Công tác tổ chức của chi bộ, Đảng bộ cơ sở

Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng. Đó luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong mọi giai đoạn lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Cho nên Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên mà trước hết là cơ quan lãnh đạo và người phụ trách phải chăm lo đến sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổ chức. Đối với các chi bộ, đảng bộ cơ sở để làm tốt công tác tổ chức cần phải nắm vững và thực hiện tốt bốn nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng. Thứ hai, phải làm tốt công tác đảng viên. Thứ ba, phải làm tốt công tác cán bộ. Thứ tư, phải làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tất cả các đồng chí đảng viên của mỗi chi bộ, đảng bộ cơ sở đều có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia thực hiện tốt bốn nội dung nêu trên. Tuy nhiên, trách nhiệm cao nhất thuộc về cá nhân đồng chí đứng đầu của mỗi cấp ủy cơ sở. Câu hỏi: Câu 1: Công tác tổ chức của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung cơ bản nào? Câu 2: Nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện như thế nào trong tổ chức và sinh hoạt đảng ở chi bộ? Liên hệ thực tế. Câu 3. Cần làm gì để làm tốt công tác đảng viên? Liên hệ thực tế

doc15 trang | Chia sẻ: tuanhd28 | Ngày: 06/10/2015 | Lượt xem: 9097 | Lượt tải: 41download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Công tác tổ chức của chi bộ, Đảng bộ cơ sở, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIÁO ÁN THAO GIẢNG Thực hiện tại: Tên bài giảng: Trung tâm BDCT huyện Hà Trung CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Số tiết: 04 tiết Ngày: 17/5/2013 A – KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG 1- Mục đích, yêu cầu: Trang bị cho học viên nắm vững những kiến thức cơ bản về vị trí, vai trò và những nội dung cơ bản của công tác tổ chức ở chi bộ, đảng bộ cơ sở. Trên cơ sở đó, các đồng chí học viên vận dụng những kiến thức nắm được áp dụng vào công tác xây dựng, phát triển Đảng ở địa phương, đơn vị công tác. 2. Nội dung bài giảng: Bài giảng gồm có 2 phần chính: I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ II. MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ 3- Trọng tâm, trọng điểm: Trọng tâm, trọng điểm của bài là phần II. MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ 4- Phương pháp: Đối với giảng viên: Giảng viên truyền đạt từng phần theo đề cương quy định. Những nội dung trọng tâm, cần thiết sẽ nhấn mạnh để các học viên ghi chép. Những nội dung mở rộng, liên hệ thực tế nói nhanh để tham khảo. Đồng thời kết hợp phương pháp phát vấn, đối thoại với học viên. Đối với học viên: Ghi chép những phần giảng viên nói chậm và phần trọng tâm, trọng điểm của bài. 5- Thời gian lên lớp: 04 tiết – 180 phút - Đặt vấn đề, nêu mục đích, yêu cầu bài giảng: 10 phút - Phần I: 60 phút - Phần II: 100 phút - Kết luận: 10 phút 6- Tài liệu tham khảo: Tài liệu bồi dưỡng Bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI. Tài liệu bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ B - NỘI DUNG BÀI GIẢNG: NỘI DUNG CHÍNH KIẾN THỨC MỞ RỘNG I- VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ (60 phút) 1. Tổ chức và công tác tổ chức - Tổ chức là sự liên kết con người với con người, theo những nguyên tắc, chế độ, điều lệ quy định nhất định, nhằm thống nhất về hành động, đạt mục đích do tổ chức đó đề ra. Tổ chức có vai trò quan trọng, cho nên trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác tổ chức và xây dựng các tổ chức cách mạng ngày càng vững mạnh. - Công tác tổ chức của Đảng là sự xây dựng, kiện toàn các mối quan hệ trong tổ chức đảng (từ cơ sở đến toàn Đảng), hình thành hệ thống tổ chức, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, có tỉnh ổn định và bền vững. Tổ chức đều do con người lập ra, là sự liên kết giữa con người với con người, giữa bộ phận này với bộ phận kia, nhằm phát huy khả năng, sức mạnh của từng cá nhân và các bộ phận riêng lẻ thành sức mạnh tổng hợp của tập thể. Mọi thành viên và từng bộ phận trong một tổ chức đều hoạt động thống nhất theo một nguyên tắc, chế độ, quy định nhất định. (Điều lệ, quy định ) Tổ chức là một chỉnh thể, trong đó các bộ phận, các hệ thống hoạt động trong quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, cùng phát triển. Có nhiều loại hình về tổ chức khác nhau: Các tổ chức tinh tế, tổ chức văn hoá, tổ chức quân sự, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức Đảng... Bao gồm: - Những quy định; - Những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động. Bắt buộc tất cả các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng đều phải chấp hành để tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, bảo đảm vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng 2. Vị trí, vai trò của công tác tổ chức - Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng. - Công tác tổ chức luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết Bằng công tác tổ chức, Đảng tiến hành quản lý, sắp xếp, phân công lực lượng một cách khoa học, phối hợp một cách đồng bộ, nhịp nhàng hoạt động của các đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng, thiết lập những mối quan hệ đúng đắn, phù hợp, gắn bó giữa cấp trên và cấp dưới, giữa đảng viên với tổ chức đảng, giữa các tổ chức đảng và giữa các tổ chức đảng với các tổ chức khác trong xã hội. Công tác tổ chức được tiến hành một cách khoa học là điều kiện quyết định việc thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng; góp phần tăng cường kỷ luật trong Đảng, làm cho Đảng đoàn kết thống nhất, giữ gìn nội bộ Đảng luôn trong sạch, vững mạnh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại, chia rẽ của các thế lực thù địch, cơ hội. Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên mà trước hết là cơ quan lãnh đạo và người phụ trách phải chăm lo đến sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổ chức. II- MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ (100 phút) 1. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng a) Về quy chế làm việc của tổ chức đảng Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng được thể hiện ở việc tổ chức đảng phải xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc. b) Chế độ tự phê bình và phê bình Chế độ tự phê bình và phê bình là nguyên tắc được thực hiện thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Để thực hiện tốt tự phê bình và phê bình ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần thực hiện nghiêm túc các quy định sau: c) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra nghị quyết Trong việc ra nghị quyết lãnh đạo, nghị quyết thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng, điểm 5 Điều 9 Điều lệ Đảng quy định: “Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành”. Tập trung dân chủ là nguyên tắc đảm bảo cho sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh của Đảng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của Đảng. Căn cứ vào quy đinh của Điều lệ Đảng, quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên và hướng dẫn của ban tổ chức cấp ủy cấp trên, tổ chức đảng các cấp xây dựng quy chế làm việc bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được giao. Tổ chức đảng phải báo cáo với tổ chức đảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới biết quy chế làm việc của mình. Hằng năm, gắn với tổng kết công tác, các cấp ủy đảng, cấp ủy viên các cấp và đảng viên phải tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân, có kế hoạch và chương trình hành động để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Cuối nhiệm kỳ đại hội, cấp ủy, tổ chức đảng và cấp ủy viên các cấp phải tiến hành tự phê bình và phê bình gắn với kiểm điểm đánh giá kết quả việc thực hiện nghị quyết đại hội. - Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải lấy ý kiến đóng góp của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp, phải có ý kiến của cấp ủy cấp trên trực tiếp. - Báo cáo kiểm điểm của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể phải lấy ý kiến đóng góp của cơ quan chuyên môn và của cấp ủy cùng cấp. - Cấp ủy cấp trên gợi ý cho cá nhân và tập thể cấp ủy của cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp những nội dung cần làm rõ, kiểm điểm, tự phê bình và phê bình như sau: + Cấp uỷ viên: đi sâu kiểm điểm về trách nhiệm chính trị, mức độ phấn đấu hoàn thành công việc được giao và những vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm cá nhân; về giữ gìn phẩm chất cá nhân (đạo đức, lối sống, chấp hành các nguyên tắc; chống quan liêu, tham nhũng, trách nhiệm cá nhân với vai trò lãnh đạo của cấp uỷ). + Tập thể cấp uỷ: kiểm điểm việc chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp trên; việc đề ra và thực hiện nghị quyết, chủ trương cấp mình, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, về đoàn kết nội bộ, quản lý tài chính, ngân sách, đất đai.... Thường trực cấp ủy cấp trên có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, chọn lọc các vấn đề để đưa xuống các tổ chức đảng, cấp ủy cấp dưới gợi ý cho tập thể và cá nhân tự phê bình và phê bình. - Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội, hội đồng nhân dân cùng cấp, phát huy vai trò giám sát, góp ý kiến xây dựng Đảng của nhân dân. Quy định đó được cụ thể hóa quy định như sau: - Đối với đại hội Đảng, hội nghị đảng viên: số thành viên của đại hội đại biểu là tổng số đại biểu chính thức được triệu tập có đủ tư cách dự đại hội; số thành viên của đại hội đảng viên, hội nghị đảng viên là tổng số đảng viên chính thức trong đảng bộ, chi bộ, trừ số đảng viên đã được giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng bộ khác và đảng viên đã được miễn công tác và sinh hoạt đảng không có mặt ở đại hội (nếu đảng viên có mặt ở đại hội, hội nghị đảng viên, tham gia bầu cử, biểu quyết thì vẫn tính), trừ số đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam. - Đối với ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra, số thành viên được tính là: tổng số cấp ủy viên đương nhiệm của ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy, ủy viên ủy ban kiểm tra đương nhiệm (trừ số thành viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam). - Trường hợp kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức, xóa tên đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí và đề nghị cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nửa số thành viên. - Trường hợp giải tán tổ chức đảng thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định với sự đồng ý của trên một nửa số thành viên. 2. Công tác đảng viên a) Về giáo dục đảng viên Giáo dục đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của chi bộ, đảng bộ cơ sở nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên cơ đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Về tư tưởng chính trị: Về trình độ, năng lực: Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Việc tổ chức giáo dục, bồi dưỡng đảng viên ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần vận dụng những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc điểm của từng chi bộ, đảng bộ sao cho có hiệu quả nhất. b) Công tác quản lý đảng viên Chi bộ, đảng bộ cơ sở có nhiệm vụ quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; đồng thời đòi hỏi mỗi đảng viên phải tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, đảng bộ. - Quản lý về chính trị, tư tưởng: - Quản lý về trình độ, năng lực công tác: - Quản lý về sinh hoạt và quan hệ xã hội: - Quản lý đội ngũ đảng viên: c) Về phân công công tác cho đảng viên - Về công tác vận động quần chúng: - Về công tác chính quyền, công tác đoàn thể: - Về công tác đảng: Tham gia công tác đảng là trách nhiệm của đảng viên; tùy theo điều kiện cụ thể mà chi bộ, chi ủy có thể phân công cho đảng viên thực hiện những công việc sau: d) Tiến hành sàng lọc đội ngũ đảng viên, đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng Công tác sàng lọc đảng viên cần được thực hiện với tinh thần kiên quyết nhưng thận trọng, khách quan, đúng thủ tục có bước đi thích hợp, bảo đảm đạt mục đích, yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng chỉnh đốn Đảng đ) Về công tác phát triển đảng viên Phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, nhưng được thực hiện chủ yếu ở chi bộ, đảng bộ cơ sở. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải nâng cao nhận thức và thường xuyên chăm lo công tác phát triển đảng viên Để làm tốt công tác phát triển Đảng, cần nắm vững và thực hiện tốt một số khâu cơ bản sau đây: Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tích cực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không giao động trước những khó khăn, thách thức, có ý thức giữ vững về nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đủ sức hoàn thành tốt nghiệp vụ, có năng lực vận động và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu đi đầu trong công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết; gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác. - Theo dõi, quản lý chặt chẽ việc tham gia học tập của các chương trình giáo dục lý luận chính trị của đảng viên. - Tổ chức phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng; gắn việc phổ biến, quán triệt với việc kiểm điểm đánh giá tình hình chi bộ, đảng bộ, chỉ ra những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong nhận thức và hành động, nhất là hành vi tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị - Ngoài ra, còn phải tổ chức cho đảng viên học tập về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý để nâng cao trình độ về mọi mặt, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Đây là ngủy tắc tổ chức cần phải được thực hiện một cách hết sức nghiêm túc, không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Hiện nay, hằng ngày, hằng giờ mỗi đảng viên luôn phải đối mặt với những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác quản lý đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ với những nội dung và hình thức đa dạng, phong phú, có tính khoa học; phải được tiến hành thận trọng, tỉ mỉ, chu đáo và toàn diện. Là sự giám sát về quan điểm, lập trường chính trị của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng yêu cầu đảng viên phải nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nêu cao tính tiên phong gương mẫu trong lao động, học tập, công tác Trong thời kỳ mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc thế, nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn luôn nảy sinh, đòi hỏi phải có sự thống nhất cao về quan điểm, nhận thức trong Đảng và xã hội Tổ chức đảng, trước hết là cấp ủy, phải năm vững trình độ, năng lực công tác của đảng viên. Việc đánh giá trình độ, năng lực của đảng viên không chỉ nhìn vào bằng cấp mà cần nhìn nhận đúng đắn năng lực thực tế và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ Quản lý các quan hệ xã hội của đảng viên trước hết là quản lý về phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên; giúp cho tổ chức đảng đánh giá đầy đủ, chính xác về tư cách đảng viên, phòng ngừa và ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đảng viên Quản lý đội ngũ đảng viên trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Quản lý số lượng đảng viên cần chú trọng nắm chắc về cơ cấu giới, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, tuổi đời, tuổi đảng Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên là sự quản lý về phẩm chất, trình độ, năng lực và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên Để tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, cần phải có sự phân công công tác cụ thể, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng tổ chức cơ sở Tổ chức đảng giao cho mỗi đảng viên thường xuyên nắm và phản ánh tình hình tư tưởng của quần chúng tại nơi công tác và nơi cư trú; trực tiếp tiến hành giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Bản thân và gia đình đảng viên phải gương mẫu chấp hành và vận động quần chúng thực hiện nghiêm chỉnh mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần trách nhiệm dân Tùy theo khả năng, trình độ và tín nhiệm của đảng viên trước quần chúng, tổ chức đảng giới thiệu, phân công đảng viên tham gia công tác của chính quyền và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội + Giúp đỡ đảng viên dự bị (nếu có) phấn đấu trở thành đảng viên chính thức. + Theo dõi, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng, đề xuất ý kiến nhận xét để chi bộ lựa chọn đưa vào nguồn và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để phát triển đảng. + Tham gia chuẩn bị nội dung các cuộc họp các nội dung có tính chất chuyên đề khi được phân công để cấp ủy, chi bộ thảo luận, quyết nghị. + Tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ; đóng góp tích cực vào công tác xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Đối với những đảng viên giữ được tư cách đảng viên, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có trình độ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, được quần chúng tín nhiệm thì tiếp tục bồi dưỡng và phát huy để ngày càng tiến bộ. Đối với những đảng viên hạn chế về kiến thức, năng lực hoàn cảnh khó khăn thì phải giúp đỡ họ. Những trường hợp không khắc phục được khó khăn hoặc không có khả năng vươn lên hoàn thành nhiệm vụ thì bản thân tự xem xét hoặc chi bộ động viên các đồng chí đó tự xin ra khỏi Đảng. Đối với những đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, không làm tròn nhiệm vụ đảng viên, đã được tổ chức đảng giúp đỡ mà không tiến bộ, hoặc lạc hậu về chính trị, không còn tha thiết với Đảng, không còn tác dụng với quần chúng thì vận động ra khỏi Đảng hoặc xóa tên khỏi danh sách đảng viên. Đối với đảng viên vi phạm tư cách, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì giáo dục, xử lý kỷ luật hoặc định thời hạn phấn đấu, nếu không có chuyển biến thì đưa ra khỏi Đảng. Đối với những người cơ hội về chính trị nói và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước thì khai trừ ra khỏi Đảng. Văn kiện ĐH XI nhấn mạnh: “Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng. Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới; phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đưa ra khỏi đảng những người không đủ tư cách đảng viên”. - Thông qua phong trào của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, kết hợp với sự giới thiệu của tổ chức quần chúng, tập thể cấp ủy lựa chọn quần chúng tích cực để có kế hoạch bồi dưỡng. - Cử quần chúng tích cực đi dự các lớp bồi dưỡng đối tưởng kết nạp Đảng để họ có những hiểu biết nhất định về Đảng, về quyền và nhiệm vụ đảng viên, xác định động cơ vào Đảng đúng đắn. - Phân công đảng viên bồi dưỡng, giúp đỡ theo dõi quá trình rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành của quần chúng tích cực. Hằng tháng, hằng quý, đảng viên được phân công phải báo cáo kết quả phấn đấu của quần chúng; nếu bảo đảm đủ tiêu chuẩn, được tổ chức, đoàn thể quần chúng thừa nhận, sẽ gợi ý để quần chúng làm hồ sơ, viết đơn xin gia nhập Đảng. Lễ kết nạp đảng viên phải được tổ chức trang nghiêm theo quy định. Trong thời gian dự bị, chi bộ tiếp tục giáo dục, thử thách, rèn luyện, phân công đảng viên chính thức trực tiếp giúp đỡ đảng viên dự bị để họ phấn đấu trở thành đảng viên chính thức đúng thời hạn theo quy định của Điều lệ Đảng. 3. Công tác cán bộ Công tác cán bộ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Cần làm tốt những việc cơ bản sau: - Một là, lựa chọn cán bộ: - Hai là, đánh giá, nhận xét cán bộ: Việc đánh giá, nhận xét cán bộ giữ vai trò quan trọng, có tác dụng phát huy những ưu điểm, khắc phục những điểm yếu, hạn chế, thiếu sót của mỗi cán bộ, để tiếp tục bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng - Ba là, quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ: Thường xuyên chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải làm tốt công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ quy định. Thông qua phong trào quần chúng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng viên mà lựa chọn, phát triển những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, có khả năng phát triển, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phân công, giao nhiệm vụ để rèn luyện, thử thách và tạo điều kiện để đảng viên tự học tập nâng cao trình độ, vươn lên đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của công tác cán bộ và tiêu chuẩn của người cán bộ. Để đánh giá đúng cán bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần nắm vững và thực hiện tốt những quy trình cơ bản sau: + Trên cơ sở tiêu chuẩn cán bộ, cụ thể hóa cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của đơn vị, lấy đó là căn cứ để đánh giá cán bộ. + Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả của công tác cán bộ và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. + Có phương pháp phân tích, đánh giá, nhận xét cán bộ một cách khoa học, khách quan, công tâm theo một quy trình chặt chẽ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ dựa vào tập thể và ý kiến đóng góp nhận xét của nhân dân, thông qua nhiều hình thức và phương pháp phù hợp Xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức trong cơ quan, đơn vị, địa phương; có biện pháp giáo dục, khắc phục kịp thời những khuyết điểm, thiếu sót về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Định kỳ tổ chức tốt việc sơ kết rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, trên cơ sở đó có chủ trương, biện pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ. Trên đây là những nội dung cơ bản của công tác cán bộ ở cơ sở; khi áp dụng vào thực tiễn, mỗi chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, đơn vị. 4. Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có quan hệ đến sự sống còn của Đảng và của chế độ, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, bảo đảm sự trong sạch về chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đánh vào nội bộ ta. Để thực tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện tốt những mặt công tác chủ yếu sau: Về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Nghiên cứu ban hành và thực hiện tốt chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị. Chú trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay”. - Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với Đảng, không giấu diếm, khai man lịch sử chính trị của bản thân và gia đình. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở phải nắm chắc và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống. Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải có chủ trương, biện pháp, kế hoạch cụ thể trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ. Không ngừng nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn bí mật nội bộ và bí mật quốc gia. - Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của công tác bảo vệ chính trị nội bộ và sự hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện quy định về bảo vệ chính trị nội bộ nhằm bảo đảm cho tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, ngăn ngừa không để cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; không để lọt các phần tư cơ hội, thoái hóa, biến chất, nội gián vào cơ quan đảng, cơ quan nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Nội dung các quy định bảo vệ chính trị nội bộ của chi bộ, đảng bộ cơ sở không được trái với quy định của Điều lệ Đảng và pháp luậ của Nhà nước. - Thực hiện nghiêm ngặt các chế độ, thủ tục, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên, bao gồm các mặt công tác như: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kết nạp đảng viên, lựa chọn đảng viên bầu vào cấp ủy, cử đi công tác nước ngoài, tiếp xúc với người nước ngoài, bố trí vào cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng. - Trong sinh hoạt đảng, cần nghiêm túc xem xét tình hình tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Khi thấy có những biểu hiện chưa phù hợp với quan điểm của Đảng, cần trao đổi thẳng thắn trong sinh hoạt, nâng cao nhận thức chung của cán bộ, đảng viên; kịp thời báo cáo lên cấp ủy cấp trên xem xét, chỉ đạo giải quyết. - Cần khắc phục nhận thức lệch lạc cho rằng bảo vệ chính trị nội bộ chỉ là nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý và của các cơ quan chuyên trách; đồng thời tranh khuynh hướng sa vào những vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ, chức năng của cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ. - Tất cả mọi đảng viên đều có trách nhiệm tham gia công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Bí thư, hoặc phó bí thư cấp ủy phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ. - Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được tiến hành thường xuyên, theo phương châm: lấy việc tích cực xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, chủ động phòng ngừa là chính; đồng thời coi trọng việc rà soát, thẩm tra nội bộ một cách chặt chẽ, có trọng điểm; kết hợp lắng nghe ý kiến của nhân dân với công tác nghiên cứu, điều tra của cơ quan có trách nhiệm. KẾT LUẬN: (10 phút) Tóm lại: Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng. Đó luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong mọi giai đoạn lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Cho nên Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên mà trước hết là cơ quan lãnh đạo và người phụ trách phải chăm lo đến sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổ chức. Đối với các chi bộ, đảng bộ cơ sở để làm tốt công tác tổ chức cần phải nắm vững và thực hiện tốt bốn nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng. Thứ hai, phải làm tốt công tác đảng viên. Thứ ba, phải làm tốt công tác cán bộ. Thứ tư, phải làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tất cả các đồng chí đảng viên của mỗi chi bộ, đảng bộ cơ sở đều có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia thực hiện tốt bốn nội dung nêu trên. Tuy nhiên, trách nhiệm cao nhất thuộc về cá nhân đồng chí đứng đầu của mỗi cấp ủy cơ sở. Câu hỏi: Câu 1: Công tác tổ chức của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung cơ bản nào? Câu 2: Nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện như thế nào trong tổ chức và sinh hoạt đảng ở chi bộ? Liên hệ thực tế. Câu 3. Cần làm gì để làm tốt công tác đảng viên? Liên hệ thực tế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai_04_ga_thao_giang_vinh_5587.doc
Tài liệu liên quan