Đề cương ôn tập môn xây dựng văn bản pháp luật

Đề cương đc xây dựng dưới dạng bảng dễ hiểu, dễ nghiên cứu rất hữu ích cho việc học và thi môn xây dựng văn bản pl Đề cương gồm 2 phần: - Các vấn đề lý luận chung về xây dựng văn bản pl - Mội số mẫu văn bản áp dụng pháp luật phổ biến (rất hữu ích cho việc ôn thi ) )

doc33 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 2807 | Lượt tải: 22download
Tóm tắt tài liệu Đề cương ôn tập môn xây dựng văn bản pháp luật, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ăn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26-11-2003; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004; Xét đề nghị của Trưởng Phòng Tư pháp huyện A, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định số.../…/QĐ-UB, ngày … tháng … năm… về việc…, như sau: “………………………………………………………………………………” Điều 2. Chánh văn phòng UBND, Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng các Phòng, ban khác có liên quan … chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày… tháng… năm... Nơi nhận: TM.UBND - Như Điều 2; CHỦ TỊCH - Lưu VP, … *Chỉ thị CHỈ THỊ VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO NĂM 2011 Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, những năm gần đây thiên tai đã xảy ra trên địa bàn cả nước với mức độ nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại nặng nề về người và tài sản của Nhà nước và nhân dân. Thành phố Hà Nội với địa bàn rộng, dân số đông, địa hình đa dạng, phức tạp, hàng năm thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, lũ, bão, úng ngập, hệ thống đê điều, hồ đập và các công trình phòng chống lụt bão tuy đã được đầu tư, tu bổ nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng chống thiên tai. Tình hình thời tiết từ đầu năm đến nay đã có những diễn biến bất thường. Rét đậm, rét hại kéo dài; tình hình khô hạn đã xảy ra ở nhiều địa bàn, báo hiệu mùa mưa bão năm 2011 sẽ có những diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó, nhiệm vụ đặt ra với công tác phòng, chống lụt, bão năm 2011 là hết sức nặng nề và phải được đặc biệt coi trọng. Để chủ động phòng, chống lụt, bão, tổ chức công tác tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ có hiệu quả, sớm khắc phục hậu quả, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra, tạo điều kiện thuận lợi triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XV và tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội của Thủ đô, UBND Thành phố chỉ thị: 1. UBND các cấp: Tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, bão, úng ngập, thiên tai năm 2010; củng cố, kiện toàn tổ chức chỉ huy phòng, chống lụt, bão, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ khắc phục hậu quả lũ, bão, úng ngập, thiên tai; xây dựng kế hoạch, phương án phòng, chống lũ, bão, úng ngập, thiên tai; xây dựng kế hoạch, phương án phòng, chống lũ, bão, úng ngập, cứu trợ, giảm nhẹ thiên tai năm 2011 cụ thể, chi tiết, sát với thực tế, phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng địa phương; đối với các địa phương nằm trong vùng địa hình trũng, thấp, vùng có nguy cơ sạt lở đất, lũ rừng ngang phải rà soát tình hình thực tế, xây dựng phương án, chủ động sơ tán nhân dân ra khỏi vùng nguy hiểm trước khi bão, lũ, úng ngập, thiên tai xảy ra; Tổ chức dự phòng lương thực, thuốc men, cây, con giống; hàng hóa, vật tư thiết yếu để sẵn sàng hỗ trợ đảm bảo đời sống nhân dân (đặc biệt là các gia đình chính sách, các hộ nghèo), phục hồi sản xuất, vệ sinh môi trường, khắc phục hậu quả khi có lũ, bão, úng ngập, thiên tai; Tăng cường phổ biến những kiến thức cơ bản về phòng, chống lũ, bão, úng ngập, giảm nhẹ thiên tai; vận động nhân dân chủ động chuẩn bị, sẵn sàng phòng, chống cho gia đình và tích cực tham gia công tác phòng, chống lũ, bão, úng ngập, giảm nhẹ thiên tai của địa phương; Tổ chức tập huấn, hiệp đồng, thực hành triển khai các phương án để xử lý kịp thời các sự cố do lũ, bão, úng ngập gây ra trên địa bàn quản lý; sẵn sàng chi viện, ứng cứu cho các địa bàn khác theo chỉ đạo của UBND Thành phố, Ban chỉ huy PCLB Thành phố; UBND các quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn ven đê chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan kiểm tra thường xuyên, phát hiện kịp thời, kiên quyết ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các trường hợp vi phạm Luật Đê điều, Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão, Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ các công trình thủy lợi từ khi mới phát sinh. 2. Các sở, ban, ngành của Thành phố. - Các sở, ban, ngành của Thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng kế hoạch, phương án phòng, chống lũ, bão, úng ngập, cứu trợ, giảm nhẹ thiên tai năm 2011 cụ thể, chi tiết, sát với thực tế; tập trung chỉ đạo, tổ chức chuẩn bị các điều kiện bảo đảm sẵn sàng triển khai phương án khi thiên tai, lũ, bão, úng ngập xảy ra. - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cơ quan thường trực Ban chỉ huy PCLB Thành phố lập phương án bố trí phòng hộ đê, đảm bảo an toàn hồ đập, công trình thủy lợi; phương án phòng chống úng, khắc phục hậu quả phục hồi sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố; tập trung chỉ đạo khẩn trương hoàn thành công tác tu bổ, xử lý hư hỏng đê điều, hồ đập đảm bảo chất lượng, tiến độ quy định, kiểm tra, rà soát các tuyến đê, các công trình thủy lợi, hồ đập, phát hiện, đề xuất và xử lý kịp thời những sự cố; chỉ đạo kiểm tra rà soát vật tư, phương tiện dự trữ, có phương án mua bổ sung thay thế vật tư, phương tiện đã hết hạn sử dụng, hư hỏng. Kiểm tra, đôn đốc, phối hợp với UBND các quận, huyện, thị xã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Đê điều, Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình Thủy lợi. - Bộ Tư lệnh Thủ đô, cơ quan thường trực Ban chỉ đạo TKCN Thành phố xây dựng các phương án, tổ chức hiệp đồng huy động, bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng cứu các tình huống khẩn cấp về lũ, bão, úng ngập, thực hiện tìm kiếm, cứu nạn và tham gia cứu hộ đê, đập khi có sự cố xảy ra; chỉ đạo thực hiện việc ứng cứu và xử lý kịp thời các tình huống khẩn cấp và khắc phục hậu quả lũ, bão, úng ngập, thiên tai. - Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan thường trực Ban chỉ huy Cứu trợ và Đảm bảo đời sống nhân dân Thành phố xây dựng phương án, đề xuất chính sách, phối hợp với UBND các quận, huyện, thị xã kịp thời triển khai công tác cứu trợ, đảm bảo đời sống cho nhân dân ở những vùng bị thiên tai. Phối hợp với Sở Công thương và các sở, ngành liên quan chỉ đạo, tổ chức dự trữ lương thực, thuốc men, hàng hóa, vật tư thiết yếu, sẵn sàng chi viện, cứu trợ đảm bảo đời sống nhân dân các vùng bị ảnh hưởng của thiên tai, lụt, bão trên địa bàn Thành phố. - Sở Xây dựng lập phương án phòng, chống úng ngập nội thành; đảm bảo vệ sinh môi trường; phòng, chống cây đổ trên các đường phố; đảm bảo an toàn điện chiếu sáng công cộng, cung cấp nước sạch cho các vùng bị úng ngập trong nội thành; phối hợp với UBND các quận, huyện, các cơ quan, đơn vị quản lý nhà, công trình tiến hành kiểm tra, rà soát, thống kê các khu nhà ở tập thể, nhà chung cư cao tầng đã xuống cấp; các khu nhà ở ngoài đê, sát bờ sông, vùng trũng thấp không đảm bảo an toàn; các công trình đang xây dựng dở dang; lập phương án, triển khai việc phòng chống đổ, sập nhà, công trình; tổ chức sơ tán người, tài sản ra khỏi những khu vực không đảm bảo an toàn khi có lũ, bão, úng ngập. - Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí, Phát thanh - Truyền hình của Thành phố phối hợp với Ban chỉ huy PCLB Thành phố, Ban chỉ huy Cứu trợ và Đảm bảo đời sống nhân dân Thành phố, Ban chỉ đạo TKCN Thành phố và các cơ quan thông tin đại chúng của Trung ương thông báo thường xuyên về tình hình lũ, bão, úng ngập, thiên tai; tăng thời lượng tin bài, bổ sung đa dạng các hình thức tuyên truyền, phổ biến các biện pháp phòng chống thiên tai, công tác bảo vệ đê điều, phòng, chống lũ, bão, úng ngập của Thành phố; tình hình xử lý các vụ vi phạm Luật Đê điều, Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình Thủy lợi trên địa bàn Thành phố. 3. Ban chỉ huy PCLB Thành phố tham mưu giúp UBND Thành phố chỉ đạo có hiệu quả công tác phòng, chống lũ, bão úng ngập và giảm nhẹ thiên tai năm 2011; xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, phương án phòng, chống lũ, bão, úng ngập, khắc phục hậu quả thiên tai của Thành phố, kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành triển khai công tác phòng, chống lũ, bão, úng ngập, khắc phục hậu quả thiên tai; chỉ huy đối phó, xử lý kịp thời với mọi diễn biến của mưa, lũ, bão, úng ngập. 4. Ban chỉ đạo TKCN Thành phố xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, phương án tìm kiếm cứu nạn, sơ tán nhân dân; sẵn sàng triển khai công tác tìm kiếm cứu nạn; hỗ trợ các địa phương sơ tán nhân dân ra khỏi những vùng bị ảnh hưởng của lũ, bão, úng ngập, những vùng nguy hiểm (sạt lở đất, lũ rừng ngang…) 5. Ban chỉ huy Cứu trợ và Đảm bảo đời sống nhân dân Thành phố xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch cứu trợ của Thành phố, chuẩn bị sẵn sàng các phương án điều động, phân phối nguồn lực cứu trợ kịp thời đến nhân dân các vùng bị ảnh hưởng của lũ, bão, úng ngập; kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành triển khai công tác cứu trợ, đảm bảo đời sống nhân dân. 6. Khi có lũ, bão, úng ngập, thiên tai, Ban chỉ huy PCLB, Ban chỉ đạo TKCN, Ban chỉ huy Cứu trợ và Đảm bảo đời sống nhân dân; các cấp, các ngành tổ chức thường trực, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc triển khai công tác phòng, chống lũ, bão, úng ngập; chủ động huy động mọi nguồn lực trên địa bàn, của ngành; chỉ huy quyết liệt ứng phó với mọi tình huống lũ, bão, úng ngập xảy ra nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân. 7. UBND Thành phố đề nghị các cấp ủy Đảng, các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, đoàn thể quần chúng, các cơ quan đơn vị trên địa bàn Thành phố chỉ đạo, vận động cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, hội viên, đoàn viên và nhân dân tích cực tham gia làm tốt nhiệm vụ công tác phòng, chống lũ, bão, úng ngập, giảm nhẹ thiên tai của Thành phố năm 2011. UBND Thành phố giao Ban chỉ huy PCLB Thành phố tổ chức triển khai và kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành nghiêm túc thực hiện Chỉ thị này, thường xuyên báo cáo kết quả về UBND Thành phố. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ _____________ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 270/CT-TTg ______________________________ Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 2010 CHỈ THỊ Về việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng __________ Năm 2009 các địa phương đã tiếp tục chủ động thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện phương châm bốn tại chỗ, phát hiện và chữa cháy rừng kịp thời đã được triển khai thực hiện ngày càng có hiệu quả. Nhiều giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng đã được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị chủ rừng đã chủ động tổ chức thực hiện các biện pháp, phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; nhiều vụ cháy rừng đã được phát hiện sớm, chữa cháy kịp thời, do vậy không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng. Từ đầu năm 2010 đến nay do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ở nhiều địa phương đã diễn ra tình trạng khô hanh kéo dài; nhiệt độ không khí trung bình cao hơn nhiều năm gần đây, đang tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao. Đến nay, nhiều nơi đã xảy ra cháy rừng. Đặc biệt là vụ cháy rừng lớn đã xảy ra tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên tỉnh Lào Cai ngày 08 tháng 02 năm 2010. Trước tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, cụ thể: 1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:  a) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chức năng thực hiện tốt trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Nếu để xảy ra cháy rừng tại địa phương nào thì trách nhiệm trước hết thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; b) Chỉ đạo, tăng cường hoạt động có hiệu quả Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm của Ban chỉ huy trong suốt mùa khô; c) Tăng cường công tác tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng và các biện pháp kỹ thuật để phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng phong trào quần chúng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở các cộng đồng dân cư thôn, buôn nơi có rừng; d) Chỉ đạo các lực lượng Liên ngành (Kiểm lâm, Công an, Quân đội) rà soát quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng có thể xảy ra theo phương châm 4 tại chỗ; thường xuyên tổ chức cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong thời kỳ khô hạn; đ) Tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy, đặc biệt là khu vực trong rừng và gần rừng. Trong thời kỳ cao điểm khô hạn cần quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác ở những khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; hướng dẫn và quản lý chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy ở những vùng theo quy hoạch. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai những nhiệm vụ sau: a) Chỉ đạo, kiểm tra các địa phương thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trách nhiệm về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn; kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ; b) Chỉ đạo Cục Kiểm lâm thường xuyên nắm diễn biến tình hình về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo thực hiện chủ trương và các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng; theo dõi, tổ chức dự báo cháy rừng để thông tin kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên Website của Cục Kiểm lâm để dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên phạm vi cả nước; c) Phối hợp với các lực lượng Liên ngành (Công an, Quân đội) rà soát quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng lớn có thể xảy ra; d) Biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời xử lý nghiêm minh theo pháp luật đối với các hành vi để xảy ra cháy rừng. 3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền các cấp tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện để hỗ trợ các địa phương trong việc chữa cháy rừng. 4. Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam có trách nhiệm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng; kịp thời đưa thông tin về cảnh báo và dự báo cháy rừng trong thời kỳ cao điểm. 5. Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính đảm bảo kinh phí cho các ngành và địa phương tổ chức thực hiện Chỉ thị này. 6. Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Quốc phòng, Công an, Lao động - Thương binh và Xã hội theo chức năng của mình có kế hoạch triển khai, chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nội dung Chỉ thị này./. Nơi nhận: - Cục HCQT II KT. THỦ TƯỚNG PHÓ THỦ TƯỚNG (Đã ký) Hoàng Trung Hải ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG _____ Số: 05/2010/CT-UBND CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ______________ Long Xuyên, ngày 10 tháng 02  năm 2010 CHỈ THỊ Về việc tăng cường đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh An Giang trong năm 2010 và những năm tiếp theo ___________  Trong thời gian qua các Sở, Ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế tai nạn giao thông, đặc biệt thực hiện nghiêm Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh đã có diễn biến khá tốt, bước đầu đã kiềm chế được tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Trong năm 2009 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 127 vụ tai nạn giao thông, làm chết 138 người, bị thương 63 người, so cùng kỳ năm 2008 giảm 16 vụ (- 11,18%), giảm 10 người chết (- 6,75%), tăng 23 người bị thương (+ 57,5%). Tuy nhiên, kết quả đạt được còn chưa vững chắc và chưa đồng đều, vẫn còn nhiều mặt hạn chế như: còn nhiều tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng nhất là tai nạn giao thông liên quan đến xe ôtô chở khách; tình trạng trẻ em ngồi trên xe môtô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm có chiều hướng gia tăng; công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông ở từng lúc, từng nơi chưa thực sự mạnh; việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, công tác triển khai thi công và sửa chữa cầu đường còn chậm và kéo dài, đó cũng là nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Năm 2010 là năm tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đồng thời cũng là năm diễn ra nhiều lễ hội lớn của đất nước như: Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 35 năm ngày Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, 65 năm Cách mạng tháng 8 - Quốc khánh 2/9. Để phát huy những mặt đã đạt được trong năm 2009 và khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, trên cơ sở tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ và triển khai thực hiện Kế hoạch số 01/UBATGTQG-KH ngày 04/01/2010 của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về bảo đảm trật tự an toàn giao thông tết Nguyên đán và Lễ hội xuân Canh Dần năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ thị: 1. Chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố a. Tổ chức đánh giá, kiểm điểm công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở địa phương theo tinh thần Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 24/02/2003 của Ban Bí thư TW Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ về các giải pháp tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông và Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 20/8/2007 của Tỉnh ủy An Giang về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đánh giá, kiểm điểm Ủy ban nhân dân cấp huyện cần đề ra kế hoạch, giải pháp, biện pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. b. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nâng cao vai trò, trách nhiệm trong tổ chức, thực hiện các biện pháp, giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông nhất là việc bảo vệ hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường thủy nội địa; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao thông nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân khi tham gia giao thông; giám sát chặt chẽ, duy trì thường xuyên việc tổ chức thực hiện các giải pháp, biện pháp thực hiện đảm bảo trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị tại địa phương. c. Kịp thời điều tiết nguồn kinh phí hợp lý hỗ trợ cho lực lượng tuần tra, kiểm soát của các xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý nhà nước về đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn. 2. Công an tỉnh a. Tập trung xử lý nghiêm các hành vi: vi phạm tốc độ; đi không đúng phần đường; vi phạm quy định về sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông; chú trọng phát hiện, xử lý các trường hợp không đội mũ bảo hiểm cho trẻ em theo quy định. Đặc biệt áp dụng xử phạt thông qua hình ảnh vi phạm, xử lý vi phạm phải xử lý công khai, đúng pháp luật, đúng người vi phạm, không phân biệt người điều khiển phương tiện cơ giới hay thô sơ hoặc đi bộ. b. Thường xuyên tuần tra, kiểm soát và xử lý các vi phạm trên các tuyến đường thủy nội địa, kiên quyết đình chỉ hoạt động các bến khách ngang sông, phương tiện thủy không đủ tiêu chuẩn an toàn, thiếu trang bị phao cứu sinh theo quy định. c. Tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác phân luồng giao thông trên địa bàn tỉnh. 3. Sở Giao thông vận tải a. Chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Văn phòng thường trực Ban an toàn giao thông tỉnh, Chi Cục Đăng kiểm An Giang, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh triển khai ngay việc thực hiện công tác quản lý, đăng ký, đăng kiểm phương tiện thủy nội địa và các bến đò, bến khách ngang sông. Phải coi đây là công tác trọng tâm trong năm 2010 trên lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh. b. Tăng cường công tác duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng các đoạn đường bị sạt, lún, sửa chữa mặt sàn cầu và bổ sung, điều chỉnh kịp thời hệ thống cọc tiêu, biển báo đường bộ trên các tuyến tỉnh lộ đảm bảo giao thông luôn thông suốt, an toàn. c. Chỉ đạo lực lượng Thanh tra giao thông tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Pháp lệnh bảo vệ công trình đường bộ như: điều khiển xe quá tải trọng của cầu đường, đào ao nuôi cá, xây dựng các công trình trong hành lang an toàn đường bộ, đường thủy; vi phạm trật tự an toàn giao thông như: họp chợ trên cầu, trên đường, đỗ xe trái phép; vi phạm trật tự vận tải như: xe chở khách quần đảo đón khách, trả khách không đúng nơi quy định, điểm đỗ xe trái phép, đình chỉ ngay hoạt động của các phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật, người điều khiển phương tiện không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn và các bến khách ngang sông không giấy phép mở bến theo quy định. d. Tiếp tục thực hiện đồng bộ Kế hoạch 01 và 02 của Ban chỉ đạo liên ngành thực hiện Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ V/v phê duyệt kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh An Giang. e. Tiếp tục chấn chỉnh công tác đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe, bằng thuyền trưởng, chứng chỉ chuyên môn và công tác kiểm định an toàn kỹ thuật của phương tiện theo hướng nâng cao về chất lượng. 4. Sở Giáo dục và Đào tạo a. Chỉ đạo các trường có biện pháp hữu hiệu trong việc giáo dục, quản lý học sinh, sinh viên chấp hành pháp Luật về Giao thông đường bộ, đường thủy nội địa. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông tại các điểm trường trong giờ cao điểm. b. Vận động học sinh, sinh viên sử dụng phương tiện giao thông công cộng (xe buýt), không để học sinh chưa đủ tuổi sử dụng xe gắn máy đi học. 5. Sở Thông tin và truyền thông, Đài Phát thanh truyền hình An Giang, Báo An Giang a. Tổ chức tuyên truyền các quy định pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đến từng người dân, từng cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên khi tham gia giao thông nhằm nâng cao ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông. b. Phải tạo được dư luận xã hội lên án mạnh mẽ đối với các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, tác động đến từng gia đình, từng người kịp thời đưa tin điển hình, tiên tiến và phê phán, phê bình những mặt chưa tốt việc chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông để động viên, rút kinh nghiệm chung. 6. Đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Liên đoàn lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh các cấp phát huy vai trò của tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên gương mẫu và vận động các tầng lớp nhân dân tham gia giữ gìn trật tự giao thông và xây dựng văn hóa giao thông. Thông qua hoạt động của tổ chức mình xây dựng các mô hình tổ chức tự quản trật tự đô thị, trật tự an toàn giao thông ở các địa bàn dân cư. 7. Ban An toàn giao thông tỉnh a. Khẩn trương triển khai thực hiện các kế hoạch, giải pháp và chỉ đạo của Chính phủ, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Nhất là 10 nhiệm vụ trọng tâm kéo giảm tai nạn giao thông trong năm 2010 của Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đã đề ra tại Hội nghị Tổng kết công tác bảo trật tự an toàn giao thông toàn quốc ngày 12/01/2010 tại Hà Nội. b. Là đầu mối phối hợp các hoạt động liên ngành trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật an toàn giao thông và công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên trên địa bàn tỉnh. b. Chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Ban An toàn giao thông huyện, thị xã, thành phố nhân rộng mô hình xã, thị trấn “Tự quản về an toàn giao thông” trên địa bàn toàn tỉnh. c. Chủ trì phối hợp với Công an tỉnh, Đài Phát thanh truyền hình tỉnh và Báo An Giang tổ chức thực hiện chuyên mục, chuyên trang về an toàn giao thông với nội dung phong phú, kịp thời thông tin tình hình trật tự an toàn giao thông, thường xuyên nêu gương người tốt, việc tốt cũng như đưa tin phê phán những cá nhân, tổ chức, đơn vị trong việc chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông. d. Chủ trì phối hợp với Công an tỉnh xây dựng các panô về nội dung mức xử phạt vi phạm trật tự an toàn giao thông trên tuyến quốc lộ, đường tỉnh và tại các chốt đèn tín hiệu điều khiển giao thông trên địa bàn. e. Chủ trì phối hợp với Sở Giao thông vận tải có kế hoạch sửa chữa và bổ sung gắn mới các biển báo hiệu đường bộ và khảo sát các vị trí điểm đen về an toàn giao thông để có kế hoạch khắc phục. 8. Chỉ thị này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Chỉ thị số 09/2007/CT-UBND ngày 20/4/2007và Chỉ thị 07/2009/UBND ngày 07/8/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh An Giang. Giao Văn phòng Thường trực Ban An toàn giao thông tỉnh có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả thực hiện và những khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, kịp thời kiến nghị các biện pháp xử lý để Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện./. Nơi nhận: - Thủ tướng Chính phủ (b/c); - VPCP, UBATGTQG (b/c); - TT.Tỉnh ủy, TT.HĐND tỉnh (b/c); - Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp; - Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh; - Thành viên Ban ATGT tỉnh; - CT UBND huyện, thị, thành phố; - Công an tỉnh; - Sở Giao thông vận tải; - Website Chính phủ; - Trung tâm Công báo tỉnh; - Lưu: VT, KT.                                                                                  TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH CHỦ TỊCH (đã ký)  Lâm Minh Chiếu ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG ------------- Số: 04/CT-CT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc – Tự do – Hạnh Phúc -------------------- Bắc Giang , ngày 10 tháng 4 năm 2000 CHỈ THỊ CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH V/v: Tăng cường thực hiện mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 08/1999/CT-TTg ngày 15/4/1999 về việc "Tăng cường công tác bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm" và Quyết định số 228/1999/QĐ-TTg ngày 15/12/1999 "Về việc bổ sung mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình mục tiêu quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm" từ năm 2000. Ở tỉnh ta công tác quản lý bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đã có những cố gắng bước đầu. Tuy nhiên, còn nhiều mặt bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế: Nhiều mặt hàng thực phẩm không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh nhưng vẫn lưu thông rộng rãi, phổ biến trên thị trường, những vụ ngộ độc thức ăn vẫn xảy ra, gây thiệt hại lớn đến sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng...Nguyên nhân của tình trạng trên là do công tác quản lý chất lượng, vệ snh an toan thực phẩm chưa chặt chẽ; các cấp, các ngành chưa quan tâm đúng mức; nhận thức và ý thức của nhân dân về vấn đề này chưa cao, chưa thành thói quen vệ sinh, khoa học. Thực hiện Chỉ thị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm tăng cường công tác quản lý, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ thị: 1- Công tác bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm được đưa vào quản lý, điều hành theo quy định của chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm bắt đầu từ năm 2000. 2- Hàng năm tổ chức "Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm" để huy động nhân dân, các cấp chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn toàn tỉnh tích cực tham gia vào việc phòng chống ngộ độc thức ăn, bệnh dịch do ăn uống và tăng cường công tác quản lý trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thực phảm, dịch vụ ăn uống. Thời điểm tổ chức "Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm" theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Riêng năm 2000 "Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm" Bắt đầu từ 15/4 đến 15/5/2000, thống nhất với chiến dịch toàn quốc. 3- Chủ tịch UBND các huyện, thị xã có trách nhiệm thường xuyên chỉ đạo thực hiện các việc sau: - Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm tới từng cơ sở và cá nhân sản xuất, buôn bán thực phẩm và kinh doanh ăn uống tại địa phương. Huy động các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức tuyên truyền thích hợp để giáo dục, hướng dẫn nhân dân về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc và các bệnh dịch do ăn uống gây ra. - Chỉ đạo ngành Y tế chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra điều kiện đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm và kinh doanh dịch vụ ăn uống. xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về lĩnh vực này. - Huy động các lực lượng của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội, đoàn thể nhân dân tham gia các hoạt động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương với phương châm xã hội hóa các hoạt động này, đồng thời tạo điều kiện để người tiêu dùng phát huy tinh thần tự bảo vệ mình và gia đình, tham gia với các cơ quan y tế phát hiện và đấu tranh kịp thời các vi phạm về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. 4- Ngành Y tế: Chủ trì, phối hợp với các ngành, các địa phương trong các hoạt động: - Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm cho mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. - Triển khai thực hiện và duy trì các kết quả hoạt động cảu tháng hành động vi chất lượng, vệ sinh an toan thực phẩm. - Tổ chức tuyên truyền, giáo dục về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. Chỉ đạo thanh tra y tế phối hợp với các cơ quan quản lý của các ban, ngành có liên quan và TTYTDP tỉnh triển khai việc kiểm tra thanh tra chuyên ngành về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của luật pháp. - Chủ trì việc tổng kết đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện lên UBND tỉnh. 5- Các ngành Công an, Thương mại, KHCN &MT, NN&PTNT có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế làm tốt công tác quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. 6- Sở TC -VG và Sở KH & ĐT: Hàng năm chỉ đạo các ngành, các địa phương lập kế hoạch hoạt động và đảm bảo kinh phs cho chương trình mục tiêu này. 7- Các ngành Văn hóa - Thông tin, GD&ĐT, Đài PTTH, Báo Bắc Giang và các ban ngành khác có trách nhiệm phối hợp tốt với ngành Y tế trong việc triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục cho mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm. * Đề nghị các cơ quan của Đảng, mặt trận và các đoàn thể nhân đan chủ động phối hợp với ngành Y tế để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt kế hoạch và tháng hành động "Vì chất lượng, VSATTP". Chỉ thị này được phổ biến tới cơ sở. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch UBND các huyện, thị có trách nhiệm xây dựng kế hoạch của ngành, địa phương mình, tổ chức thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là "tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm", tổng hợp kết quả báo cáo UBND tỉnh; thường xuyên duy trì công tác quản lý, đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm thành nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong toàn tỉnh. K/T CHỦ TỊCH UBND TỈNH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Thân Văn Mưu UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 04/2008/CT-UBND CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đồng Hới, ngày 13 tháng 10 năm 2008 CHỈ THỊ Về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Trong những năm qua, cùng với những kết quả đạt được về kinh tế - xã hội, tỉnh đã từng bước thực hiện có hiệu quả Chương trình xoá đói giảm nghèo. Chương trình xoá đói giảm nghèo trở thành nội dung quan trọng trong kế hoạch hàng năm của các cấp các ngành; đã khơi dậy phong trào quần chúng nhân dân, huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra. Nhờ vậy, các chỉ tiêu về xoá đói giảm nghèo đều đạt và vượt kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ hộ nghèo từ 32,49% đầu năm 2006 xuống còn 22,74% cuối năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008 giảm còn 20,88%, phấn đấu cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm xuống 19%. Ngoài ra, đã xây dựng thêm nhiều công trình hạ tầng cơ sở, chuẩn bị các tiền đề cần thiết, đúc rút được nhiều kinh nghiệm, cách làm hay cho Chương trình xoá đói giảm nghèo trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, việc thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế nhất định. Một số ban, ngành, địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa nắm chắc tình hình, thực trạng đói nghèo chưa có chương trình, kế hoạch và biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện Chương trình có hiệu quả; kết quả xoá đói giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo hàng năm còn cao, thu nhập của người dân còn rất thấp, khá đông hộ nông dân có mức thu nhập, bình quân đầu người gần sát chuẩn nghèo. Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng, miền, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn mang nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại, sức ỳ còn lớn. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế kết quả giảm nghèo thời gian qua. Mặt khác, do điều kiện lịch sử và tác động của các yếu tố khách quan nên số hộ nghèo ở tỉnh ta còn khá lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao so với bình quân chung cả nước, đến cuối năm 2007 còn 4/7 huyện, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo trên 25%, trong đó có huyện Minh Hoá trên 50%. Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp giảm nghèo, phấn đấu hoàn thành trước thời gian mục tiêu về tỷ lệ hộ nghèo theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra .Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện tốt các nội dung sau đây: 1. Các ngành, các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức hơn nữa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo; xác định xoá đói giảm nghèo là một cuộc cách mạng; là nhiệm vụ hàng đầu của các ngành, các cấp. Phát huy tính chủ động sáng tạo, tự lực, tự cường, tự vươn lên thoát nghèo của chính các hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo, khuyến khích ý chí quyết tâm vượt nghèo của mọi người dân. Đẩy mạnh phong trào xã hội hoá Chương trình xoá đói giảm nghèo, phát huy sức mạnh tổng hợp, đa dạng hoá các nguồn lực để xoá đói giảm nghèo. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng nghèo, xã nghèo và nhận người nghèo vào làm việc; gắn dạy nghề với tạo việc làm trong nước hoặc xuất khẩu lao động cho người nghèo. 2. Không ngừng củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo Chương trình xoá đói giảm nghèo các cấp, đi đôi với việc xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với từng địa phương, cơ sở. Đặc biệt, các ngành, các cấp phải nắm chắc thực trạng, nguyên nhân đói nghèo cụ thể để có biện pháp thực hiện các chỉ tiêu xoá đói giảm nghèo trong từng thời kỳ. 3. Tăng cường và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo ở cấp xã, huyện, đặc biệt các xã nghèo, xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Xác định trách nhiệm cụ thể của từng ngành, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện đối với một xã nghèo, cử cán bộ về địa bàn giúp địa phương và nhân dân tổ chức tốt công tác này. Gắn thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo với thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp lý cho người nghèo tại cơ sở, đặc biệt các xã vùng sâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn, đảm bảo người nghèo khi có nhu cầu đều được trợ giúp pháp lý miễn phí. 4. Các ngành, các cấp tổ chức thực hiện tốt việc lồng ghép Chương trình xoá đói giảm nghèo với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đơn vị để thực hiện xóa đói giảm nghèo bền vững. Gắn kết Chương trình xoá đói giảm nghèo với Chương trình 135 giai đoạn II, ưu tiên trong việc bố trí nguồn lực, cấp vốn đảm bảo tiến độ, đưa công trình vào sử dụng đúng kế hoạch, không để dàn trải, kéo dài dẫn đến hiệu quả thấp; tham mưu Uỷ ban nhân dân ban hành và thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách giúp cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội, dịch vụ sản xuất kinh doanh như y tế, giáo dục, nước sinh hoạt, nhà ở, đất ở, hạ tầng phục vụ dân sinh, vay vốn ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý từng bước thu hẹp chênh lệch trong việc hưởng thụ dịch vụ công và phúc lợi xã hội, trong thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn, miền núi và đồng bằng. 5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và định kỳ sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, chương trình xoá đói giảm nghèo; các địa phương, cơ sở có cơ chế tạo điều kiện để các tổ chức đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện Chương trình. Địa phương, đơn vị nào để xảy ra hiện tượng tiêu cực thất thoát lãng phí trong quản lý và sử dụng vốn của Chương trình, không hoàn thành kế hoạch được giao thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó phải chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh. Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tiến hành sơ kết Chương trình xoá đói giảm nghèo giữa giai đoạn 2006-2010 để đánh giá, rút kinh nghiệm, nhân điển hình và triển khai chỉ đạo công tác xoá đói giảm nghèo một cách tập trung, đồng bộ và cụ thể cho thời gian tiếp theo. Các ngành, các cấp, các tổ chức, đơn vị trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể để triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình xoá đói giảm nghèo. Yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này. Giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo thực hiện các chương trình giảm nghèo của tỉnh giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh theo dõi, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh./. Nơi nhận: - Văn phòng Chính phủ; - Bộ Lao động - TBXH; - Cục kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp); - Thường vụ Tỉnh ủy; - Thường trực HĐND tỉnh; - Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh; - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; - Ủy ban MTTQ VN tỉnh; - Các sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh; - Báo Quảng Bình, Đài PT-TH QB; - Sở Tư pháp; - UBND các huyện, thành phố; - Trung tâm Công báo tỉnh; - Lưu VT, NCVX. TM. UỶ BAN NHÂN DÂN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Trần Công Thuật UỶ BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÀ Số: 05/2008/CT-UBND CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc Ðông Hà, ngày 12 tháng 5 năm 2008 CHỈ THỊ Về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thực hiện nếp sống văn hóa - văn minh đô thị và tăng cường biện pháp xử lý các hành vi vi phạm trên địa bàn thị xã Đông Hà Sau 35 năm kể từ ngày thành lập (15/8/1973-15/8/2008), nhất là từ khi trở thành đô thị loại III, thị xã Đông Hà đã không ngừng vươn lên và đạt được nhiều thành tựu to lớn về chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Với việc tập trung đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, chú trọng công tác chỉnh trang đô thị, đã tạo cho thị xã một diện mạo mới, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự, phòng, chống tội phạm, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường đã được triển khai sâu rộng trong quần chúng nhân dân, góp phần xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh đô thị gắn liền với việc chấp hành pháp luật và các quy định ở cộng đồng dân cư, đơn vị và địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì vấn đề thực hiện nếp sống văn minh đô thị vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là còn một bộ phận không nhỏ dân cư, cán bộ công chức chưa có ý thức chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, Quy chế, Quy ước của cộng đồng, của công sở về giữ gìn vệ sinh môi trường, đường phố và nơi công cộng, thiếu ý thức bảo vệ tài sản công, hành vi ứng xử, giao tiếp chưa phù hợp với nếp sống văn hóa - văn minh đô thị. Để tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá, phát huy những kết quả đã đạt được, tạo ra những chuyển biến tích cực, rõ nét trong xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh đô thị của mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn xây dựng thị xã trở thành Thành phố văn minh giàu đẹp, Uỷ ban nhân dân thị xã Đông Hà chỉ thị: 1. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các phường, các tổ chức và cá nhân trên địa bàn thị xã tập trung thực hiện tốt các hành vi ứng xử văn hoá-văn minh và chống các hành vi thiếu văn hoá, vi phạm nếp sống văn hoá-văn minh đô thị; tạo dựng ý thức tự giác thực hiện và tôn trọng nếp sống văn hoá văn minh, tôn trọng pháp luật, Quy định, Quy chế của cơ quan, đơn vị và Quy ước của cộng đồng trong cán bộ, công chức viên chức và nhân dân trên địa bàn thị xã. 2. Nội dung chủ yếu để xây dựng nếp sống văn hóa-văn minh đô thị cho mỗi người, cho mỗi cộng đồng dân cư là: - Có trách nhiệm với cộng đồng, có tinh thần đoàn kết tôn trọng và giúp đỡ mọi người; tôn trọng lợi ích của người khác và của cộng đồng, biết gìn giữ, phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. - Thực hiện hôn nhân đúng luật, sống hạnh phúc; tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội đúng quy định, không xa hoa, lãng phí; chống mê tín dị đoan; - Có lối sống lành mạnh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, thủy chung; thái độ cần kiệm, khiêm tốn, thường xuyên học tập rèn luyện về mọi mặt để không ngừng nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có ý thức bảo vệ giữ gìn môi trường cảnh quan đô thị; có tinh thần cảnh giác, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội; - Thực hiện hành vi giao tiếp, ứng xử hoà nhã, lịch sự, chân tình cởi mở. 3. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị của thị xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các phường căn cứ chức năng và nhiệm vụ của mình, triển khai thực hiện tốt các nội dung sau: - Xây dựng các Nội quy, Quy định về nếp sống văn hoá-văn minh phù hợp với từng cơ quan, đơn vị, đồng thời tổ chức triển khai thực hiện các nội dung xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh trong cơ quan, đơn vị mình, trong đó tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước của Chính phủ ban hành theo Quyết định sô 129/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. - Tổ chức tuyên truyền, vận động mọi tổ chức, cá nhân có ý thức chấp hành giữ gìn nếp sống văn minh đô thị như: Không rải giấy vàng mã, tiền âm phủ, các lễ vật cúng trên đường; không đặt am miếu thờ và các vật thờ cúng ở nơi công cộng, tại các vườn hoa, công viên, các điểm di tích văn hoá - lịch sử, hè phố; không treo, đặt để các vật dụng, phơi áo quần, chăn màn… nơi công cộng, phía mặt tiền đường phố làm mất mỹ quan đô thị; các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải trang bị đầy đủ phương tiện thu gom xử lý rác thải theo quy định; giữ gìn vệ sinh môi trường ở các khu vực dân cư. - Cán bộ, công chức phải gương mẫu chấp hành và vận động giáo dục gia đình nhân dân chấp hành các quy định về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, khu phố, đơn vị văn hoá; Không tham gia đánh bạc, cá cược trái quy định của pháp luật, tổ chức, tham gia lô, đề dưới mọi hình thức. Không tham gia hụi, cho vay nặng lãi; sử dụng chất ma tuý; uống rượu, bia đến mức bê tha, mất tư cách (gây tai nạn giao thông, mất trật tự công cộng, phát ngôn bừa bãi hoặc có hành vi ứng xử thiếu văn hoá); không sử dụng các loại văn hóa phẩm đồi trụy. - Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thị xã, Công an thị xã tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm liên quan đến nếp sống văn hoá - văn minh đô thị được quy định tại các Nghị định của Chính phủ, tập trung ở các lĩnh vực hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá, việc tang, việc cưới và lễ hội, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ tài sản công cộng, an toàn vệ sinh thực phẩm. 4. Phòng Văn hoá-Thông tin và Thể thao thị xã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nếp sống văn hoá-văn minh đô thị trên địa bàn thị xã Đông Hà; chủ trì biên soạn tài liệu tổng hợp các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến nếp sống văn hoá-văn minh đô thị đã được quy định Nghị định của Chính phủ gửi cho các phòng, ban, ngành, UBND các phường để phổ biến quán triệt cho toàn thể cán bộ công chức và nhân dân trên địa bàn biết để thực hiện. Nghiên cứu bổ sung nội dung thực hiện nếp sống văn hoá -văn minh đô thị vào tiêu chí xét công nhận gia đình văn hóa, phường văn hóa, khu phố, đơn vị văn hóa. 5. Phòng Y tế thị xã phối hợp với các cơ quan chức năng thị xã tập trung triển khai, hướng dẫn, vận động và kiểm tra các cơ sở ăn uống, nhà hàng kinh doanh theo đúng quy định, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; nhất là thức ăn đường phố. Kiểm soát tình hình xử lý rác thải y tế trong các cơ sở y tế trên địa bàn thị xã theo đúng quy trình. 6. Phòng Công nghiệp-Thương mại và Du lịch thị xã tập trung triển khai thực hiện xây dựng nếp sống văn hoá trong giao tiếp ứng xử văn minh thương mại trong các cơ sở kinh doanh bán lẻ, hệ thống siêu thị và các chợ trên địa bàn thị xã, kiểm tra chấn chỉnh các hộ tiểu thương trên địa bàn bán hàng không đảm bảo chất lượng, công khai niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết, xây dựng thực hiện các tiêu chí văn hoá kinh doanh trong hệ thống các chợ, dịch vụ thương mại trên địa bàn thị xã. 7. Phòng Giáo dục -Đào tạo thị xã tập trung triển khai thực hiện xây dựng nếp sống văn hoá văn minh đô thị trong ngành giáo dục thị xã. Chú trọng việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống cho giáo viên và học sinh, bổ sung nội dung xây dựng nếp sống văn hoá- văn minh trong môn giáo dục đạo đức công dân, các tiết học ngoại khoá của các trường. Tiếp tục xây dựng và phát huy phong trào xây dựng đơn vị văn hoá, nhà trường có đời sống văn hoá tốt, phong trào nghìn việc tốt, 5 điều Bác Hồ dạy. 8. Trung tâm Văn hoá thông tin Đông Hà xây dựng kế hoạch tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh bằng hệ thống panô áp phích, lồng ghép nội dung xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh đô thị thông qua các chương trình thông tin cổ động, văn hóa văn nghệ quần chúng đến toàn thể cán bộ, nhân dân sinh sống trên địa bàn thị xã; lựa chọn và tập trung tuyên truyền về một số hành vi mà người dân cần thực hiện ngay nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét trong việc thực hiện nếp sống văn hoá - văn minh đô thị trên địa bàn. 9. Công an thị xã Đông Hà chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai quán triệt và thực hiện tốt Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông, đấu tranh, phòng chống ma tuý, bài trừ các loại tệ nạn xã hội. 10. Hội đồng giáo dục và phổ biến pháp luật phối hợp với Văn phòng HĐND&UBND, Phòng Tư pháp thị xã và các ngành liên quan có trách nhiệm tăng cường triển khai phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan đến việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị, an ninh trật tự, bảo vệ môi trường đến mọi người dân trên địa bàn thị xã. 11. Đài Truyền thanh Đông Hà và trạm truyền thanh FM các phường duy trì thường xuyên công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao ý thức chấp hành các quy định về thực hiện nếp sống văn hoá - văn minh đô thị; kịp thời có các tin, bài, phóng sự phản ánh gương người tốt, việc tốt; đấu tranh, phê phán các hành vi vi phạm nếp sống văn hoá - văn minh đô thị. 12. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các phường có nhiệm vụ triển khai thực hiện tốt Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội nhất là các nội dung ở các điều 7, 9, 10 của Nghị định. Phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường tổ chức kiểm tra, rà soát việc xây dựng và thực hiện quy ước văn hoá ở các khu phố; chỉ đạo các khu phố lồng ghép thực hiện nếp sống văn hoá-văn minh đô thị trên địa bàn khu phố với việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. 13. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã, các tổ chức đoàn thể của thị xã phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác truyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên của mình thực hiện nghiêm túc các quy định về nếp sống văn hoá - văn minh đô thị và nội dung Chỉ thị này. 14. Đề nghị Liên đoàn Lao động thị xã phối hợp với các ngành chức năng phát động rộng rãi trong công nhân viên chức lao động thực hiện nếp sống văn minh đô thị và Quy chế văn hóa nơi công sở ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn thị xã. 15. Đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng của Trung ương, của tỉnh đóng trên địa bàn thị xã tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến về thực hiện nếp sống văn hoá - văn minh đô thị ở thị xã Đông Hà. 16. Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng thị xã theo dõi, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp và các địa phương đề xuất khen thưởng kịp thời để động viên những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh đô thị. Chỉ thị này có hiệu lực sau 07 ngày kể từ ngày ký. Yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các phường triển khai thực hiện một cách nghiêm túc Chỉ thị này; định kỳ hàng quý, sáu tháng, năm phản ảnh tình hình và báo cáo kết quả thực hiện với Uỷ ban nhân dân thị xã (Thông qua Phòng Văn hoá- Thông tin thị xã Đông Hà)./. Nơi nhận: - UBND tỉnh (BC); - Sở Tư pháp (BC); - TT Thị uỷ, TT HĐND (BC); - CT, các PCT UBND, UBMT thị xã; - Các phòng ban ngành, thị xã; - UBND các phường; - Lưu: VT. TM. UỶ BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH (Đã ký) Nguyễn Văn Hùng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐề cương ôn tập môn Xây dựng văn bản pháp luật k34 đại học Luật Hà Nội.doc