Tổng hợp 15 câu hỏi ôn thi môn Triết học

Câu 1: Anh/chị hãy phân tích nội dung của CNDVBC với tính cách là 1 hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học. Nội dung của CNDVBC với tính cách hạt nhân lý luận của thế giới qua KH bao gồm hai nhóm quan niệm. Đó là nhóm quan niệm duy vật về thế giới nói chung và quan niệm duy vật về xã hội nói riêng. a/ Quan niệm về thế giới: nó thể hiện ở chổ nó coi vật chất của thế giới là vật chất và thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Nó được diễn tả bởi những nội dung sau đây: - Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại khách quan vĩnh viễn vô hạn, không ai sinh ra và tiêu diệt được nó. - Tất cả các sự vật hiện tượng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất hay là những thuộc tính cụ thể của vật chất và trong thế giới này không cá gì khác ngoài vật chất đang vận động. - Các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất đều nằm trong mọi quan hệ chuyển hóa lẫn nhau là nguyên nhân và kết quả lẫn nhau và đều bị chi phối bởi những qui luật chung giống nhau. - Ý thức là một đặc tính của bộ não người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não người.

doc44 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 03/09/2013 | Lượt xem: 14357 | Lượt tải: 86download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tổng hợp 15 câu hỏi ôn thi môn Triết học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
về chất của sự vật còn phụ thuộc vào việc liên kết các yếu tố tạo thành sự vật. Do đó, trong hoạt động của mình, con người cần phải biết tạo ra sự tác động vào phương thức liên kết các yếu tố tạo ra sự vật. Vd: kim cương và than chì đều được tạo ra bởi carbon do phương thức liên kết các yếu tố khác nhau. Vd: sức mạnh của 1 đội bóng, sức mạnh tập thể nhưng thiếu liên kết các cầu thủ => thất bại. Vd: trong XH, lợi ích là chất keo không thứ gì phá nổi. Quy luật tự nhiên và xã hội đều khách quan như nhau, nhưng khác với quy luật tự nhiên – quy luật tự động nó diễn ra, quy luật của xã hội có sự tham gia của con người có ý thức. Do đó, để bước nhảy trong lĩnh vực xã hội được thực hiện thì con người không chỉ trông chờ vào quy luật khách quan mà phải nỗ lực chủ quan. Vd: để đất nước phát triển ta phải chấm dứt thời kỳ quá độ. Trước hết tất cả Đảng, dân, đất nước phải tồn tại trong tất cả các qui luật khách quan, ngoài ra phải phát huy tinh thần năng động chủ quan, đó là con người => không chung chung mà là Đảng, nhà nước, nhân dân. Sự vận dụng quy luật này của Đảng cộng sản Việt Nam vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta Quy luật này được vận dụng trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam rất sinh động: Trong cách mạng chống thực dân, đế quốc, Đảng ta đã nắm được qui luật của sự biến đổi, vận dụng lý luận đó vào thực tiễn. Chúng ta phải xây dựng lực lượng cách mạng dần dần, từ nhỏ đến lớn, từ những trận đánh nhỏ đến trận đánh lớn, từ đánh du kích đến trận đánh chính quy. Quá trình phát triển của phong trào cách mạng được biến đổi dần dần. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) chúng ta đã lớn mạnh dần về các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao. Ví dụ, từ chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông (1947), chiến thắng biên giới (1950), chiến thắng Hòa Bình, Tây Bắc (1952-1953), cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) làm chấn động địa cầu. Sự biến đổi dần dần về quân sự đã tạo ra sự biến đổi về chất. Thực dân Pháp phải đầu hàng. Hòa bình lập lại ở Đông Dương, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đất nước ta bước sang giai đoạn mới thay đổi hẳn về chất. Cũng lý giải như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam cũng là một quá trình biến đổi về lượng. Từ chiến thắng chiến tranh đặc biệt (1961-1965) đến chiến tranh cục bộ (1965-1968). Từ chiến tranh cục bộ chúng ta đã chiến thắng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hóa (1969-1973) của đế quốc Mỹ và cuối cùng chúng ta đã mở chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 giải phóng miền Nam, đỉnh cao của nó là chiến dịch "Hồ Chí Minh" (ngày 30.4.1975). Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế đất nước, chúng ta cũng ứng dụng phương pháp luận của qui luật lượng chất. Quá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hiện nay không thể nóng vội. Phải xây dựng cơ sở vật chất từ đầu thông qua quá trình CNH – HĐH đất nước, đầu tư xây dựng CSHT, hoàn thiện KTTT cho phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, phải tích lũy và tận dụng sức mạnh của các thành phần kinh tế, phát động sức mạnh của toàn dân, của các nguồn lực kinh tế của đất nước, nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, năng lượng dầu khí, du lịch, dịch vụ… tất cả tạo nên sức mạnh to lớn của nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu to lớn. Đảng ta đã vận dụng tổng hợp tất cả các quy luật một cách đầy đủ, sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của dân tộc đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, củng cố địa vị trên trường quốc tế và bước đầu đã gặt hái được những thành quả đáng mừng như: gia nhập phiên chợ toàn cầu WTO, Thành viên không thường trực Đại hội đồng Liêp hợp quốc... và phấn đấu đến năm 2020 nước ta sẽ cơ bản là một nước công nghiệp. Đất nước có nở hoa hay không là do tay tôi, tay bạn vun trồng. "Đừng hỏi Tốc quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay". Câu 8. Phủ định biện chứng là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, anh/chị hãy chứng minh rằng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ là 1 quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp; cái mới sẽ có thể thất bại tạm thời, nhưng cuối cùng nó sẽ chiến thắng cái cũ. * Phủ định biện chứng là gì? - Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ một mắt khâu của quá trình tự phát triển của sự vật đưa đến sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định. Phủ định biện chứng cũng là sự khẳng định. Phủ định biện chứng gắng liền với giải quyết mâu thuẩn và bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật; nó mang tính khách quan – nội tại, tính kế thừa – tiến lên. - Phủ định biện chứng là một hình thức cụ thể hóa nguyên lý về sự phát triển, có khuynh hướng tiến lên theo hình thức xoáy ốc, thể hiện tính chu kỳ trong quá trình phát triển. Do đó, phủ định biện chứng là cơ sở, phương pháp luận để: + Giúp chúng ta hiểu được xu hướng phát triển của thế giới, đó là quá trình diễn ra không thẳng tắp, mà quanh co, phức tạp, đuợc diễn tả bằng đường xoáy ốc, song phát triển là khuynh hướng chung, khuynh hướng chủ đạo, tất yếu của sự vận động. VD: CMVN: tính từ thời điểm ĐCSVN ra đời đến nay, cho ta thấy lịch sử phát triển của dân tộc ngày càng phát triển đi lên và không đi theo con đường thẳng mà quanh co, khúc khuỷu như bất kỳ lịch sử phát triển nào khác. Đó là sự chống đối của CN đế quốc Mỹ, sự phá phách của các thế lực tư bản, đó là sự sai lầm của chính chúng ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nó đã tạo cho lịch sử nước ta phát triển có những lúc cực kỳ khó khăn, gian khổ…. + Giúp ta hiểu đầy đủ hơn về cái mới, cái mới ra đời là phù hợp với quy luật là cái tất thắng. Thế nhưng, trong lúc cái mới vừa nảy sinh thì cái cũ vẫn còn có sức mạnh. Bởi vậy, cái quan điểm chân chính về sự phát triển thì phải phát hiện cái mới, ủng hộ, nuôi dưỡng , bảo vệ và phát triển cái mới. Có như vậy, “ cái mới” mới chiến thắng được cái cũ và khẳng định được mình trong hiện thực. Vì cái mới là cái đơn nhất, còn non nớt, mỏng manh,yếu đuối; cái cũ mất đi nhưng chưa mất đi hẳng mà vẫn còn đồ sộ, to lớn, mạnh mẽ. VD: một tư tưởng mới, 1 doanh nghiệp mới, 1 cách quản lý mới, 1 phát minh kỹ thuật mới… Quan sát hiện tượng tự nhiên, trên mặt đất hàng trăm, hàng ngàn những cây tre, to lớn, khỏe mạnh chen chút nhau giành mọc đầy kín mặt đất. Nhưng bằng sức sống tuyệt vời của cái mới thì cây măng vẫn trồi lên mặt đất , đây là điều tất yếu, không ai cản được, nó chỉ có thể mọc thẳng hay cong mà thôi. Trong xã hội, các thế lực khác thù địch và tìm mọi cách để tiêu diệt CNXH, nhưng CNXH vẫn tồn tại vì đó là tất yếu. + Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, có phê phán; cần phải chống lại khuynh hướng kế thừa nguyên si, máy móc; chống lại phủ định sạch trơn, hư vô quá khứ. Phải thấy sự kế thừa trong tự nhiên và xã hội là có sự khác nhau. VD: Dân tộc ta tiến lên con đường CNXH mà bỏ qua CNTB, chúng ta nhận thấy được những mặt hạn chế của CNTB đó là sự bóc lột con người một cách phi nhân tính, quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đó là những mặt cần bát bỏ, phê phán, loại trừ. Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực đáng để chúng ta học hỏi, kế thừa, đó là: + Trình độ phát triển của llsx + Trình độ phát triển của KHKT + Trình độ quản lý XH, quản lý KTế + Yếu tố dân chủ của CNTB(vd: bầu cử…) Kế thừa trong tự nhiên là quá trình chọn lọc, diễn ra hoàn toàn tự nhiên. Kế thừa trong xã hội diễn ra phức tạp vì có liên quan đến lợi ích, quyền lợi, địa vị của con người. Câu 9. Phân tích cơ sở lý luận và nêu những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. * Cơ sở lý luận: a. Thực tiễn: là hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiện, xã hội và bản thân con người. +Thực tiễn là một hoạt động vật chất có mục đích của con người: Hoạt động thực tiễn là bản chất của con người. Động vật chỉ hoạt động theo bản năng để phù hợp với thế giới bên ngoài một cách thụ động, nhưng Con người chủ động thích nghi với thế giới bên ngoài bằng cách cải tạo thể giới thoả mãn theo nhu cầu của mình. Trong hoạt động vật chất, con người sử dụng các phương tiện, công cụ, sức mạnh vật chất của mình để tác động vào tự nhiên, xã hội nhằm cải tạo, biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động tích cực và làm chủ thế giới. Khi hoạt động thực tiễn, để đạt hiệu quả cao, con người tạo ra những vật phẩm không có sẵn trong tự nhiên, đó chính là những công cụ, và sử dụng chúng. Thực tiễn gồm những dạng cơ bản và không cơ bản của thực tiễn: Dạng cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất – là một dạng họat động nguyên thủy và cơ bản và nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động chính trị xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội. Hoạt động thực nghiệm khoa học do nhu cầu phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Dạng không cơ bản: là những họat động được hình thành và phát triển từ những dạng cơ bản, chúng là dạng thực tiễn phái sinh. Ví dụ: họat động trong một số lĩnh vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo … + Thực tiễn có tính chất lịch sử xã hội: Thực tiễn là hoạt động có tính chất loài (loài người). Hoạt động thực tiễn không thể được tiến hành không chỉ một vài cá nhân mà là tòan xã hội, từ thế hệ này sang thế hệ khác, …Trình độ và hình thức hoạt động thực tiễn thay đổi qua các giai đoạn khác nhau của xã hội. Vì vậy về phương thức thực hiện cũng như về nội dung thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội. + Thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người:Thực tiễn hướng vào việc cải tạo giới tự nhiên, biến giới tự nhiên thứ 1 thành giới tự nhiên thứ 2 – “thế giới thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người để con người tồn tại và phát triển”.Nó hướng đến việc cải tạo các chế đô xã hội thành một xã hội ngày càng văn minh, dân chủ , công bằng. Hoạt động thực tiễn còn hướng đến cải tạo bản thân con người để con người ngày càng hoàn thiện hơn. b. Lý luận: Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất bản chất, những quy luật của các sự vật hiện tượng. b.1 Lý luận có nguồn gốc: + Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm lý luận được hình thành, nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát và cũng không bắt buộc mọi lý luận đều xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối, lý luận có thể đi trước dữ kiện kinh nghiệm. + Muốn hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là quá trình lặp đi lặp lại diễn biến của sự vật hiện tượng. Nhận thức kinh nghiệm là kết quả của tri thức kinh nghịêm. b.2 Chức năng cơ bản của lý luận là phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn khách quan và chứa năng phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. b.3 Lý luận có hai cấp độ khác nhau, cấp độ lý luận ngành và cấp độ lý luận triết học ( tùy vào phạm vi phản ánh của nó và vai trò của phương pháp luận). YÊU CẦU phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Thực tiễn và lý luận có mối quan hệ biện chứng cho nhau. a. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận. Lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. + Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Con người nhận thức giới tự nhiên đầu tiên bằng hoạt động thực tiễn . Sự tác động của con người buộc giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, quy luật để từ đó con người nhận thức chúng.Ban đầu con người nhậnnthức bằng những tài liệu cảm tính, qua Quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát hóa …để phản ánh bản chất quy luật vận động của sự vật hiện tượng trong thế giới từ đó xây dựng thành một môn khoa học lý luận Thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, lý luận. Với CN Mác, thực tiễn trước hết là hoạt động sản xuất vật chất vì nó là cơ sở sinh sống của con người; lý luận xuất hiện trên cơ sở của thực tiễn, là kết quả tổng kết kinh nghiệm của quần chúng, không có thực tiễn thì không có và không thể có lý luận khoc học. Lý luận khoa học không phải là những hiện tượng độc lập, mà chỉ có những lý luận nào gắn với thực tiễn, phục vụ nhu cầu của thực tiễn và được thực tiễn kiểm tra thì mới bắt rễ sâu xa trong đời sống. + Thực tiễn là động lực của lý luận. Qua hoạt thực tiễn luôn nảy sinh những vấn đề đòi hỏi lý luận phải hoàn thiện chính mình để bao quát và giải quyết tốt các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Điều này càng làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. + Thực tiễn là mục đích của lý luận. Không có thực tiễn thì lý luận không thể đem lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người và qua thực tiễn đã giúp cho lý luận hoàn thành được mục đích của mình. Lý luận hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn làm cho thực tiễn ngày càng hiệu quả hơn. + Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận: Lý luận chỉ được coi là chân lý khi nó phù hợp với thực tiễn khách quan mà nó phản ánh, và đồng thời nó được thực tiễn kiểm nghiệm. Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại.; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh , bổ sung hoặc nhận thức lại. + Thừa nhận thực tiễn là chân lý, cần chú ý những vấn đề: Thực tiễn là chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Ngoài tiêu chuẩn thực tiễn, còn có những tiêu chuẩn khác: logic, tiâu chuẩn giá trị…nhưng những tiêu chuẩn này vẫn trên nền tảng thực tiễn. Cần hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận một cách biện chứng, tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối (vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm lý luận) vừa có tính tương đối (vì thực tiễn không đứng nguyên một chỗ, mà biến đổi và phát triển). + Với việc phân tích vai trò của thực tiễn với lý luận, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn: xây dựng lý luận phải xuất phát từ thực tiễn , dựa trên cơ sở thực tiễn, nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới lý luận suông. b. Lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận. + Hoạt động thực tiễn của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường. Chính nhờ có lý luận soi đường, hoạt động thực tiễn của con người mới trở thành tự giác , đạt được mục đíchmong muốm. Khi lý luận đạt đến chân lý thì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển của các mối quan hệ thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xảy ra. Lý luận còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế hiểu biết của con ngừoi, tăng năng lực hoạt động, có vai trò giác ngộ mục tiêu lý tưởng của con người, liên kết các cá nhân thành cộng đồng. + Vận dụng lý luận vào thực tiễn cần phân tích rõ từng tình hình cụ thể, tránh vận dụng lý luận máy móc, giáo điều kinh viện . Như vậy chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn + Từ lý luận xây dựng mô hình thực tiễn phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao. + Bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời bổ sung những khuyết điểm của lý luận hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Việc tuân thủ những nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. + Bệnh kinh nghiệm: là khuynh hướng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò thực tiễn để hạ thấp vai trò lý luận. Người mắc bệnh thường thỏa mãn với vốn kinh ngiệm bản thân, không chịu nâng cao trình độ lý luận, coi thường trí thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ trỉ trệ. Muốn khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả cần: Quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất goiữa lý luận và thực tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ sung, vận dụng lý luận phù hợp với thực tiễn Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng XHCN. Vì kinh tế thị trường luôn vận động biến đổi . đòi hỏi mọi thành phần kinh tế, phải năng động sáng tạo, phải thường xuyên bám sát thị trường để ứng phó để chủ động về quyết sách kinh doanh phù hợp. + Bệnh giáo điều: Là bệnh sách vở, nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ, hiểu lý luận một cách trừu tượng mà không thâu tóm được bản chất cách mạng và khoa học của nó, nằng nề với những gì diễn ra trong sách vở, không đối chiếu với cuộc sống, thoát ly cuộc sống. Khi đề ra chủ trương chính sách thường nặng về xuất phát từ sách vở mà không xuất phát từ điều kiện cụ thể của đất nước. Khi áp dụng lý luận thì rập khuôn máy móc, áp dụng kinh nhgiệm CNXH của nước khác một cách rập khuôn vào nước mình, áp dụng kinh nghiệm chiến tranh cách mạng vào thời bình… Thực chất của bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò của lý luận, xem thường thực tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn. Muốn khắc phục phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nghĩa lã lý luận phải gắn liền với thực tiễn, khái quát từ thực tiễn, kiểm tra thường xuyên trong thực tiễn và không ngừng phát triển cùng thực tiễn. Câu 10: Hình thái kinh tế - xã hội là gì ?. Anh/chị hãy phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên”. Ý nghĩa của học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội ? a/ Hình thái kinh tế - xã hội là gì ? Hình thái kinh tế - xã hội là một xã hội trọn vẹn trong một giai đoạn lịch sử cụ thể với một kiểu QHSX phù hợp với trình độ nhất định của LLSX và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Lưu ý: xã hội trọn vẹn ở đây là một xã hội đầy đủ yếu tố cơ bản và yếu tố không cơ bản, nó tồn tại trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Nếu như vậy có thể nói là CNXH chưa phải là một hình thái kinh tế - xã hội theo đúng nghĩa hình thái KT-XH Công xã nguyên thủy, hình thái KT-XH chiếm hữu nô lệ, hình thái KT-XH phong kiến, hình thái KT-XH TBCN, mà hình thái kinh tế - xã hội XHCN là một giai đoạn đầu của hình thái KT-XH CSCN. b/ Phân tích tư tưởng của Mac: “Sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên” Đây là một trong những tư tưởng rất quan trọng của Mác được trình bày trong tác phẩm bộ tư bản. Nhân loại đã đi qua 5 hình thái kinh tế - xã hội, cụ thể bao gồm: Công xã NT, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và đang dần tới CNCS. Thế nào là quá trình lịch sử - tự nhiên ?. Để trả lời cho câu hỏi này đòi hỏi phải tiếp cận hai câu hỏi sau: 1/ Điều gì đã làm XH phát triển từ thấp đến cao như vậy? nguyên nhân nào, nguồn gốc nào, động lực nào, phương pháp nào ?. Bằng phương pháp loại trừ thì nguồn gốc ấy ko phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Trên quan điểm không có người thì không có lịch sử, con người làm nên lịch sử nhưng con người không được lựa chọn lịch sử cũng như con người làm nên llsx nhưng con người không lựa chọn llsx cho mình, cũng như con người ko lựa chọn cha mẹ, tổ quốc cho mình, nó sinh ra ntn là hoàn toàn độc lập khách quan. Như vậy lịch sử phát triển từ thấp đến cao ko phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, ko phụ thuộc vào sức mạnh siêu nhiên. Mà do sự tác động của những quy luật khách quan của đời sống XH như quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, quy luật CSHT quyết định KTTT, quy luật giai cấp và đấu tranh giai cấp. Như vậy sự phát triển của XH từ thấp đến cao là do sự tác động của các QL, torng đó quyết định là quy luật QHSX quyết định LLSX. 2/ Nguồn gốc phát triển của lịch sử XH suy đến cùng có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ sự phát triển LLSX của XH đó. Như vậy do chi phối của các quy luật mà nó làm cho nhân loại đi từ thấp đến cao, nhưng do sự tác động bởi các yếu tố như hoàn cảnh địa lý, đời sống tâm lý, truyền thống văn hóa của dân tộc, sự tương quan lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp XH và có sự tác động của tình hình quốc tế đã làm cho lịch sử của thế giới trở nên đa dạng, cụ thể phải phát triển từ thấp đến cao có thể bỏ qua 1 hay 2 hình thái KTXH, không trở nên đơn điệu mà phát triển phong phú. VD như ở VN đã bỏ qua hình thái KT-XH TBCN tiến thẳng lên CNXH nhưng vẫn kế thừa những đặc tính ưu việt của CNTB như tính dân chủ, KHKT, KHXH; nước Mỹ bỏ qua hình thái KT-XH phong kiến tiến đến TBCN do tác động từ bên ngoài là nước Anh, Pháp; nước Úc từ hình thái KT-XH từ công xã NT tiến thẳng lên TBCN, bỏ qua PK. c/ Ý nghĩa của học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội ? -> nhận thức + thực tiễn Trong nhoạt động nhận thức và thực tiễn xã hội, người ta không thể xuất phát từ ý thức tư tưởng, từ ý chí của con người để giải thích về đời sống xã hội, mà ngược lại phải tìm cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội từ trong sản xuất, từ phương thức sản xuất; đồng thời, để có thể thực hiện được thắng lợi của xã hội này đối với xã hội khác, suy đến cùng xã hội đó phải tạo ra được một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, năng suất loa động cao hơn phương thức sản xuất cũ. Trong nhận thức, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Trong đó, phân tích QHSX không thể tách rời LLSX; phân tích các quan hệ xã hội không tách rời QHSX; mặt khác, trong thực tiễn, việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng XH mới phải được tiến hành một cách đồng bộ ở tất cả các mặt của đời sống xã hội: từ LLSX đến QHSX, từ CSHT đến KTTT, trong đó xây dựng LLSX mới là cái có ý nghĩa quyết định. Để nhận thức đúng về đời sống XH, về vận động phát triển của XH, phải đi sâu nghiên cứu tìm ra được quy luật vận động phát triển khách quan của XH nói chung, của từng XH cụ thể nói riêng. Trong thực tiễn, việc cải tạo XH cũ, xây dựng XH mới đòi hỏi phải nhận thức và vận dụng quy luật khách quan, chống chủ quan duy ý chí. Để nhận thức đúng đắng con đường phát triển của mội dân tộc, phải kết hợp chặt chẽ giữa việc nghiên cứu những quy luật chung với việc nghiên cứu một cách cụ thể điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc về điều kiện tự nhiên, về truyền thống văn hóa, về quan hệ giai cấp, về điều kiện quốc tế, …. Mặt khác, trong hoạt động thực tiễn, đòi hỏi phải vận dụng một cách sáng tạo những quy luật chung vào những điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc để tìm ra con đường đi một cách đúng đắn nhất. Câu 11: anh / chị hãy phân tích phép biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội. Đảng CSVN đã vận dụng phép biện chứng này như thế nào vào giai đoạn cách mạng hiện nay? Trả lời: a/ Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội: a1/ LLSX, QHSX: * Lực lượng sản xuất: - Khái niệm: là toàn bộ các yếu tố vật chất-kỹ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong quan hệ biện chứng với nhau tạo thành nguồn lực thực tiễn tác động vào giới tự nhiên làm ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình và nhu cầu của XH. - Kết cấu của llsx gồm: người lao động, tư liệu sx, khoa học + Người lao động: phải đủ tuổi tác từ 18-60 tuổi, có đầy đủ sức vóc, trí tuệ; có đủ sức khỏe; tay nghề (trình độ chuyên môn) và những phẩm chất khác như ý thức tổ chức kỹ luật, tinh thần trách nhiệm. + Tư liệu sản xuất: là một phần của giới tự nhiên tham gia vào quá trình sx. Tlsx bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Tlsx dùng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động. Tư liệu lao động gồm phương tiện lao động và công cụ lao động. Công cụ lao động là bộ phận quan trọng nhất trong tư liệu sx vì công cụ lao động thể hiện trình độ chế ngự tự nhiên của con người. Công cụ lao động quyềt định năng suất lao động. Năng suất lao động lại là thước đo trình độ của 1 chế độ xh. + Khoa học: ngày nay khoa học đã trở thành llsx trực tiếp Khoa học bao gồm KHTN, KHXH, KH nhân văn, Kh kỹ thuật Những phát minh, sáng chế áp dụng nhanh chóng vào sx. KH thâm nhập vào tất cả các yếu tố cấu thành llsx Trong các yếu tố này thì người lao động giữ vai trò quyết định vì người lao động là chủ thể của quá trình sx. Họ là người nghĩ ra phát minh KH-KT, cũng là người áp dụng sự kiện đó vào sx cho nên các quốc gia phải có chiến lược đối với người lao động, nhưng toàn bộ phẩm chất của người lao động lại phụ thuộc ở chỗ người ta sử dụng tlsx ấy VD: để làm người lao động VN có sức khỏe hơn, … thì phải liên quan đến tlsx mà người lao động sử dụng. Ý thức của con người có tính độc lập tương đối, tác động lại trình độ sx. * Quan hệ sản xuất: Khái niệm: là quan hệ giữa người và người trong quá trình sx Quan hệ sở hữu về tư liệu sx: tư liệu sx chủ yếu của xh được giải quyết ntn ? VD: QHSH của XHCN dưới 2 hình thức: sở hữu toàn dân, sở hữu tư nhân Quan hệ quản lý tổ chức sx: ai là người quản lý, ai là người bị quản lý, ai là người chỉ huy, ai là người bị chỉ huy ? Quan hệ trong việc phân phối sp: ai là người phân chia, số lượng nhận được là bao nhiêu, nhận được ntn ?. Phân phối sp phụ thuộc vào quan hệ sở hữu. a2/ Quy luật QHSX phù hợp với trình độ ph.triển của LLSX Các QHSX hợp thành hệ thống tương đối ổn định (hình thức XH của q.trình SX) so với sự v.động & ph.triển liên tục của LLSX (nội dung XH của q.trình SX). Sự thống nhất & tác động giữa LLSX và QHSX được thể hiện qua 2 nội dung: Trình độ của llsx quyết định qhsx: Nói về trình độ của llsx là nói về trình độ của người lao động, công cụ lao dộng, trình độ của tổ chức phân công lao động, trình độ ứng dụng KHKT vào sx. Sự phát triển của llsx được đánh dấu bằng trình độ của llsx. Trình độ của llsx phát triển đến đâu thì qhsx phải tương ứng với nó nghĩa là cách thức sở hữu, quản lý, phân phối sp phải tương ứng với nó. QHSX chậm thay đổi, còn LLSX (CCLĐ…) luôn thay đổi; Khi LLSX sự thay đổi đến một trình độ nào đó thì nó sẽ không còn phù hợp (mâu thuẫn) với QHSX hiện có; Mâu thuẫn này được giải quyết bằng cách xoá bỏ QHSX cũ, thay thế vào đó QHSX mới cho phù hợp với trình độ mới của LLSX. PTSX cũ mất đi, PTSX mới tiến bộ hơn ra đời. Sự tác động trở lại của QHSX đến LLSX Bản thân QHSX cũng tác động trở lại LLSX nghĩa là cách thức sở hữu, quản lý, phân phối sp tác động đến tất cả yếu tố cấu thành LLSX, tác động đến con người và TLSX bởi vậy nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX thì nó sẽ thúc đẩy LLSX phát triển. Phù hợp nghĩa là QHSX phải tạo điều kiện tối ưu cho việc kết hợp tư liệu sx và tư liệu lao động. Nếu QHSX ko phù hợp với trình độ pt của LLSX thì trì trệ làm cho LLSx ko pt được, gồm 2 trường hợp: + QHSX quá lạc hậu so với trình độ pt của LLSX thường xảy ra ở các nước TBCN TBCN có LLSX : XH hóa, QHSX : sở hữu tư nhân về TLSX nên thay QHSX khác Thay đổi về quản lý (vd như bán cổ phần cho người lao động), phân phối sp: trước đây người dân nhận được tiền lương , bây giờ nhận được cổ tức Việc điều chỉnh này làm cho CNTB đứng vững. +QHSX tiên tiến 1 cách giả tạo thường xảy ra ở những nước kém pt trong đó có VN VD: như quản lý quan liêu bao cấp, phân phối bình quân chủ nghĩa nên kt trì trệ Sở dĩ QHSX có vai trò như vậy là vì nó quyết định mục đích of sx, quyết định hệ thống tổ chức quản lý sx, quyết định việc phân phối sp... nên nó tác động trực tiếp đến thái độ của người lao động b/ Đảng CSVN đã vận dụng phép biện chứng này như thế nào vào giai đoạn cách mạng hiện nay ? Vận dụng học thuyết của hình thái KT-XH của Mac Chúng ta thực hiện những biến đổi mang tính chất CM trên cả 3 lĩnh vực: LLSX,QHSX, kte thị trường trước hêt là LLSX, ta phải ra sức pt LLSX coi đó là nhiệm vụ hàng đầu để tạo tiền đề kte vững chắc cho sự ra đời phương thức sx mới. Nhưng khi chta pt LLSX trong dkien CM KH-công nghệ diễn ra dồn dập như ngày hôm nay, ta phải thay đổi tư duy ko đi vào những ngành công nghiệp cổ truyền như trước đây mà phải lựa chọn những ngành công nghiệp cho thích hợp, xd kêt cấu hạ tầng, cơ sở vật chất-kinh tế hệ thống thông tin và tạo diều kiện nhanh chóng để ứng dụng những thành tựu KH-KT-Công nghệ mới vd như bưu chính, viễn thông, vi sinh học... Chta giải phóng và khai thác nhanh chóng mọi nguồn lực của LLSX (người lao động, TLSX) tạo công ăn việc làm cho người lao động, khai thác triệt để đất đai sông ngòi. Công nghiệp hóa gắn liền hiên đại hóa, coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là 1 trong những nhân tố quyết định dần đến sự thuận lợi của sự nghiệp xd CNXH thuận lợi ở VN. Phù hợp với sự pt của LLSX ta từng bước thiết lập QHSX từ thấp đên cao với sự đa dạng của các hình thức sở hữu và chế độ công hữu phải là kết quả hợp quy luật của quá trình XH hóa thực sự chứ ko thể tạo ra bằng biện pháp hành chính, cưỡng bức. Phân biệt 2 khía cạnh của sở hữu khía cạnh pháp lý và khía cạnh thực hiện quyền sở hữu là nội dung kte của sở hữu Khía cạnh pháp lý của sở hữu thì phải ổn định, nội dung kte of sở hữu (các hình thức thực hiện quyền sở hữu) thì phải thay đổi do sự pt of LLSX Nếu các hình thức thực hiện quyền sở hữu ko thay đổi chẳng những quyền sở hữu bị vi phạm mà sx xh còn bị tê liệt Trong QHSX thì quan hệ pháp lý, quan hệ tổ chức rất nhạy cảm và có tầm quan trọng rất lớntrong hệ thống QHSX chính vì vậy ta phải chuyển chế độ quản lý từ hiện vật sang quan hệ hàng hóa tiền tệ, nếu ta làm được như vậy thì ta làm đúng theo quy luât XH Quy luật phân phối thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu Kinh tế thị trường: tiến hành cuộc CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, phát huy được nhân tố con người, coi con người ở đây ko phải chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để xd 1 XH văn minh, coi trọng vai trò của nhà nước, mà nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CS. Câu 12: Anh/ chị hãy phân tích phép biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng phép biện chứng này như thế nào vào giai đoạn cách mạng hiện nay? * CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. * KTTT là toàn bộ các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo,… các thể chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội,… được hình thành trên một CSHT nhất định * Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT: - CSHT quyết định KTTT (CSHT nào thì KTTT nấy) + Trật tự kinh tế xét đến cùng quy định trật tự chính trị, mâu thuẫn trong kinh tế gây ra mâu thuẫn trong chính trị. Giai cấp nào thống trị trong kinh tế thì giai cấp đó thống trị trong chính trị. + Tất cả các yếu tố của KTTT đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào CSHT và do CSHT quy định + CSHT thay đổi hay mất đi thì sớm hay muộn KTTT cũng phải thay đổi hay mất đi để cho một KTTT mới ra đời, tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp. - Sự tác động của KTTT đến CSHT: Do KTTT và mỗi yếu của nó có tính độc lập tương đối và vai trò khác nhau nên chúng tác động đến CSHT theo những cách, những xu hướng khác nhau. + Chức năng chính của KTTT là xây dựng, củng cố, bảo vệ CSHT đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hay phá hoại chế độ kinh tế hiện hành. + KTTT tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội, nhưng nó không thể làm thay đổi xu hướng phát triển khách quan của đời sống kinh tế - xã hội. Sự tác động của nó chủ yếu diễn ra theo 2 hướng: Nếu phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT thúc đẩy sự tăng trưởng, đảm bảo sự phát triển bền vững cho CSHT. Nếu không phù hợp với CSHT, với các quy luật kinh tế thì KTTT kìm hãm sự tăng trưởng, gây bất ổn cho đời sống xã hội. * Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng phép biện chứng này vào giai đoạn cách mạng hiện nay Nước ta đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau: từ xã hội cộng sản nguyên thủy tiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến rồi tiến hóa lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN và đỉnh cao nhất của quá trình tiến hóa này là chủ nghĩa cộng sản. Nước ta đang trong giai đoạn xây dựng cách mạng mới đó là xây dựng XHCN theo hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do đó phép biện chứng giữa CSHT và KTTT là 1 quá trình đấu tranh lâu dài giữa cái mới và cái cũ. CNXH đang trong thời gian xây dựng nên cái mới còn rất yếu, muốn xóa bỏ hết tàng dư của xã hội cũ - đại diện cho cái cũ rất khó bởi nó đã tồn tại lâu dài. Tuy nhiên con đường đi lên CNXH ở nước ta diễn ra theo các quy luật khách quan của thời đại chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người quyết định nên nó là cái mới nhưng hợp quy luật nên ngày càng phát triển và ngược lại cái cũ không hợp quy luật sẽ ngày càng yếu đi. Đảng ta đã ra sức xây dựng CNXH trong đó phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Quá trình xây dựng này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng các quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo,… các thể chế xã hội tương ứng như Nhà nước, đảng phái, giáo hội cho phù hợp với sự phát triển của phương thức sản xuất mà Đảng đã đề ra để góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. CÂU 13: CHỨNG MINH ĐẤU TRANH GIAI CẤP LÀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI CÓ GIAI CẤP ĐỐI KHÁNG. ĐẢNG CSVN ĐÃ VÀ ĐANG VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ ĐẤU TRANH GC NHƯ THẾ NÀO TRONG GIAI ĐOẠN CM HIỆN NAY: Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển quan trọng của xã hội có giai cấp. Vì đấu tranh giai cấp giúp thay đổi phương thức sản xuất cũ, lỗi thời, lạc hậu bằng phương thức mới cao hơn, đồng thời xây dựng lực lượng sản xuất mới phù hợp quan hệ sản xuất tạo cơ sở phát triển mọi mặt đời sống xã hội. Đấu tranh giai cấp giúp cải tạo các giai cấp cách mạng và quần chúng lao động thông qua việc xóa bỏ tập quán xấu do giai cáp thống trị sản sinh ra. Đấu tranh giai cấp là đòn bẩy phát triển lịch sử cách mạng, là động lực phát triển các mặt đời sống xã hội trong thời kì phát triển bình thường. Đấu tranh là động lực để giai cấp tư sản đổi mới phương thức quản lý, sử dụng kĩ thuật mới để tạo nên những thành tựu mới. Vai trò của ĐTGC thể hiện ở những cuộc đấu tranh mang tính quần chúng rộng lớn, do lực lượng tiến bộ xã hội lãnh đạo, được tổ chức khoa học nhằm đánh đổ giai cấp thống trị cản trở sự phát triển XH. Sự vận dụng của ĐCSVN: Thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta tồn tại nhiều giai cấp và mâu thuẫn GC. Tuy nhiên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường quá độ lên CNXH, mâu thuẫn này bộc lộ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Nhìn chung lợi ích GC tư bản thống trị lợi ích cộng đồng, đấu tranh là để hợp tác, đoàn kết xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng, văn minh. Thực chất ĐTGC ở nước ta trong thời kì quá độ là đấu tranh giữa khuynh hướng tự giác theo định hướng XHCN và khuynh hướng phát triển tự phát lên TBCN. Trong quá trình đó, nhất thiết chúng ta phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ra hàng ngày trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Vì vậy đảng ta luôn xác định rõ cần phải: Đấu tranh chống khuynh hướng và biểu hiện tiêu cực của tâng lớp tư sản; Đấu tranh chống khuynh hướng tự phát TBCN của sản xuất nhỏ; Đấu tranh chống các thế lực thù địch, âm mưu diễn biến hòa bình, phá hoại độc lập dân tộc và CNXH ở nước ta; xây dựng CNXH đi đôi với bảo vệ tổ quốc, bảo vệ quyền làm chủ nhân dân; xây dựng nền kinh tế thị trường, thực hiện CNH, HĐH định hướng CNXH, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu những tinh hoa nhân loại làm cho đời sống vật chất và tinh thần nhân dân ko ngừng nâng cao. Để đạt được các mục tiêu trên đòi hỏi sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau, vừa mềm dẻo, vừa cương quyết. Tóm lại, giai đoạn hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải nắm vững biện pháp duy vật, nắm vững quan điểm GC của CN Mac – Lenin để phân tích được tính chất tình hình gay go, phức tạp của ĐTGC trong thời kì quá độ tránh rơi vào thái cực sai lầm: cường điệu đấu tranh giai cấp đi đến rụt rè, ko dám đổi mới, mơ hồ, mất cảnh giác đi đến phủ nhận ĐTGC. CÂU 14: Anh chị hãy nêu những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng nào để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 1. Bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong khi lý luận về pháp quyền tư sản đã có một lịch sử mấy trăm năm từ thời cận đại Tây Âu và một bề dày kinh nghiệm thực tiễn tương ứng, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa, lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội nghĩa mới được đặt ra một cách cấp bách từ thời kỳ đổi mới, khi mà nền kinh tế đang chuyển dần sang mô hình tổ chức kinh tế thị trường . Đó là một đòi hỏi tất yếu của quá trình tăng cường vai trò nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở nghiên cứu các di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước, tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những giá trị phổ biến của các lý luận triết học pháp quyền trong lịch sử, có thể khái quát như sau: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nạm; trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức; là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân xây dựng một quốc gia dân tộc độc lập xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Khái quát trên đây đã được xác định trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó đã nêu rõ điểm bản chất nhất của nhà nước pháp quyền là nhà nước mang bản chất “của dân, do dân và vì dân”. Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tổ chức hoạt động của Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất tổ chức và hành động, phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cả cộng động và từng cá nhân, của cả nước và từng địa phương, của cả toàn bộ hệ thống bộ máy và từng yếu tố cấu thành nó. Tập trung dân chủ đòi hỏi phải chống lại tập trung quan liêu và phân tán, cục bộ. 2. Những điểm giống và khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN Giống nhau: Pháp luật được đề cao và là công cụ chủ yếu để quản lý mọi hoạt động của xã hội và công dân. Ngay cả hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống tổ chức nhà nước cũng phải tuân theo pháp luật, mặc dù chính nó là những cơ quan công bố, ban hành, thực thi và kiểm tra việc thực hiện pháp luật. Khác nhau: Điểm khác biệt căn bản giữa nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, nếu như trong nhà nước pháp quyền tư sản quyền lực của nhà nước được phân cho ba cơ quan khác nhau hoàn toàn độc lập với nhau đảm nhiệm, thì một trong những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền XHCN là quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân nên hệ thống pháp luật thể hiện tập trung ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Trong khi nhà nước pháp quyền tư sản là của giai cấp tư sản nhằm thực hiện nền chuyên chính tư sản đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Nhà nước pháp quyền tư sản được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìn chung có 2 hình thức cơ bản là quân chủ lập hiến và các hình thức cộng hòa, chung quy lại đều là nền chuyên chính tư sản. 3. Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay như sau: Theo tinh thần và nội dung trong Văn kiện Đại hội IX và X của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, cần thiết phải thực hiện năm điểm cơ bản sau đây: Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với quan điểm Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Để tăng cường vai trò của Nhà nước phải tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước. Hai là, tiến hành cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước, theo hướng kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài hạn về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới qui trình ban hành và hướng dẫn thi hành pháp luật. Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương. Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Thực hiện tinh giảm biên chế trong các cơ quan nhà nước. Ba là, tiếp tục phát huy dân chủ, giữ vững kỉ luật, kỉ cương tăng cường pháp chế, theo hướng nâng cao chất lượng đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, hoàn thiện những qui định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. Bốn là, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ theo đúng chức danh tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức để kịp thời thay thế cán bộ công chức yếu kém và thoái hóa. Có chính sách đãi ngộ, đào tạo đối với cán bộ cấp xã, phường, thị trấn. Năm là, kiến quyết, tiếp tục đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở mọi cấp, mọi ngành từ Trung ương đến cơ sở; cùng với việc chống tham nhũng, phái chống tham ô lãng phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt là các hành vi lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính. Để làm tốt công tác chống tham nhũng hiện nay có nhiều biện pháp phải thực hiện như xóa bỏ thủ tục hành chính phiền hà, phát huy dân chủ cơ sở, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, v.v… nhưng cần thiết phải xem xét trách nhiệm hình sự hoặc có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi xảy ra những vụ tham nhũng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. CÂU 15: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MAC LENIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI? MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA CN VN? ĐCSVN ĐƯA RA ĐỊNH HƯỚNG GÌ ĐỂ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VN? Bản chất con người VN: a/ con người là một thực thể sinh vật – xã hội Khoa học và thực tiễn đã chứng tỏ rằng, tiền đề đầu tiên của sự sống tồn tại người là sự sống của thể xác: thể xác sống của con người chính là sản phẩm tiến hóa lâu dài của tự nhiên, là sự tiếp tục phát triển của tự nhiên. Do vậy, trước hết nó bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên sinh học như quy luật trao đổi chất giữa cơ thể và môi trương, quy luật biến bị và di truyền, quy luật tiến hóa… Sự tồn tại của CN còn gắn liền trực tiếp với sự tồn tại của XH: để thỏa mãn các nhu cầu của mình, con người phải tiến hành lao động sản xuất, qua đó tạothành các mối quan hệ xã hội và xã hộ, trong đó xã hội sản sinh ra con người với tính cách là con người như thế nào thì con người cũng sản sinh ra xã hội như thế. Sự tồn tại của CN gắn liền với sự tồn tại của ý thức. Con người là một thực thể sinh vật – xã hội, trong đó có sự tác động đan xem của 3 hệ thông nhu cầu (sinh học, xã hội, tinh thần) và 3 hệ thống quy luật (sinh học, xã hội, tinh thần). mỗi hệ thống nhu cầu và quy luật này đêu có vị trí, vai trò và tác dụng của mình trong sự tồn tại và phát triển của con người đồng thời chúng tham gia vào việc quyết định bản chất của nó, trong đó hệ thống nhu cầu và quy luật xã hội luôn giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định. Các nhu cầu của con người dù là nhu cầu vật chất hay tinh thần, mang tính tự nhiên và xã hội đều được quy định bởi lịch sử, nhưng con người hòan toàn có thể tự diều chỉnh, tự kiểm tra các nhu cầu và hoạt động của mình. Con người tồn tại trong thế giới không phải như các sinh vật khác, mà tồn tại với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức và hành động cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và cải tạo bản thân con người. b/ con người là chủ thể lịch sử Triệt học mac- lienin cho rằng, CN là sản phẩm của lịch sử (SP của điều kiện tự nhiên và XH) đồng thời chính là chủ thể sáng tạo ra quá trình lịch sử ấy – lịch sử con người. Đó là qúa trình hoạt động có ý thức của CN nhằm mục đích cải tạo tự nhiên, cải tạo XH và cải tạo chính bản than CN. Trên cơ sở vận dụng phép biện chứng duy vật, C Mac đã khảo sát bản chất CN bắt đầu từ hoạt động thực tiễn, từ trong hoàn cảnh XH lịch sử cụ thể. Bản chất CN là tổng hòa những QHXH, luận điểm này cho thấy, CN là một thực thể có tính loài. Đặc tính loài của CN hiện thực tứclà tính người. Tính người bao gồm tòan bộ các thuộc tính vốn có của CN, trong đó có 3 thuộc tính cơ bản nhất: thuộc tính tự nhiên, xã hội và tư duy. Bản chất CN là tổng hòa những QHXH, QHXH ở đây được hiểu là tổng thể các mqh mà con người đã có, đan có và trong chừng mực nào đó còn bao hàm cả những quan hệ trong tương lai, Bản chát của CN là tổng hòa các QHXH, nhưng CN bao giờ cũng là con người riêng biệt, CN cụ thể, ứng với những thời đại, những giai đoạn lịch sử nhất định, với từng tập đoàn người, đồng thời nó cũng mang bản chất chung của nhân loại, phát triển trong toàn bộ lcịh sử loài người. Mặt tích cực và hạn chế Tích cực: + Giá trị truyền thống: có tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lập tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc, …. + Truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới, biết ứng phó linh hoạt, ứng xử mềm mỏng, biết thích nghi và hội nhập để tồn tại và phát triển, … + Tinh thần thực tế, coi trọng kinh nghiệm, tông trọng người già giàu kinh nghiệm và có tư duy tổng hợp, … + Truyền thống hiếu học, trọng học, truyền thống tôn sư trọng đạo, …. Hạn chế: Thiếu óc phân tích, tinh thần phê bình và tự phê bình; thiếu ý thức pháp luật, chấp hành nội quy, kỷ luật; thiếu ý thức tiết kiệm, chưa biết làm ăn lớn, làm ăn lâu bền, khó hợp tác, đố kỵ, nặng tâm lý của người sản xuất nhỏ nông nghiệp, thiếu tư duy và tác phong công nghiệp. Truyền thống dân chủ làng xã, những tư tưởng cục bộ, làng xã, hay can thiệp vào cuộc sống riêng tư, các chuyện của tập thể, tùy tiện. Hạn chế do sản xuất tiểu nông mang lại thể hiện ở chỗ khả năng hoạch toán kế toán kém, nặng về lợi ích trước mắt, bỏ qua lợi ích lâu dài Tâm lý cầu an, cầu may Thích quân bình, ko thích sự phân hóa trong cs Đề cao thái quá, coi thường tri thức, coi thường tuổi trẻ Người VN cần cù chịu khó, song dễ thỏa mãn, tâm lý thụ động … Định hướng xây dựng con người VN Xây dựng con người VN có những đức tính cơ bản như: tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí đưa đất nước khỏi đói nghèo, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xh. Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung Lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật và sáng tạo năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực,…..

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTổng hợp 15 câu hỏi ôn thi môn Triết học.doc