Tự nhận thức

Phân loại Tính Cách Jung Myers-Briggs (MBTI) Đây là một phương pháp phân loại tính cách dựa trên các nghiên cứu của nhà tâm lý học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung và được Isabel Myer và Katherine Briggs bổ sung. Phương pháp này dựa trên nguyên lý của Jung cho rằng có thể phân loại tính cách con người dựa trên 3 tiêu chí: hướng nội/hướng ngoại; trực giác/giác quan; lý trí/tình cảm. Mục đích chính của Jung không phải là phần loại tính cách, ông chỉ cần một hệ thống phân loại để hỗ trợ cho các nghiên cứu của ông về ý thức và vô thức. Trong hệ thống phân loại của Jung, không có nhóm nào tốt, nhóm nào xấu, nhưng Jung nhận xét rằng: cùng một sự vật hiện tượng sẽ gây ra những suy nghĩ, cảm xúc, phản ứng khác nhau cho những người khác nhau.

pdf19 trang | Chia sẻ: truongthinh92 | Ngày: 10/08/2016 | Lượt xem: 644 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tự nhận thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM” NĂNG ĐỘNG NHÓM Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này. Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM” TỰ NHẬN THỨC [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 1 Tự nhận thức SDRC - CFSI MỤC LỤC MỤC LỤC . 1 Bài 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ NHẬN THỨC 2 I. KHÁI NIỆM CƠ BẢN .. 2 II. Ý NGHĨA CỦA TỰ NHẬN THỨC . 3 III. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ NHẬN THỨC . 3 Bài 2: NHÂN VIÊN CTXH VỚI VIỆC THỰC HÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC . 5 I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN CTXH .. 5 II. TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI BẢN THÂN NHÂN VIÊN CTXH .. 6 III. NỘI DUNG TỰ NHẬN THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THÂN CHỦ . 7 PHỤ LỤC . 8 [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 2 Tự nhận thức SDRC - CFSI Bài 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ NHẬN THỨC I. KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Tự nhận thức Tự nhận thức (Self-awareness) là cách mà chúng ta khám tính cách cá nhân, niềm tin, hệ thống giá trị, khuynh hướng tự nhiên của mình1. Thông thường, tự nhận thức là khởi điểm cho việc làm chủ bản thân và tạo ra những gì ta muốn. Tự nhận thức là một khả năng hiểu biết mạnh mặt, mặt yếu, giá trị, quan điểm, tính khí, nhu cầu, ước vọng, cảm xúc, sợ hãi2. Những suy nghĩ về chính mình (tôi thông minh, tôi tháo vát, tôi là người chậm chạp, tôi là trụ cột trong gia đình, tôi là nhân viên công tác xã hội, tôi ân cần, tôi không kỳ thị và phân biệt người có H) nhằm vẽ nên một bức chân dung về chính họ. Bức tranh này không chỉ mô tả hình dáng bên ngoài mà còn mô tả cảm xúc, năng lực, vai trò, trách nhiệm của họ đối với người khác. Tóm lại, tự nhận thức là một kỹ năng mà qua đó mỗi cá nhân hình dung, khám phá chính mình là người như thế nào và thường soi theo đó để hành động. 2. Hình ảnh bản thân Hình ảnh bản thân là cách mà chúng ta nghĩ và đánh giá về bản thân. Hình ảnh này là những nhận thức tương đối ổn định của một người về chính họ và, những nhận thức này ảnh hưởng mạnh tới hành động và cách chúng ta quan hệ với người khác. Nói cách khác, hình ảnh bản thân là cách mỗi cá nhân hình dung, khái quát chính mình như thế nào và thường soi đó mà hành động. Ví dụ: Chị A được xem là một NVCTXH giỏi giữ bình tĩnh. Có lần tức giận một người và chị nghĩ “Tức quá! Phải cho nó một trận cho nó biết tay, nhưng dù sao mình cũng là người biết giữ bình tĩnh, sử xự vậy cũng không hay cho lắm!”  Như vậy chị A đã chiếu theo hình ảnh bản thân mà cư xử cho thích hợp. Khái niệm hình ảnh bản thân hình thành qua cách người thân nhìn và tỏ thái độ, đánh giá chúng ta. Đôi khi nó cũng xuất phát từ một khiếm khuyết nội tại nào đó mà ta không được người thân động viên khắc phục. 3. Ý thức về giá trị bản thân (Lòng quý trọng bản thân) Ý thức về giá trị bản thân (Self-Esstem) hay còn gọi là sự tự quý trọng bản thân là một phần của khái niệm bản thân mà nó liên quan đến những đánh giá về chính giá trị của bản thân và là động lực thúc đẩy cá nhân tự vươn lên, là yếu tố cốt lõi để một nhân cách phát triển bình thường. Ví dụ: hình ảnh bản thân của một người nào đó về chính họ có thể là ít nói, hoặc thích tranh luận, hoặc nghiêm nghị. Sự ý thức giá trị bản thân của người đó là cách người đó đánh giá như thế nào về những thuộc tính này của mình. Người đó có thể cảm thấy “hài lòng vì mình ít nói”, hoặc “xấu hổ vì tính hay tranh luận của mình”, hoặc “cảm thấy chán vì mình nghiêm nghị, không hài hước được như người khác”. 1 2 Nguyễn Thị Oanh [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 3 Tự nhận thức SDRC - CFSI Người có ý thức về giá trị bản thân cao không phải là người tự đề cao vì tài giỏi hay đức hạnh. Đó là người tự tin rằng mình xứng đáng để được hạnh phúc và thành công. Giá trị đơn giản ở chỗ họ biết quý trọng bản thân. Họ không phải lúc nào cũng thành công vang dội, họ là người bình thường nhưng khi vấp ngã thì họ biết cách trỗi dậy. Người có ý thức giá trị bản thân thấp có thể là người tài giỏi, thành đạt nhưng khi vấp ngã họ khó vươn lên và dễ có xu hướng hủy hoại bản thân và, sa vào rượu chè, ma túy, mại dâm và dễ bỏ bỏ cuộc. Ý thức về giá trị bản thân thấp thường do lớn lên trong gia đình có vấn đề, hay có sự đối xử thiếu tế nhị của phụ huynh: so sánh trẻ em hàng xóm, mắng nhiếc nặng nề “suốt đời mày chẳng làm được tích sự gì. Sao không bắt chước em mày để học thật giỏi cho tao nhờ !” Tuy nhiên, ý thức bản thân tuy hình thành chủ yếu khi còn nhỏ nhưng không cố định mà có thể thay đổi tùy hoàn cảnh, môi trường ở các thời điểm khác nhau, có thể được điều chỉnh qua tham vấn, trị liệu tâm lý. II. Ý NGHĨA CỦA TỰ NHẬN THỨC Tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc. Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn. Sự tự nhận thức là cơ sở/ nền tảng/ nền móng hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc. Nó phải có trước, bởi nếu không hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu cảm xúc của người khác. Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình và mình say mê cái gì. Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả. Nó dẫn tới những mối quan hệ, cả trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó, chúng ta sẽ đóng góp có tính xây dựng và tích cực hơn. Và nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn. Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta có thể lựa chọn cách hành động, hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó, hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi. Mặt khác, tự nhận thức cũng giúp cá nhân nhận rõ mình có những điểm yếu nào để có thể khắc phục kịp thời. Đồng thời, cá nhân không tự mình đẩy bản thân vào những thế yếu, theo đuổi những cái viển vông, không thực tế và không phù hợp với năng lực hiện có của mình. Ngoài ra, tự nhận thức cũng cho phép cá nhân hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về mình cũng như những thái độ và phản hồi của mình đối với người khác. Thông qua “tấm gương” là những cá nhân khác để mỗi người hiểu sâu sắc hơn về mình và có lối hành xử phù hợp với những cá nhân khác. III. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỰ NHẬN THỨC 1. Tự nhận thức mang tính nhiều chiều Có nhiều chiều, hoặc nhiều khía cạnh khi nhìn về bản thân của con người. Các khía cạnh này bao gồm: - Thể lý: là cách mà ta nghĩ về cơ thể của ta, như ốm, mập, cao, lùn [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 4 Tự nhận thức SDRC - CFSI - Năng lực trí tuệ bản thân: là cách ta nhận thức về sự thông minh, năng khiếu, khả năng suy nghĩ logic, mặt mạnh và mặt yếu, vai trò của bản thân (là con trai, con gái, con trưởng, NVCTXH) - Giá trị: là những suy nghĩ về bản thân liên quan tới những chuẩn mực đạo đức, là thái độ, niềm tin, hành vi và những điều mà ta quý trọng và những điều này định hướng cho ta hành động. Ví dụ: yêu thương, cao thượng, chung thủy, giản dị - Tính khí/tính cách: là cách chúng ta nghĩ về bản thân là người nóng nảy, dễ xúc động, lạc quan hay hoài nghi, yếm thế, hướng nội hay hướng ngoại, thích lãnh đạo hay khống chế người khác Lưu ý: Ngoài ra, còn có niềm tin, ước mơ 2. Tự nhận thức là một quá trình thay đổi liên tục Tự nhận thức không có sẵn ngay khi chúng ta được sinh ra mà đây là một quá trình thu nhận, gìn giữ hay thay đổi nó. Ngay trong những năm đầu đời khi đứa trẻ bắt đầu phát triển thì chúng đã bắt đầu quá trình tìm hiểu mình là ai, và cứ thế suốt cuộc đời chúng ta tiếp tục xác định và thể hiện bản sắc cá nhân của mình. Và cách nhận thức về bản thân cũng thay đổi ở mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Ví dụ: khi còn nhỏ có thể ta cho rằng ta thông minh vì mọi người quanh ta đều nâng niu, cưng chiều và khen ngợi ta thông minh. Khi đi học ta lại nghĩ ta là người ngu đần vì thầy giáo ta luôn cho rằng ta không thông minh. Như vậy, tự nhận thức bản thân ta cũng có thay đổi chứ không giữ nguyên như vậy hoài. 3. Tự nhận thức chịu ảnh hưởng những đánh giá từ bên ngoài Ta thường biết mình qua sự phản ảnh của những người khác xung quanh như gia đình, bạn bè, họ hàng, thầy cô Qua đó, ta có được hình ảnh của bản thân. Những cách nhìn nhận và đánh giá từ bên ngoài này phụ thuộc vào quan điểm riêng của họ. Từ khi sinh ra và lớn lên, ta luôn tương tác với mọi người khác. Qua đó, ta học cách người khác nhìn ta như thế nào và ta mang những quan niệm của họ vào trong chính bản thân ta. Quá trình này thường bắt đầu từ trong gia đình khi ta học cách cha mẹ ta, anh em ta, người thân họ hàng của ta nhìn ta, quan niệm về ta như thế nào. Khi lớn lên, đi học, ta tương tác với các bạn cùng học, thầy cô giáo ta lại có thêm những quan niệm khác về ta là ai. Rồi về sau khi ta đi làm, ta lại biết thêm cách thức người lãnh đạo ta, đồng nghiệp ta nhìn ta ra sao. Ta tiếp thu tất cả những cách nhìn này và chúng trở thành một phần của cái gọi là ta là ai và ta hình dung, khái quát về ta như thế nào. Những cách nhìn về ta mà ta tiếp thu được không chỉ bị ảnh hưởng bởi những người mà ta tương tác mà còn bị ảnh hưởng bởi những quan niệm xã hội và nền văn hóa của thời mà ta đang sống. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 5 Tự nhận thức SDRC - CFSI Bài 2: NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VIỆC THỰC HÀNH & PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI Chỉ khi hiểu biết tốt hơn về bản thân mình, chúng ta mới có thể làm chủ cảm xúc, hành vi, tính cách của mình mà ứng xử, hành động phù hợp với hoàn cảnh, tạo nên những thay đổi tích cực cho chính bản thân. Đồng thời, tự nhận thức cho phép ta hiểu rõ người khác, cách thức họ cảm nhận về bản thân ta, từ đó, giúp ta nâng cao kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm. Như vậy, nhận thức bản thân là một đòi hỏi chuyên nghiệp đối với những nghề mà đối tượng tiếp xúc và giúp đỡ là con người. Như một tác giả nói “nhân cách của những người này chính là công cụ làm việc của họ” Nếu công cụ của người thợ mộc là cái bào, của anh kỹ sư là máy móc thì công cụ của công tác xã hội (CTXH) chính là nhân cách, là phẩm chất con người của NVCTXH 3. Do đó, NVCTXH cần có năng lực tự nhận thức ở mức độ cao. Nếu không có khả năng này, nhân viên xã hội sẽ không thể khách quan đủ khi làm việc với thân chủ và sẽ áp đặt những ý muốn của mình lên thân chủ. Ví dụ: Nếu NVCTXH có thói quen độc tài bao biện thì thường hay áp đặt thân chủ, nếu có xu hướng nói nhiều thì khó khăn trong việc lắng nghe và giữ bí mật của thân chủ, nếu không thật nhạy bén về chính mình thì rất dễ vi phạm sự tôn trọng của thân chủ. Ngoài ra, việc nhận ra rằng sự tự nhận thức không cố định mà có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh nên NVCTXH hoàn toàn có thể giúp cho thân chủ của mình có được kỹ năng tự nhận thức. Khi NVCTXH làm việc mà không có kỹ năng tự nhận thức 1. Tránh né hoặc hoặc không biết cảm xúc của thân chủ 2. Phóng chiếu* những cảm xúc của bản thân lên thân chủ 3. Phản ứng không thích hợp khi những có những vấn đề không thể giải quyết chi phối khả năng trở nên khách quan của họ 4. Phản ứng cảm xúc lại với thân chủ nhưng không hiểu tại sao và như thế nào 5. Hành xử không thích đáng (chú ý một cách quá đáng, có cử chỉ xoa dịu quá mức) vì họ không ý thức về những tác động giới hạn của suy nghĩ cho rằng mình bất lực 6. Làm ngơ trước những phản ứng phòng thủ của thân chủ và không biết làm thế nào mà hành vi của NVXH ảnh hưởng tới người khác 7. Hành xử dựa trên nhu cầu cá nhân hơn là việc đáp ứng các nhu cầu và phản ứng của thân chủ 8. Tránh né hoặc hạn chế trong việc thiết lập mục tiêu, bởi vì, NVCTXH không biết nhu 3 Nguyễn Thị Oanh [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 6 Tự nhận thức SDRC - CFSI cầu chuyên nghiệp trong công việc. *Phóng chiếu (project): Theo tự điển tâm lý, trong phân tâm học, phóng chiếu là cơ chế vô thức nơi đó lỗi lầm của bản thân được nhìn nơi nhân cách của người khác hơn là nhân cách của mình, nghĩa là một cơ chế phòng vệ vô thức (không có ý thức) đổ lỗi hay những điều tiêu cực của chính mình cho người khác. II. TỰ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI BẢN THÂN NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội NVCTXH cần ý thức rằng, vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề. Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của NVCTXH, vì vậy, cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân. Đồng thời, NVCTXH cũng cần phải ý thức được khả năng trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao hay không (tức là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu) Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân, thì NVCTXH chuyển giao trường hợp đang thụ lý cho NVCTXH khác giúp đỡ. Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được đối với NVCTXH. Nó giúp NVCTXH biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thức hoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó. Việc nhận thức về bản thân NVCTXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ trong trường hợp vấn đề vượt quá khả năng của NVCTXH và cần chuyển tuyến. Việc ý thức được yếu tố này giúp cho NVCTXH trung thực trong công việc, trung thực với khả năng của bản thân. Đồng thời, NVCTXH phải có khả năng nắm bắt suy nghĩ của mình, cảm xúc của thân chủ, mà không để cho các cảm xúc này chi phối quá trình suy nghĩ của mình. Vì thế, nếu có thể, NVCTXH nên duy trì một mức độ khoảng cách nhất định, bên cạnh sự đồng cảm và mức độ cảm xúc nào đó để có thể giúp thân chủ giải quyết vấn đề một cách khách quan và lập kế hoạch một cách thực tế. Tóm lại, việc nhận thức và chấp nhận bản thân của NVCTXH bao gồm: - Hiểu biết bản thân: Biết rõ thể lý, cảm xúc, tình cảm, năng lực (kiến thức, kỹ năng) thái độ, hành vi, kể cả những mặt mạnh lẫn hạn chế. - Chấp nhận bản thân với những đặc điểm nêu trên. Biết rõ những gì tôi có thể làm và chấp nhận những gì tôi không thể làm, những gì tôi chưa giải quyết được. Ví dụ NVCTXH xuất thân trong gia đình mà người cha bạo hành mẹ và những hình ảnh bạo hành đó vẫn còn ảnh hưởng tới suy nghĩ, hành vi của NVCTXH thì nên hạn chế tiếp nhận những thân chủ có vấn đề tương tự. - Nhận biết những tổn thương đặc biệt của bản thân và tìm cách ứng phó với chúng. Ví dụ: Thể lý yếu ớt, ứng phó bằng cách tập thể dục thể thao, quan tâm chế độ dinh dưỡng. Dễ xúc động ứng phó bằng cách đối diện với nhiều tình huống gây xúc động để rèn luyện cơ chế kềm chế xúc động. - Biết những gì tôi có thể làm và chấp nhận những gì tôi không thể làm - Đặt ra các mục tiêu chuyên ngiệp dựa trên kiến thức, kỹ năng, thế mạnh và hạn chế của bản thân. Tóm lại, trong CTXH thực hành, đặc biệt là khi làm việc với cá nhân thì mối quan hệ giữa thân chủ và NVCTXH là một thành phần quan trọng của quá trình giúp đỡ và mối quan hệ này là một sự chuyên nghiệp. Do đó, người NVCTXH cần có sự ý thức và [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 7 Tự nhận thức SDRC - CFSI kỷ luật của việc tự nhận thức bản thân khi làm việc với thân chủ với tư cách là người cung cấp dịch vụ. III. NỘI DUNG TỰ NHẬN THỨC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI THÂN CHỦ Khi làm việc với thân chủ với tư cách là người cung cấp dịch vụ, vì thế, NVCTXH không chỉ ý thức bản thân mình mà còn phải giúp thân chủ của mình cũng có được kỹ năng tự nhận thức này. Nhận thức về bản thân và ý thức giá trị bản thân không cố định, mà có thể thay đổi nếu đối tượng gặp môi trường tốt và nhất là gặp người biết cách đối xử hay được sự giúp đỡ của các nhà tâm lý, các NVCTXH, do đó vai trò của NVCTXH là quan trọng. Những thân chủ là người rơi vào tệ nạn xã hội thường có một hình ảnh tiêu cực về bản thân, nếu đến một trung tâm phục hồi mà được nhân viên đối xử với sự tin tưởng và tôn trọng, được khuyến khích để khắc phục yếu kém và phát huy tiềm năng thì dần họ có thể thay đổi hình ảnh về bản thân mà họ có. NVCTXH phải nhận ra và tin vào khả năng của thân chủ, giá trị bản thân của thân chủ để, từ đó, không áp đặt ý nghĩ của mình lên thân chủ, hay có cái nhìn thương hại, ban ơn, làm thay cho thân chủ. Cụ thể, khi làm việc với thân chủ đòi hỏi NVCTXH cần có sự tự nhận thức như: - Biết được khi nào tôi đồng hoá/ quá thấu cảm với thân chủ. - Nhận biết và chấp nhận những lĩnh vực dễ bị tổn thương và những vấn đề mà NVCTXH không giải quyết được. - Luôn kiểm soát lời nói, cử chỉ hành vi thể hiện với thân chủ để biết được những biểu hiện quá mức thân thiện hoặc luôn nhắc nhớ lại những quy định của nghề. - Nhận biết và quản lý đối thoại bên trong con người NVCTXH Ví dụ khi thân chủ đang bày tỏ về câu chuyện của mình, NVCTXH không suy nghĩ phán xét hay thầm dè bỉu thân chủ. - Nhận diện và gọi tên những cảm xúc và hành vi mà bản thân nhân viên xã hội có Ví dụ: NVCTXH biết mình đang phán xét, mất bình tĩnh với thân chủ thông qua suy nghĩ, phản ứng bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nên điều chỉnh kịp thời suy nghĩ, hành vi của mình. - Hiểu và kiểm soát được cơ chế phòng thủ cá nhân Ví dụ khi thân chủ nổi nóng, NVCTXH có thể cũng sẽ mất bình tĩnh theo và có phản ứng gay gắt lại với thân chủ. Hiểu được như vậy thì NVCTXH sẽ tìm cách giữ thái độ bình tĩnh để tiếp tục làm việc với thân chủ. - Hiểu những giá trị cá nhân và những ảnh hưởng của nó tới mối quan hệ tham vấn. Ví dụ: nếu NVCTXH đánh giá thấp và gay gắt hành vi bạo lực thì khi tham vấn cho nam thân chủ cần ý thức, không để những suy nghĩ này ảnh hưởng tới việc ứng xử của mình với thân chủ. - Đặt ra các mục tiêu chuyên ngiệp dựa trên kiến thức, kỹ năng, thế mạnh và hạn chế của bản thân. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 8 Tự nhận thức SDRC - CFSI PHỤ LỤC Cửa sổ JOHARI (Joe luft & Harry Ingham) Mỗi người chúng ta là mộ kho báu, một phần đã được lộ ra, một phần chưa lộ ra. Joe Luft và Harry Ingham đã vẽ ra một cửa sổ giúp chúng ta hiểu: - Chúng ta có thể trưởng thành như thế nào trong việc tự nhận biết chính mình. - Làm sao chúng ta có thể xây dựng mối quan hệ làm việc tin tưởng hơn trong nhón và cộng đồng qua chia sẻ và phản hồi. Tôi biết Tôi không biết 1 MỞ 2 VÔ THỨC (MÙ) Người khác phản hồi cho mình biết. Mình nhận phản hồi 3 CHE DẤU Mình chia sẻ cho người khác biết 4 TIỀM THỨC, TIỀM NĂNG (chưa lộ ra) Mình và người khác cùng khám phá Người khác biết Người khác không biết Hỏi Nói [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 9 Tự nhận thức SDRC - CFSI TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Lê Chí An dịch. (1999). Công tác xã hội cá nhân, Ban xuất bản Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh. [2] Nguyễn Thị Oanh. 2010. Kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên. NXB Trẻ [3] Nguyễn Thị Oanh. 2008. Hạnh phúc - Phải lựa chọn, NXB Trẻ [4] Nguyễn Thị Oanh. 1998. Công tác xã hội đại cương. NXB Giáo Dục [5] Th.s Đòan Tâm Đan và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2005). Công tác xã hội cá nhân. Tài liệu Tập huấn SDRC, lưu hành nội bộ. [6] Th.s Chu Dũng và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009). Công tác xã hội cá nhân. Tài liệu Tập huấn của SDRC, lưu hành nội bộ. [7] GS.TS Phạm Huy Dũng (chủ biên). 2006. Bài giảng Công tác xã hội - Lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp. NXB Đại học Sư Phạm [8] Social Work Education Project (SWEP) - Vietnam. Certificate Course on Social Work Administration. Module 1.2 – Human Behaviour and Social Environment [9] Johari Window - Kiwipedia [10] Choices: Developing Your Self-Awareness. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 10 Tự nhận thức SDRC - CFSI PHỤ LỤC ĐẠI BÀNG GÀ Ngày xưa, có một ngọn núi lớn, bên sườn núi có một tổ chim đại bàng. Trong tổ có bốn quả trứng lớn. Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại bàng lăn xuống và rơi vào một trại gà dưới chân núi. Một con gà mái tình nguyện ấp quả trứng lớn ấy. Một ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà. Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là một con gà không hơn không kém. Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng tâm hồn nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn. Cho đến một ngày, trong khi đang chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh bay cao giữa bầu trời. "Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó". Bầy gà cười ầm lên: "Anh không thể bay với những con chim đó được. Anh là một con gà và gà không biết bay cao". Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thật sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng họ. Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều không thể xảy ra. Đó là điều đại bàng cuối cùng đã tin là thật. Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục sống như một con gà. Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết. CÂU CHUYỆN CON CHÓ QUÈ Ông chủ cửa hàng bán thú nuôi mang tấm biển “Tại đây bán chó con” lên cửa ra vào. Một cậu bé xuất hiện bên dưới tấm biển hỏi: - Ông định bán những chú chó con này giá bao nhiêu ạ?“ - Cũng tùy, từ 30 - 50 đô la cháu ạ Cậu bé thò tay vào túi móc ra một ít tiền lẻ: - Cháu có 2 đô la và 37 xu. Ông cho phép cháu ngắm chúng nhé. Người chủ tiệm mỉm cười, huýt sáo ra hiệu. 5 chú chó lơn tơn chạy ra. Có một con chậm chạp theo sau. Ngay lập tức, cậu bé chỉ vào chú chó nhỏ khập khiễng: “Con chó nhỏ ấy làm sao thế ạ?' [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 11 Tự nhận thức SDRC - CFSI - Bác sĩ thú y bảo xuơng chậu của nó bị khuyếm khuyết nên phải khập khiễng què quặt suốt đời. - Đây là con chó cháu muốn mua.- Cậu bé tỏ vẻ thích thú. - Không, ta nghĩ cháu không muốn mua nó đâu. Còn nếu cháu thật sự thích nó thì ta sẽ tặng cho cháu. Cậu bé hơi bối rối. Nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng rồi chìa tay đáp: - Cháu không muốn được ông tặng. Nó cũng đáng giá như những con chó khác và cháu sẽ trả đủ tiền cho ông. Đây là 2 đô la 37 xu và cháu sẽ đưa ông thêm 50 xu mỗi tháng đến khi nào đủ tiền - Cháu không muốn mua con chó này đâu. Nó sẽ không thể chạy nhảy vui đùa với cháu như những con chó con khác - người chủ tỏ vẻ phản đối. Cậu bé lặng lẽ với tay kéo ống quần lên để lộ chiếc chân trái bị teo cơ đang được nâng giữ bằng một khung kim loại. Nó nhìn lên người chủ dịu dàng đáp: - Cháu cũng không thể chạy nhảy vui đùa, và con chó này cần một ai đó để thông cảm ông ạ! CÁI BÌNH NỨT Hồi ấy ở bên Tàu có một người gánh nước mang hai chiếc bình lớn treo hai đầu một đòn gánh đeo ngang cổ. Một trong hai bình ấy bị một vết nứt, còn bình kia thì tuyệt hảo luôn luôn đem về đủ lượng một bình đầy nước. Cuối đoạn đường dài từ con suối đến nhà, chiếc bình nứt lúc nào cũng vơi chỉ còn một nửa bình. Suốt hai năm trời, ngày nào cũng vậy, người gánh nước chỉ mang về nhà có một bình rưỡi nước. Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất hãnh diện về thành tích của mình, đã hoàn tất một cách tuyệt hảo nhiệm vụ nó được tạo ra để thi hành. Còn tội nghiệp chiếc bình nứt, nó xấu hổ về khuyết điểm của mình và khổ sở vì chỉ hoàn tất được có một nửa công việc nó được tạo ra để làm. Sau hai năm chịu đựng cái mà nó cho là một thất bại chua cay, một ngày nọ, nó lên tiếng với người gánh nước bên suối: "Con thật xấu hổ vì vết nứt bên hông, đã làm rỉ mất nước trên đường về nhà bác". Người gánh nước trả lời: "Con đã chẳng để ý thấy chỉ có hoa mọc trên đường đi bên phía của con à? Đó là vì ta vẫn luôn biết khuyết điểm của con nên ta đã gieo hạt hoa dọc đường bên phía của con, và mỗi ngày trên đường mình đi về, con đã tưới nước cho chúng nó Hai năm nay, ta vẫn luôn hái được mấy bông hoa đẹp để chưng trên bàn. Nếu mà con không phải là con y như thế này, thì trong nhà đâu có được trang hoàng đẹp đẽ như vậy?" Mỗi người trong chúng ta đều có những khuyết điểm riêng biệt. Ai cũng đều là chiếc "Bình nứt" cả. Nhưng chính các vết nứt và khuyết điểm đó của từng người trong chúng ta mới khiến cho đời sống chung của chúng ta, trở nên thú vị và làm chúng ta thỏa mãn. Chúng ta phải chấp nhận cá tính của từng người trong cuộc sống, và tìm cho ra cái tốt trong họ. Vạn hạnh cho tất cả các bạn "BÌNH NỨT" của tôi . [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 12 Tự nhận thức SDRC - CFSI BIẾN HẠN CHẾ THÀNH ƯU ĐIỂM Judo, 10 tuổi, bị mất cánh tay trái trong một tai nạn ôtô. Cậu quyết định học võ và cậu bé bắt đầu những bài học đầu tiên với một võ sư già người Nhật. Cậu bé đã làm rất tốt, vì vậy cậu không hiểu sao, trong ba tháng học, thầy giáo chỉ dạy cậu đúng một thế duy nhất. “Thưa thầy,” cậu bé nói, “Con không nên học thêm những thế võ mới ạ?” “Đây là thế duy nhất mà con biết, nhưng cũng là thế duy nhất mà con cần biết,” vị võ sư trả lời. Dù không hiểu, nhưng tin tưởng thầy, cậu bé tiếp tục tập luyện. Vài tháng sau, vị võ sư đưa cậu đi thi đấu lần đầu tiên. Thật ngạc nhiên, cậu bé chiến thắng dễ dàng cả hai trận đầu. Trận thứ ba khó khăn hơn, nhưng sau một lúc, đối thủ của cậu trở nên mất kiên nhẫn và bị tấn công; cậu bé khéo léo sử dụng thế võ duy nhất của mình để chiến thắng. Và cậu đã vào đến trận chung kết trong khi vẫn chưa hết ngạc nhiên trước thành công của mình. Lần này, đối thủ của cậu to hơn, khỏe hơn, và nhiều kinh nghiệm hơn. Cậu bé có vẻ bị lấn át và bị tấn công. Lo rằng cậu có thể đau, trọng tài ngừng trận đấu. Khi ông định thổi còi cho kết thúc trận luôn thì người thầy ngăn lại, “Đừng, cứ để nó tiếp tục.” Ngay khi bắt đầu trở lại, đối thủ của cậu đã mắc phải một sai lầm nghiêm trọng: anh ta sơ hở, mất thế tự vệ. Ngay lập tức, cậu bé sử dụng thế duy nhất của mình ghìm chặt đối thủ. Cậu đã thắng trận đấu đó và vô địch cả cuộc thi. Trên đường về, trong lúc xem lại từng trận đấu, cậu lấy hết can đảm để hỏi thầy về điều mà cậu vẫn băn khoăn: “Thưa thầy, tại sao con có thể chiến thắng mà chỉ nhờ vào mỗi một miếng võ?” “Con thắng vì hai lý do,” người thầy trả lời. “Thứ nhất, con hầu như đã nắm được một trong những thế vật khó nhất của Judo. Và thứ hai, cách duy nhất để đối thủ có thể phòng vệ khỏi miếng võ ấy là phải tóm được cánh tay trái của con.” Điểm yếu lớn nhất của cậu bé đã trở thành điểm mạnh nhất của cậu! [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 13 Tự nhận thức SDRC - CFSI Phân loại Tính Cách Jung Myers-Briggs (MBTI) Đây là một phương pháp phân loại tính cách dựa trên các nghiên cứu của nhà tâm lý học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung và được Isabel Myer và Katherine Briggs bổ sung. Phương pháp này dựa trên nguyên lý của Jung cho rằng có thể phân loại tính cách con người dựa trên 3 tiêu chí: hướng nội/hướng ngoại; trực giác/giác quan; lý trí/tình cảm. Mục đích chính của Jung không phải là phần loại tính cách, ông chỉ cần một hệ thống phân loại để hỗ trợ cho các nghiên cứu của ông về ý thức và vô thức. Trong hệ thống phân loại của Jung, không có nhóm nào tốt, nhóm nào xấu, nhưng Jung nhận xét rằng: cùng một sự vật hiện tượng sẽ gây ra những suy nghĩ, cảm xúc, phản ứng khác nhau cho những người khác nhau. Ba tiêu chí cơ bản ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và phản ứng của một con người là: - Xu hướng tự nhiên của người đó  Hướng ngoại (Extroverted)/ Hướng nội (Introverted); - Cách thức mà người đó tìm hiểu và nhận thức thế giới bên ngoài  Giác quan (Sensation)/Trực giác (iNtuition); - Và cách thức mà người đó quyết định, đưa ra lựa chọn  Lý trí (Thinking)/ Tình cảm (Feeling). Sau này, Briggs/Myer bổ sung tiêu chí thứ 4: Nguyên tắc (Judging)/Linh hoạt (Perceiving). Từ 4 tiêu chí này, Briggs/Myer đưa ra 16 nhóm tính cách. Tên của mỗi nhóm đều có 4 chữ cái, đại diện cho 4 tiêu chuẩn phân loại. 16 Nhóm MBTI ENFP INFP ENFJ INFJ ESTJ ISTJ ESFJ ISFJ ENTP INTP ENTJ INTJ ESTP ISTP ESFP ISFP 4 Tiêu chí phân loại tính cách MBTI Tiêu chí 1 - Xu hướng tự nhiên: Extroverted (Hướng ngoại)/Introverted (Hướng nội) Mỗi người đều có 2 biểu hiện: Hướng ngoại - hướng về thế giới bên ngoài gồm các hoạt động, con người, đồ vật... Hướng nội - hướng vào nội tâm, bao gồm ý nghĩ, tư tưởng, trí tưởng tượng. Đây là 2 mặt đối lập nhưng bổ sung lẫn nhau. Tuy nhiên, một mặt sẽ chiếm ưu thế trong việc phát triển tính cách và ảnh hưởng đển cách ứng xử Các đặc điểm của nhóm Extraverted:  Hành động trước hết, suy nghĩ và cân nhắc sau  Cảm thấy khổ sở nếu bị cách ly với thế giới bên ngoài  Hứng thú với con người, sự việc xung quanh  Quảng giao, thích tiếp xúc với nhiều người Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái đầu tiên trong MBTI của bạn là E Các đặc điểm của nhóm Introverted:  Suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi hành động  Cần có một khoảng thời gian riêng tư đáng kể để nạp năng lượng  Hứng thú với đời sống nội tâm, đôi khi tự cô lập với thế giới bên ngoài  Thích nói chuyện tay đôi Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái đầu tiên trong MBTI của bạn là I Tiêu chí 2 - Cách tìm hiểu và nhận thức thế giới: Sensation (Giác quan)/iNtuition (Trực giác): Trung tâm "Giác quan" trong não bộ chú ý đến các chi tiết liên quan đến hình ảnh, âm thanh, [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 14 Tự nhận thức SDRC - CFSI mùi vị... của hiện tại được đưa đến từ các giác quan của cơ thể. Nó phân loại, sắp xếp và ghi nhận những chi tiết của các sự kiện thực tế đang diễn ra. Nó cũng cung cấp các thông tin chi tiết của các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Trung tâm "Trực giác" của não bộ chịu trách nhiệm tìm hiểu, diễn dịch, và hình thành các mô hình từ thông tin thu thập được; sắp xếp các mô hình và liên hệ chúng với nhau. Nó giúp cho não bộ suy đoán các khả năng và tiên đoán tương lai. Mặc dù cả hai cách nhận thức đều cần thiết và được mọi người sử dụng, nhưng mỗi người chúng ta có xu hướng thích cách này hơn cách kia Các đặc điểm của nhóm Sensation:  Sống với hiện tại  Thích các giải pháp đơn giản và thực tế  Có trí nhớ tốt về các chi tiết của những sự kiện trong quá khứ  Giỏi áp dụng kinh nghiệm  Thích các thông tin rõ ràng, chắc chắn; không thích phỏng đoán hoặc những sự việc không rõ ràng Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 2 trong MBTI của bạn là S Các đặc điểm của nhóm iNtuition:  Hay nghĩ đến tương lai  Sử dụng trí tưởng tượng, hay sáng tạo ra những khả năng mới  Thường chỉ nhớ đến ý chính và các mối liên hệ  Giỏi vận dụng lý thuyết  Thoải mái với sự nhập nhằng, hay thông tin không rõ ràng Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 2 trong MBTI của bạn là N Tiêu chí 3 - Cách quyết định và lựa chọn: Thinking (Lý trí)/Feeling (Tình cảm): Phía "Lý trí" trong não bộ con người phân tích thông tin một cách khách quan, làm việc dựa trên đúng/sai, suy luận và đưa ra kết luận một cách có hệ thống. Nó là bản chất logic của con người. Phía cảm giác của não bộ đưa ra quyết định dựa trên xem xét tổng thể; yêu/ghét; tác động qua lại lẫn nhau; và các giá trị nhân đạo hay thẩm mỹ. Đó là bản chất chủ quan của con người. Mọi người đều dùng cả 2 cách để đưa ra các quyết định, nhưng một cách tự nhiên mỗi người đều thiên về hoặc là lý trí, hoặc là tình cảm khi đưa ra quyết định của mình Các đặc điểm của nhóm Thinking:  Luôn tìm kiếm sự kiện và logic để đưa ra kết luận  Chú ý đến các nhiệm vụ, công việc cần phải hoàn thành một cách tự nhiên  Đưa ra các phân tích phê phán và có mục đích một cách dễ dàng  Chấp nhận xung đột là một phần tự nhiên trong mối quan hệ giữa người với người. Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 3 trong MBTI của bạn là T Các đặc điểm của nhóm Feeling:  Xem xét cảm giác cá nhân và ảnh hưởng đến người khác trước khi đưa ra quyết định  Một cách tự nhiên, dễ xúc động trước nhu cầu hay phản ứng của người khác.  Tìm kiếm sự nhất trí hay ý kiến của đa số  Khó xử khi có xung đột Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 3 trong MBTI của bạn là F Tiêu chí 4 - Cách thức hành động: Judging (Nguyên tắc)/Perceiving (Linh hoạt): Tiêu chuẩn 4 liên quan đến cách thức mà mỗi người lựa chọn để tác động tới thế giới bên ngoài. Phong cách Judging tiếp cận thế giới một cách có kế hoạch, có tổ chức, có chuẩn bị, quyết định và đạt đến một kết cục rõ ràng. Phong cách Perceiving tiếp cận thế giới một cách tự nhiên, tìm cách thích nghi với hoàn cảnh, thích một kết cục bỏ ngỏ, chấp nhận những cơ hội mới, và chấp nhận thay đổi kế hoạch Các đặc điểm của nhóm Judging:  Có kế hoạch chu đóa trước khi hành động  Tập trung vào các hoạt động có tinh nhiệm vụ; hoàn tất các công đoạn quan trọng trước khi tiếp tục  Làm việc tốt nhất và không bị stress khi Các đặc điểm của nhóm Perceiving:  Có thể hành động mà không cần lập kế hoạch; lập kế hoạch tùy theo tình hình  Thích làm nhiều việc cùng lúc, không phân biệt giữa công việc và trò chơi  Chịu sức ép tốt, vẫn làm việc tốt khi sắp [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 15 Tự nhận thức SDRC - CFSI vượt trước thời hạn  Tự đặt ra mục tiêu, thời hạn, và các thủ tục để quản lý cuộc sống Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 4 trong MBTI của bạn là J hết thời hạn  Tìm cách tránh né cam kết nếu nó ảnh hưởng đến sự linh động, tự do và phong phú. Nếu đây là các đặc điểm của bạn thì chữ cái thứ 4 trong MBTI của bạn là P NỘI DUNG 72 CÂU TRẮC NGHIỆM STT Câu hỏi Đúng Sai 1) Không bao giờ trễ hẹn 2) Thích làm những việc linh động và nhanh nhẹn 3) Thích mở rộng mối quan hệ 4) Thấy hình ảnh đời sống mình trong những buổi diễn hay phim ảnh. 5) Có phản ứng nhanh trước những việc như: chuông điện thoại reo hay những câu hỏi bất ngờ 6) Thích bao hàm tổng thể hơn là chi tiết. 7) Có chiều hướng không hành động theo cảm tính mặc dù điều đó có thể nguy hiểm cho những người có mối quan hệ thân thiết 8) Nghiêm khắc tuân theo những luật lệ định sẵn đôi khi ngăn chặn một kết quả tốt hơn 9) Khó có thể làm bạn kích động 10) Luôn nhận trách nhiệm 11) Luôn nghĩ về nhân loại và định mệnh con người 12) Bạn tin là những quyết định tốt nhất là những quyết định có thể được thay đổi, điều chỉnh dễ dàng 13) Nhận định khách quan luôn tốt trong mọi trường hợp. 14) Hành động ngay lập tức chứ không suy xét kỹ càng về những lựa chọn 15) Tin tưởng vào lý trí hơn là cảm xúc. 16) Có xu hướngvừa làm vừa cải thiện hơn là lên kế hoạch kỹ càng. 17) Thích làm những hoạt động xã hội khi rảnh rỗi (dự tiệc, mua sắm, giao lưu) 18) Thường lên kế hoạch chi tiết cụ thể. 19) Những hành động luôn bị chi phối bởi cảm xúc. 20) Là người kín đáo, dè dặt trong những mối quan hệ. 21) Luôn biết cách sử dụng thời gian vào mục đích tốt. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 16 Tự nhận thức SDRC - CFSI STT Câu hỏi Đúng Sai 22) Giúp đỡ mọi người mà không cần đền đáp 23) Luôn suy ngẫm về sự phức tạp của cuộc đời. 24) Sau khi trả qua những lúc bận rộn, nháo nhiệt thì thường thích ở một mình 25) Luôn làm việc một cách vội vã 26) Luôn nhìn thấy được những nguyên lý tổng quát đằng sau những vấn đề cụ thể 27) Thường xuyên dễ dàng bày tỏ cảm xúc. 28) Không muốn to tiếng với mọi người 29) Thấy nhàm chán khi chỉ đọc sách lý thuyết. 30) Có xu hướng đồng cảm với người khác. 31) Đánh giá cao sự công bằng hơn lòng nhân từ. 32) Nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới. 33) Nói chuyện, chia sẻ với càng nhiều người, bạn càng thấy thoải mái 34) Làm việc dựa vào kinh nghiệm bản thân hơn là lý thuyết 35) Thích kiểm soát xem mọi công việc đang hoạt động 36) Dễ dàng thấu hiểu nỗi lo của người khác 37) Thích đọc sách hơn là đi dự tiệc. 38) Thích là tâm điểm của buổi tiệc (sự kiện). 39) Có xu hướng thích trải nghiệm điều mới hơn là giải quyết theo hướng cũ. 40) Tránh sự ràng buộc của luật lệ 41) Dễ xúc động trước những câu chuyện khốn khó của mọi người 42) Thời hạn quan trọng hơn là chất lượng của công việc (bài – kế hoạch) 43) Thích ở một mình, tách biệt với sự ồn ào. 44) Luôn muốn tự làm mọi việc. 45) Tất cả mọi thứ đều có thể được phân tích. 46) Luôn cố gắng hết mình để hoàn thành kịp thời hạn. 47) Thích thú khi sắp xếp mọi thứ theo trình tự. 48) Cảm thấy thoải mái giữa đám đông. 49) Điều khiển và kiểm soát tốt trước những thèm muốn và cám dỗ. 50) Dễ dàng hiểu được những lý thuyết, nguyên lý. 51) Quá trình tìm kiếm giải pháp quan trọng hơn chính giải pháp đó. 52) Thích đứng bên ngoài hơn trung tâm. 53) Khi giải quyết vấn đề nào đó, thường tập trung vào những cách tiếp cận tương đồng hơn là tìm hướng giải quyết mới. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 17 Tự nhận thức SDRC - CFSI STT Câu hỏi Đúng Sai 54) Hành động kiên định theo những nguyên tắc cá nhân. 55) Yêu thích sự mạo hiểm. 56) Thích họp trong nhóm nhỏ hơn . 57) Khi cân nhắc vấn đề gì đó thì thường quan tâm tới vấn đề đó hơn là những hệ quả kéo theo. 58) Luôn cân nhắc một cách khoa học để làm mọi thứ tốt nhất 59) Cảm thấy khó diễn tả cảm xúc (ít biểu lộ cảm xúc) 60) Luôn suy nghĩ về những cách để cải thiện vấn đề. 61) Những quyết định thường dựa trên cảm xúc nhất thời hơn là lên kế hoạch rõ ràng. 62) Thích yên tĩnh một mình hay ở nhà khi rảnh rỗi. 63) Thoải mái khi làm việc theo những phương pháp cũ. 64) Dễ bị tác động bởi những cảm xúc mạnh. 65) Luôn tìm kiếm cơ hội (thử thách). 66) Bàn làm việc luôn gọn gàng ngăn nắp. 67) Theo nguyên tắc định sẵn, bạn luôn quan tâm đến những việc phải làm trước hơn là kế hoạch tương lai. 68) Thấy thoải mái khi đi dạo một mình. 69) Dễ dàng trao đổi những vấn đề xã hội 70) Hiếm khi thay đổi thói quen. 71) Sẵn lòng và có khả năng thấu hiểu đồng cảm với người khác. 72) Luôn thấu hiểu được vấn đề và sự kiện xảy ra bằng cách nào. [Type text] Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” – tháng 6/2012 Trang 18 Tự nhận thức SDRC - CFSI TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Thị Oanh. 2007. Làm việc theo nhóm. NXB Trẻ [2] Nguyễn Thị Oanh. 2010. Kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên. NXB Trẻ [3] Nguyễn Thị Oanh. 2008. Hạnh phúc - Phải lựa chọn, NXB Trẻ [4] Nguyễn Thị Oanh. 1998. Công tác Xã hội đại cương. NXB Giáo Dục [5] Th.s Đoàn Tâm Đan và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2005). Công tác xã hội cá nhân. Tài liệu Tập huấn SDRC, lưu hành nội bộ. [6] Th.s Chu Dũng và Th.s Nguyễn Thị Ngọc Bích (2009). Công tác xã hội cá nhân. Tài liệu Tập huấn của SDRC, lưu hành nội bộ. [7] GS.TS Phạm Huy Dũng (chủ biên). 2006. Bài giảng Công tác xã hội – Lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp. NXB Đại học Sư Phạm [8] Social Work Education Project (SWEP) – Vietnam. Certificate Course on Social Work Administration. Module 1.2 – Human Behaviour and Social Environment [9] Johari Window - Kiwipedia [10] Choices: Developing Your Self-Awareness. [11] Toitaigioi.com [12] [13]

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftu_nhan_thuc_6005.pdf