƣỡng tính  Hình thái hoa giống hoa đực vỡ hoa cái, nhị đực và nhị cái của hoa phát triển bình thƣờng, bầu thƣợng.  Có khả năng thụ phấn thụ tinh để phát triển thành quả. d) Hoa dị hình  Một bộ phận nào đó của hoa phát triển không bình thƣờng, ví dụ nhụy hoa không tách, chỉ nhị không phát triển, túi phấn không mở và không có khả năng tung phấn.  Trong sản xuất loại hoa này không có ý nghĩa. Hoa Lƣỡng tính Hoa đực 6. Quả  Quả có hình cầu, tròn dẹp, cần đối hay hơi lệch, đỉnh quả tròn, cuống quả hơi lõm.  Vỏ quả nhãn thƣờng trơn nhẵn, cũng có giống vỏ hơi xù xì, màu vàng xám hay nâu nhạt.  Cùi của quả nhãn là do cuống noãn phát triển mà thành.  Giữa vỏ và cùi của các giống nhãn ở miền Bắc thƣờng dễ bóc, các giống miền Nam thì khó hơn. 7. Hạt  Cùi nhãn là một lớp vỏ giả. Lớp này bao bọc lấy hạt.  Hạt nhãn có hình tròn, tròn dẹp, màu đen hay nâu đen, bóng, phản quang, có giống màu trắng nhƣng rất hiếm (nhãn Bạch sa).  Lá mầm trong hạt màu trắng, có nhiều tinh bột, phôi màu vàng.  Độ lớn hạt cũng rất khác nhau giữa các giống, thƣờng thì 1,6 - 2,6g, chiếm 17,3 - 42.9% trọng lƣợng quả.  Cũng có giống nhãn hạt rất bé, hầu nhƣ không có hạt, do kết quả thụ phấn thụ tinh kém. 1. Nhãn lồng Hƣng Yên: Quả tròn, to gần nhƣ vải thiều, trọng lƣợng quả trung bình 12-17g. Múi chồng lên nhau phía đỉnh quả, cùi hình thành các nếp nhăn, hạt màu đen. Quả ăn giòn và ngọt, thơm mát, vỏ quả dày, giòn, dễ tách. Quả chín sớm, phần ăn đƣợc chiếm 63,25% khối lƣợng quả. VI. QUỸ GEN CÂY NHÃN - 2. Nhãn cùi:  Trồng phổ biến ở Hƣng Yên, Hải Dƣơng  Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ dày khoảng 0,5mm, không sáng mà màu vàng nâu.  Quả to, trọng lƣợng trung bình 10-15g.  Cùi dày trung bình 4,7mm, khô, màu cùi trong hoặc hơi đục, ăn ngọt vừa.  Phần ăn đƣơc chiếm khoảng 60% trọng lƣợng quả. 7/18/15 8 - 3. Nhãn Bàm bàm: Qủa to gần bằng nhãn lồng, trung bình khoảng 12 – 15g. Trôn quả hơi vẹo, vai quả gồ ghề Cùi dày, khô, ăn có vị ngọt nhạt. Phẩm chất quả kém nhãn lồng. Đây là dạng biến dị của nhãn lồng. . 4. Nhãn đƣờng phèn:  Quả nhỏ hơn nhãn lồng, khối lƣợng trung bình 7-12g.  Vỏ màu nâu nhạt, cùi tƣơng đối dày, đậm nƣớc, bóc vỏ trên mặt cùi quả có các u nhỏ nhƣ cục đƣờng phèn, ăn ngọt sắc, thơm đặc biệt.  Hạt bé, đen nhánh, nặng khoảng 1.5g.  Ra hoa muộn hơn nhãn cùi, chín chậm hơn khoảng 10-15 ngày.  Phần ăn đƣợc chiếm 60.24 % trọng lƣợng quả. 5. Nhãn nƣớc:  Cây thƣờng sai quả, quả nhỏ, khối lƣợng trung bình 6-9g.  Cùi mỏng khoảng 2,7mm, nhão, nhiều nƣớc, độ ngọt vừa phải, cùi khó dóc ra khỏi hạt.  Chùm thƣờng có nhiều quả, năng suất tƣơng đối ổn định, về chất lƣợng ăn tƣơi kém nhãn cùi.  Phần ăn đƣợc chiếm khoảng 38,63% trọng lƣợng quả. 6. Nhãn Vĩnh Châu:  Giống này trồng nhiều ở huyện Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Cây mọc khoẻ, lá to, biên lá gợn sóng. Qủa có màu xanh, nhẵn. Hạt tƣơng đối to, nhiều nƣớc, cùi mỏng, ngọt, khó tách khỏi hạt. Giống này tuy ăn không ngon bằng Nhãn cùi hay Nhãn đƣờng phèn song có ƣu điểm thích nghi với đất xấu, có ảnh hƣởng mặn. 7. Nhãn Tiêu Da Bò:  Nhãn tiêu da bò (nhãn quế) đƣợc phát triển ở miền Nam từ 20 năm nay, có nguồn gốc ở Huế, đƣợc trồng chủ yếu ở các huyện cù lao nhƣ: An Bình, Hoà Ninh, Đồng Phú.  Từ khi nhãn ra hoa cho đến khi trái chín trung bình khoảng 3-4 tháng (tuỳ giống), giống nhãn tiêu da bò có thời gian chín lâu hơn.  Chỉ thu hoạch quả khi vỏ chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng vàng, vỏ trái từ xù xì hơi dày chuyển sang mỏng và nhẵn.  Trái mềm hơn (do đã có nƣớc nhiều), cùi có vị thơm, hạt chuyển sang màu đen hoàn toàn. 7/18/15 9 8. Nhãn xuồng cơm vàng: Giống có nguồn gốc ở thành phố Vũng Tàu, đƣợc trồng bằng hạt. Thịt quả dày, màu hanh vàng, ráo, dòn, rất ngọt, đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng. Đặc điểm dễ nhận diện là quả có dạng hình xuồng. Quả chƣa chín gần cuống có màu đỏ, quả chín vỏ quả có màu vàng da bò. Cùi có màu hơi trắng hoặc vàng,dáo, dai, giòn, có vị ngọt, khá thơm. Xuồng cơm vàng thích hợp trên vùng đất cát; nếu trồng trên đất thịt hoặc sét nhẹ nên ghép qua gốc ghép là giống tiêu da bò 9. Nhãn Hƣơng Chi:  Là một giống nhãn ngon đƣợc trồng trong vƣờn nhà cụ Hƣơng Chi, thị xã Hƣng Yên.  Là giống nhãn thấp cây, cành xoè rộng, tán tròn xum xuê, lá màu xanh đậm nhỏ hơn lá nhãn lồng, gân lá nổi rõ, mép lá quăn vào phía lƣng lá.  Quả hình trái tim hơi vẹo  Cùi dày, dễ bóc, hạt nhỏ, vỏ mỏng. VII. MỤC TIÊU TẠO GIỐNG 1. Tạo ra các giống có năng suất quả cao, phẩm chất ổn định qua các vụ:  Về năng suất: Cây đƣợc chọn phải hơn giống cũ 25- 30% sản lƣợng các năm không chênh lệch nhau quá 30%.  Về phẩm chất: Quả to, cùi dày, hạt bé, cùi quả ăn thơm có vị ngọt sắc, hàm lƣợng chất tan và tỷ lệ đƣờng/axít cao. . 2. Mục tiêu ăn tƣơi: Chọn giống có quả to, cùi dày, hạt nhỏ, nhiều nƣớc, độ ngọt vừa phải nên yêu cầu ngọt và có mùi thơm. 3. Mục tiêu cho chế biến (làm long nhãn)  Chọn giống có quả đều nhau, khối lƣợng >10g  Cùi dày, vỏ mỏng.  Thịt quả màu trắng, cùi khô ráo.  Thịt qủ giòn, mềm vừa phải.  Vị ngọt vừa phải, có hƣơng thơm. 7/18/15 10 4. Chọn giống chịu hạn  Để mở rộng diện tích trồng nhãn ở đất đồi để tăng hiệu quả chống xói mòn.  Nhãn là cây chịu hạn, chịu ngập úng, trồng đƣợc trên đất chua, đất nghèo dinh dƣỡng ở vùng gò đồi và vùng đồng bằng đất thấp. Vì cây nhãn có rễ nấm thích nghi với các điều kiện đó.  Do vậy chọn giống nhãn chịu hạn là mục tiêu của nhà chọn giống, trồng trên đất đồi núi, tăng hiệu quả chống xói mòn. 5. Chọn giống kéo dài thời gian cung cấp quả tƣơi:  Bằng cách chọn các giống chín sớm, chín cực sớm và các giống chín muộn.  Tránh sự chín tập trung của nhãn làm nhãn bị giảm giá khi trên thị trƣờng cung cấp quá nhiều loại nhãn. 6. Các mục tiêu khác  Sử dụng hạt nhãn, vỏ nhãn là thuốc đông y.  Tạo bonsai nghệ thuật chơi cây cảnh.  Dùng để làm gốc ghép. VIII. PHƢƠNG PHÁP TẠO GIỐNG 1. Phƣơng thức nhân hữu tính  Đây là phƣơng pháp truyền thống khá thông dụng trƣớc đây ở các vùng trồng nhãn vì dễ làm.  Cây có bộ rễ khá phát triển, mọc khoẻ có khả năng thích nghi rộng, nhất là ở các gò đồi, miền núi thiếu nƣớc trong mùa khô.  Cây gieo hạt chậm ra hoa kết quả, thông thƣờng phải mất 4-5 năm, lại có biến dị lớn, cây con không giữ đƣợc những đặc tính tốt ban đầu của cây mẹ nên chủ yếu để làm gốc ghép. 2. Tuyển chọn từ các giống địa phƣơng  Bằng cách thu thập nguồn gen của các vùng sinh thái khác nhau ở trong và ngoài nƣớc.  Có thể là các loài hoang dại, các dòng mới chọn tạo.  Các mẫu thu về đƣợc đánh giá về năng suất, chất lƣợng và chống chịu với điều kiện bất thuận.  Chọn lọc ra các dòng triển vọng phát triển thành giống tốt và nhân rộng ra các vùng sản xuất. 7/18/15 11 a. Chọn cây mẹ và cành chiết  Cây mẹ phải có năng suất cao, ổn định qua các năm và có phẩm chất quả tốt, đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng.  Cây không bị không bị nhiễm các đối tƣợng bệnh hại nguy hiểm và cây đang ở độ tuổi sung sức.  Chọn cành chiết có đƣờng kính cành 1,0 - 1,5cm, ở giữa tầng tán và phơi ra ngoài ánh sáng.  Cành có độ dài 40 - 60cm và cách gốc cành khoảng 30cm có chạc đôi càng tốt. 3. Phƣơng pháp nhân giống vô tính 3.1. Nhân giống bằng phƣơng pháp chiết cành b. Đất bó bầu Dùng đất vƣờn hoặc đất bùn ao phơi khô đập nhỏ trộn với rơm rác mục, rễ bèo tây hoặc xơ dừa. Tỷ lệ hỗn hợp gồm 2/3 đất + 1/3 là một trong các nguyên liệu kể trên. Hỗn hợp trên đƣợc tƣới nƣớc ẩm đến 70% độ ẩm bão hoà. Bó bầu chiết với đƣờng kính 6 - 8cm, chiều cao bầu 10 - 12cm. c.Thời vụ và thao tác chiết Tiến hành tƣơng tự nhƣ đối với các chủng loại cây ăn quả khác. Trong điều kiện thời tiết khí hậu của các tỉnh miền Bắc, chiết cành vào các tháng 3, 4 và 8, 9 cho tỷ lệ ra dễ cao hơn ở các tháng khác trong năm. d. Giâm lại cành chiết Sau khi chiết đƣợc 2,5 đến 3 tháng, khi bầu chiết đã có nhiều rễ thứ cấp thì tiến hành cắt cành chiết đem giâm lại trong vƣờn ƣơm. Trƣớc khi hạ bầu chiết, cần cắt bớt một số cành quá dày, chỉ để lại một số cành cần thiết, tránh cắt cành chiết vào những ngày có gió mùa đông bắc hoặc gió Tây. Cành chiết đƣợc giâm trong túi ni lông, hoặc trong các rọ đan bằng tre. Làm giàn che giảm bớt khoảng 50% ánh sáng tự nhiên, hàng ngày tƣới ẩm 2 lần, sau 7 - 10 ngày thì tƣới ngày một lần tuỳ theo độ ẩm của đất. Đến ngày thứ 30 trở đi có thể tƣới thúc nƣớc phân chuồng pha loãng hoặc phân khoáng pha loãng nồng độ 0,5%. Khi cây có một đợt lộc mới thành thục thí có thể đem trồng mới. 3.2. Nhân giống bằng phƣơng pháp ghép a. Gieo ƣơm cây gốc ghép Chuẩn bị hạt gốc ghép  Sử dụng nhãn nƣớc, nhãn thóc làm gốc ghép hoặc có thể sử dụng chính giống muốn nhân làm gốc ghép.  Thu hạt gốc ghép trên cây khoẻ mạnh, sinh trƣởng tốt, không có các đối tƣợng sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Hạt sau khi tách khỏi quả, đƣợc rửa sạch và đặc biệt là phần cùi còn dính ở đầu hạt.  Xử lý hạt bằng dung dịch thuốc trừ nấm Benlat C 0,3% trong thời gian 3 - 5 phút, sau đó vớt hạt ra để giáo nƣớc và ủ cho tới khi hạt nứt nanh mới đem gieo. Hạt đƣợc ủ bằng bao tải đay hoặc vải mềm trong các dụng cụ nhƣ: thúng, rổ giá hoặc có thể ủ trong cát ẩm. 7/18/15 12  Gieo hạt  Hạt nhãn đƣợc gieo trực tiếp vào túi bầu hoặc gieo trực tiếp trên luống đất.  Sử dụng túi bầu nilông mầu đen với độ dầy 0,07 - 0,1mn, đƣờng kính túi bầu 12 - 13cm, cao 25cm và có lỗ thoát nƣớc.  Hỗn hợp đóng bầu sử dụng thích hợp là đất + phân chuồng hoai với tỷ lệ trộn 1 m3 đất + 200 - 300 kg phân chuồng hoai + 10 - 15 kg super lân.  Bầu gieo ƣơm cây con đƣợc xếp thành từng luống 4 - 5 bầu, khoảng cách đặt bầu thích hợp là 15 x 20 cm. Lấp đất đầy khe hở giửa các túi bầu và lấp kín 2/3 - 3/4 túi bầu để tránh đổ, rách bầu và giữ ẩm.  Khi hạt nhãn nứt nanh cần tiến hành gieo ngay, khi gieo lƣu ý đặt hạt nằm ngang, lấp đất phủ kín hạt sau đó phủ kín bằng rơm hoặc rạ mềm. Chăm sóc cây con trƣớc khi ghép Khi hạt nẩy mầm, nhẹ nhành tách bỏ lớp rơm, rạ phủ khỏi mặt luống. Sau gieo khoảng 1 - 1,5 tháng, tiến hành bón thúc cho cây bằng nƣớc phân chuồng pha loãng 1/10 - 1/15 hoặc phân đạm, phân lân pha loãng 1%. Cứ sau 25 – 30 ngày lại tiến hành bón thúc cho cây. Sau khi gieo 40 - 50 ngày, cây có từ 5 - 6 cặp lá thì tiến hành ra ngôi vào túi bầu tiêu chuẩn. Ra ngôi vào những ngày trời râm mát và duy trì giàn che từ 1 - 1,5 tháng kể từ khi ra ngôi. b. Ghép cây  Tiêu chuẩn cây con đạt ghép: Cây con sau gieo hạt từ 8 - 12 tháng, khi chiều cao cây đạt 60 - 80 cm, đƣờng kính thân ở vị trí 20 cm cách mặt đất đạt 0,5 - 0,7 cm là đạt tiêu chuẩn ghép.  Thời vụ ghép: Trong điều kiện thời tiết, khí hậu của các tỉnh miền Bắc nƣớc ta, thời vụ ghép thích hợp và cho tỷ lệ sống cao là vụ xuân (các tháng 3,4) và vụ thu (các tháng 9,10). Cành ghép: Cành ghép đƣợc khai thác trên vƣờn chuyên nhân cành ghép hoặc trực tiếp ở vƣờn sản xuất trên các cây nhãn sinh trƣởng, phát triển tốt, không bị các đối tƣợng sâu bệnh nguy hiểm gây hại và mang đầy đủ các đặc điểm của giống muốn nhân. Cành ghép tốt nhất có độ tuổi từ 3 - 4 tháng, cành ghép vào vụ xuân có thể sử dụng cành non hơn so với cành chọn ghép vào vụ thu. Cành ghép đƣợc lấy ở giữa tầng tán và phơi ra ngoài ánh sáng. Bảo quản cành ghép Cành ghép sau khi cắt khới cây mẹ, tiến hành ghép ngay cho tỷ lệ sống cao nhất. Khi cần bảo quản cành ghép, sử dụng các thùng cát tông xếp lần lƣợt các lớp lá nhãn có vẩy nƣớc giữ ẩm và các lớp cành ghép bọc trong vải mềm ẩm, bảo quản ở nơi giâm mát. Thời gian bảo quản từ 1 đến 2 ngày.  Phƣơng pháp ghép Sử dụng phƣơng pháp ghép đoạn cành và ghép vào những ngày trời nắng ráo. c. Chăm sóc cây con sau ghép Tưới nước, bón phân Sau khi ghép từ 10 - 15 ngày, mầm ghép và mầm dại bắt đầu mọc cần tỉa bỏ mầm dại. Khi mầm ghép mọc dài 3 - 5 cm, chọn để lại 1 mầm ghép khoẻ nhất. Khi cành ghép ổn định 1 - 2 đợt lộc cần cắt bỏ dây ghép. Bón đủ các chủng loại phân đạm, lân, kali, lƣợng bón cho mỗi lần từ 1 - 1,5g một chủng loại phân bón cho một cây. Cứ sau 25 - 30 ngày tƣới thúc phân một lần. Ngừng bón phân trƣớc khi xuất vƣờn 1 tháng. Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/ 7/18/15 13 Phòng chống sâu bệnh - Sâu đục ngọn và đục gân lá - Châu chấu xanh nhỏ - Bệnh đốm nâu lá - Bệnh khô đầu lá Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfchongiongcaydaingaychuong_3_chon_giong_nhan_724.pdf
Tài liệu liên quan