Thành Cát Tư Hãn

Thành Cát Tư Hãn Thành Cát Tư Hãn sinh ra với tên Thiết Mộc Chân , họ Bột Nhi Chỉ Cân khoảng năm 1155/1162[1]/1167 và mất ngày 18 tháng 8 năm 1227, là Hãn vương của Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á năm 1206. Là một nhà lãnh đạo lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ông được người Mông Cổ dành cho sự tôn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự ổn định về chính trị và kinh tế cho khu vực Á-Âu trong lãnh thổ của ông, mặc dù đã gây ra những tổn thất to lớn đối với những người chống lại ông. Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, đại hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Quốc (1271–1368) sau khi lật đổ triều đại Nam Tống. Năm 1271 sau khi lập ra nhà Nguyên, Hốt Tất Liệt đã truy tôn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng đế, nên ông còn được gọi là Nguyên Thái Tổ. Có rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, là những kẻ đi xâm chiếm nhiều đất đai về tay mình như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ, Babur, người sáng lập ra Đế quốc Môgôn ở Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn còn tiếp tục cai trị Mông Cổ đến thế kỷ 17 cho đến khi nó bị người Trung Quốc thống trị lại. 1.Thời thơ ấu Thành Cát Tư Hãn sinh khoảng giữa 1155 (hay 1162) và 1167, [2] là con trai cả của Dã Tốc Cai (Yesükhei), một thủ lĩnh của bộ tộc Khất Nhan (Kiyad, )[3]. Dã Tốc Cai là người thuộc dòng họ Bột Nhi Chỉ Cân. Mẹ ông là bà Kha Nguyệt Luân (Oát Ngạch Lôn, U Luân hay Hoelun/Өэлүн) từ bộ lạc Hoằng Cát Thích (Olkunut/Олхуноуд, Олхонууд, Олгонууд). Ông là con trai cả của bà này. Theo Bí sử Mông Cổ, ông được đặt tên theo tên của một thủ lĩnh rất dũng cảm của một bộ tộc người Tatar đã bị cha ông đánh bại (Thiết Mộc Chân Ngột Cách). Thiết Mộc Chân có 3 em trai là Cáp Tát Nhi (Khasar hay Qasar), Hợp Xích Ôn (Khajiun), Thiết Mộc Cách (Temüge) và một em gái là Thiếp Mộc Lôn (Temülen hay Temülin), cùng hai anh/em cùng cha khác mẹ khác là Biệt Cách Thiếp Nhi (Bekhter) và Biệt Lặc Cổ Đài (Belgutei) do Tốc Xích Cát Lặc sinh ra. Thời thơ ấu của Thiết Mộc Chân cực kỳ khó khăn. Khi ông lên 9 tuổi, cha ông đã đưa ông đến gia đình vợ (Börte) tương lai và ông phải sống ở đó cho đến khi đủ tuổi lấy vợ là 12 tuổi. Một thời gian ngắn sau đó cha ông bị đầu độc bởi bộ lạc Tháp Tháp Nhi (Tartar) láng giềng trên đường trở về nhà và Thiết Mộc Chân đã trở thành thủ lĩnh của bộ lạc của mình. Bộ lạc của ông không chấp nhận ông do sự bất đồng về quyền lực và quyền lợi kinh tế. Trong những năm sau đó, ông và gia đình sống một cuộc đời du cư nghèo khó, sống được là nhờ các loài động vật gặm nhấm. Trong một lần đi săn bắn như vậy ông đã giết chết người anh/em cùng cha khác mẹ là Bekhter[4] trong một cuộc tranh giành chiến lợi phẩm. Một lần khác vào năm 1182, ông đã bị những người cùng bộ lạc cũ bắt trong một cuộc tập kích và bị giam cầm với gông trên cổ. Sau đó ông trốn thoát với sự trợ giúp của những người coi ngục có cảm tình. Mẹ ông đã dạy ông nhiều bài học từ sống sót trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Mông Cổ tới sự cần thiết của liên minh với những người khác, những bài học này đã hình thành nên sự hiểu biết của ông trong những năm sau này về sự cần thiết của thống nhất.

docx11 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 12/09/2013 | Lượt xem: 1509 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành Cát Tư Hãn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thành Cát Tư Hãn Thành Cát Tư Hãn sinh ra với tên Thiết Mộc Chân , họ Bột Nhi Chỉ Cân khoảng năm 1155/1162[1]/1167 và mất ngày 18 tháng 8 năm 1227, là Hãn vương của Mơng Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mơng Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đơng bắc châu Á năm 1206. Là một nhà lãnh đạo lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ơng được người Mơng Cổ dành cho sự tơn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự ổn định về chính trị và kinh tế cho khu vực Á-Âu trong lãnh thổ của ơng, mặc dù đã gây ra những tổn thất to lớn đối với những người chống lại ơng. Cháu nội của ơng và là người kế tục sau này, đại hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Quốc (1271–1368) sau khi lật đổ triều đại Nam Tống. Năm 1271 sau khi lập ra nhà Nguyên, Hốt Tất Liệt đã truy tơn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hồng đế, nên ơng cịn được gọi là Nguyên Thái Tổ. Cĩ rất nhiều nhân vật nổi tiếng được cho là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, là những kẻ đi xâm chiếm nhiều đất đai về tay mình như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ, Babur, người sáng lập ra Đế quốc Mơgơn ở Ấn Độ. Những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn cịn tiếp tục cai trị Mơng Cổ đến thế kỷ 17 cho đến khi nĩ bị người Trung Quốc thống trị lại. 1.Thời thơ ấu Thành Cát Tư Hãn sinh khoảng giữa 1155 (hay 1162) và 1167, [2] là con trai cả của Dã Tốc Cai (Yesükhei), một thủ lĩnh của bộ tộc Khất Nhan (Kiyad, )[3]. Dã Tốc Cai là người thuộc dịng họ Bột Nhi Chỉ Cân. Mẹ ơng là bà Kha Nguyệt Luân (Oát Ngạch Lơn, U Luân hay Hoelun/Өэлүн) từ bộ lạc Hoằng Cát Thích (Olkunut/Олхуноуд, Олхонууд, Олгонууд). Ơng là con trai cả của bà này. Theo Bí sử Mơng Cổ, ơng được đặt tên theo tên của một thủ lĩnh rất dũng cảm của một bộ tộc người Tatar đã bị cha ơng đánh bại (Thiết Mộc Chân Ngột Cách). Thiết Mộc Chân cĩ 3 em trai là Cáp Tát Nhi (Khasar hay Qasar), Hợp Xích Ơn (Khajiun), Thiết Mộc Cách (Temüge) và một em gái là Thiếp Mộc Lơn (Temülen hay Temülin), cùng hai anh/em cùng cha khác mẹ khác là Biệt Cách Thiếp Nhi (Bekhter) và Biệt Lặc Cổ Đài (Belgutei) do Tốc Xích Cát Lặc sinh ra. Thời thơ ấu của Thiết Mộc Chân cực kỳ khĩ khăn. Khi ơng lên 9 tuổi, cha ơng đã đưa ơng đến gia đình vợ (Bưrte) tương lai và ơng phải sống ở đĩ cho đến khi đủ tuổi lấy vợ là 12 tuổi. Một thời gian ngắn sau đĩ cha ơng bị đầu độc bởi bộ lạc Tháp Tháp Nhi (Tartar) láng giềng trên đường trở về nhà và Thiết Mộc Chân đã trở thành thủ lĩnh của bộ lạc của mình. Bộ lạc của ơng khơng chấp nhận ơng do sự bất đồng về quyền lực và quyền lợi kinh tế. Trong những năm sau đĩ, ơng và gia đình sống một cuộc đời du cư nghèo khĩ, sống được là nhờ các lồi động vật gặm nhấm. Trong một lần đi săn bắn như vậy ơng đã giết chết người anh/em cùng cha khác mẹ là Bekhter[4] trong một cuộc tranh giành chiến lợi phẩm. Một lần khác vào năm 1182, ơng đã bị những người cùng bộ lạc cũ bắt trong một cuộc tập kích và bị giam cầm với gơng trên cổ. Sau đĩ ơng trốn thốt với sự trợ giúp của những người coi ngục cĩ cảm tình. Mẹ ơng đã dạy ơng nhiều bài học từ sống sĩt trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Mơng Cổ tới sự cần thiết của liên minh với những người khác, những bài học này đã hình thành nên sự hiểu biết của ơng trong những năm sau này về sự cần thiết của thống nhất. Năm 16 tuổi, Thiết Mộc Chân lấy Bột Nhi Thiếp (Bưrte) của bộ tộc Ong-ki-rát (Qonggirat, Chunggirat hay Olkut'hun) sau này là Quang Hiến hồng hậu, nhưng sau này ơng cịn nhiều cuộc hơn nhân khác[5]. Bà họ là Hoằng Cát Sắc (Angcatthat), và nhận được áo lơng chồn đen như là của hồi mơn; đây là tài sản ban đầu để ơng tăng thêm sự giàu cĩ về sau từ chiến tranh. Sau đĩ vợ ơng bị bắt cĩc trong một cuộc tập kích của bộ tộc Miệt Nhĩ (Merkits) và ơng đã nhờ bạn (sau này là kẻ thù) là Trát Mộc Hợp (Jamuka) và người che chở cho ơng là Thốt Lý (Toghril hay Toghrul) của bộ tộc Khắc Liệt (Kerait) để giải thốt cho vợ mình. Việc sinh đứa con đầu lịng là Truật Xích (Jochi, 1185-1226) quá sớm đã dẫn đến sự nghi ngờ của ơng và Truật Xích cũng như hậu duệ của ơng ta khơng bao giờ được coi là những người kế vị. Bên cạnh Truật Xích, Bột Nhi Thiếp cịn sinh ra ba người con trai khác là Sát Hợp Đài (Chagatai, 1187-1241), Oa Khốt Đài (Ưgedei, 1189-1241), Đà Lơi (Tolui, 1190-1232). Ơng cĩ thể cịn nhiều con trai với các bà vợ khác nhưng họ khơng được liệt kê vào hàng kế vị, cịn các con gái thì khơng cĩ ghi chép cụ thể nào. 2.Thống nhất các bộ lạc Vùng cao nguyên Trung Á (miền bắc và tây bắc Trung Quốc) vào khoảng thời gian của Thiết Mộc Chân (cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13) được phân chia giữa một vài bộ lạc hay liên minh, trong số đĩ cĩ Nãi Man (Naiman), Miệt Nhĩ Khất (Merkit), Duy Ngơ Nhĩ (Uyghur), Đảng Hạng (Tangut), Tatar, Mơng Cổ (Mongol) và Khắc Liệt (Kerait), thường cĩ xung đột với nhau như được chứng thực bởi những cuộc đột kích, cướp bĩc, trả thù ngẫu nhiên. Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp của mình bằng cách liên kết với bạn của cha mình là Thốt Lý (Toghril, cịn gọi là Thốt Oát Lân), một thủ lĩnh ở địa phương (cĩ nguồn cho rằng ơng là chư hầu cho Hãn vương này) được nhà Kim phong tước Hãn vương năm 1197. Mối quan hệ này ban đầu được tăng cường khi Bột Nhi Thiếp bị người Miệt Nhĩ Khất bắt (khoảng năm 1177 hay 1180 trước khi sinh ra Truật Xích) và Thiết Mộc Chân phải cần tới sự hỗ trợ của Thốt Lý. Đáp lại, Thốt Lý cho ơng mượn 20.000 chiến binh Khắc Liệt của ơng này và đề nghị ơng mời cả người bạn thời thơ ấu là Trát Mộc Hợp, khi đĩ đang là thủ lĩnh (hãn) của bộ lạc mình (bộ lạc Trát Đáp Lan hay Jadaran)[6]. Mặc dù chiến dịch này thành cơng trong việc giải cứu Bột Nhi Thiếp và thất bại hồn tồn của người Miệt Nhĩ Khất, nhưng nĩ cũng dọn đường cho sự chia rẽ giữa hai người bạn an đáp (huynh đệ) thời thơ ấu là Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp. Các kẻ thù chính của liên minh Mơng Cổ vào khoảng năm 1190-1200 là Nãi Man ở phía tây, Miệt Nhĩ Khất ở phía bắc, Đảng Hạng ở phía nam và Kim cùng Tatar ở phía đơng. Vào năm 1190, Thiết Mộc Chân cùng những người theo ơng chỉ thống nhất được một lượng nhỏ người Mơng Cổ. Trong các bộ lạc chiếm được, ơng thực hiện việc cai trị theo cung cách khác với truyền thống của người Mơng Cổ bằng cách ủy quyền cho những người xứng đáng và trung thành chứ khơng dựa trên quan hệ gia đình. Thiết Mộc Chân sau đĩ đã ban hành bộ luật bằng văn bản cho người Mơng Cổ, gọi là Yassa, và ơng ra lệnh phải tuân thủ bộ luật này một cách nghiêm ngặt để xây dựng tổ chức và quyền lực trong phạm vi vương quốc của mình.[7]. Như là sự khuyến khích cho việc phục tùng tuyệt đối và tuân thủ các quy tắc trong luật pháp của ơng, bộ luật Yassa, Thiết Mộc Chân cam kết dành cho thần dân và binh lính sự giàu cĩ từ các chiến lợi phẩm thu được trong tương lai. Khi đánh bại các bộ lạc thù địch, ơng khơng ruồng bỏ binh lính của họ mà đặt các bộ lạc đĩ dưới sự bảo hộ của mình và hợp nhất các thành viên của các bộ lạc đĩ vào bộ lạc của mình. Mẹ ơng cịn nhận những đứa trẻ mồ cơi từ các bộ lạc đĩ để nuơi. Những điểm mới trong chính sách của ơng đã gây dựng được niềm tin và lịng trung thành từ những người bị chế ngự, làm cho Thiết Mộc Chân trở thành mạnh hơn sau mỗi chiến thắng[8]. Năm 1201, một kurultai do Hợp Đáp Cân cùng 11 bộ lạc khác tổ chức đã bầu Trát Mộc Hợp làm cổ nhân hãn (gur khan), một tước hiệu được những người trị vì hãn quốc Cáp Lạt Khiết Đan dùng, để liên binh tấn cơng Thiết Mộc Chân. Liên minh này bị liên minh giữa Thiết Mộc Chân với Thốt Lý đánh bại và Trát Mộc Hợp phải chạy sang hàng Thốt Lý. Con trai của Thốt Lý là Tang Cơn (桑昆, Senggum) ghen tức với sức mạnh đang lên của Thiết Mộc Chân và sự thân mật của ơng với cha mình. Ơng này lập kế hoạch ám sát Thiết Mộc Chân. Thốt Lý, được cho là đã được Thiết Mộc Chân cứu mạng nhiều lần, lại ủng hộ con mình[9] và khơng hợp tác với Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân biết được ý đồ của Tang Cơn và cuối cùng đã đánh bại Tang Cơn cùng những người trung thành với ơng này. Một trong những giọt nước cuối cùng làm đoạn tuyệt quan hệ giữa Thiết Mộc Chân và Thốt Lý là sự từ chối của Thốt Lý năm 1202 khi Thiết Mộc Chân đề nghị cưới con gái ơng ta cho Truật Xích, con trai trưởng của ơng, một dấu hiệu khơng tơn trọng trong văn hĩa Mơng Cổ. Hành động này dẫn tới sự chia cắt hai bên và là điềm báo một cuộc chiến tranh sẽ nổ ra. Thốt Lý liên minh với Trát Mộc Hợp, người khi đĩ đã chống lại Thiết Mộc Chân; tuy nhiên mâu thuẫn bên trong giữa Thốt Lý với Trát Mộc Hợp, cộng với sự chuyển hướng của một loạt các cựu liên minh sang phía Thiết Mộc Chân đã dẫn tới thất bại của Thốt Lý. Ơng này chạy tới chỗ của Tháp Dương Hãn, thủ lĩnh bộ lạc Nãi Man, nhưng bị binh lính Nãi Man giết chết năm 1203. Thất bại này đã làm cho bộ lạc Khắc . Mối đe dọa trực tiếp kế tiếp đối với Thiết Mộc Chân là người Nãi Man, với Trát Mộc Hợp và những người theo ơng này đã chạy tới đĩ tìm nơi nương tựa. Người Nãi Man đã khơng đầu hàng, mặc dù một bộ phận đã tình nguyện đứng về phía Thiết Mộc Chân. Trước khi Thiết Mộc Chân tấn cơng người Nãi Man và Trát Mộc Hợp thì thì một số tướng lĩnh của ơng này đã chạy sang phía Thiết Mộc Chân, trong đĩ đáng chú ý cĩ Tốc Bất Đài, sau trở thành một trong tứ khuyển nổi danh của ơng. Sau một vài trận chiến, Thiết Mộc Chân đã đánh bại Tháp Dương hãn năm 1204 và Trát Mộc Hợp bị binh lính bắt trao cho Thiết Mộc Chân. Theo Bí sử Mơng Cổ, Thiết Mộc Chân một lần nữa mong muốn duy trì quan hệ bạn bè với Trát Mộc Hợp và đề nghị ơng này đứng về phía mình. Ơng đã giết những kẻ bán đứng Trát Mộc Hợp vì khơng mong muốn cĩ những kẻ phản trắc trong hàng ngũ. Tuy nhiên, Trát Mộc Hợp đã từ chối, nĩi rằng bầu trời chỉ cĩ một mặt trời mà thơi và đề nghị được chết bằng một cái chết cao quý theo tập quán là chết khơng rơi máu và được đáp ứng bằng cách bẻ gẫy lưng. Phần cịn lại của bộ lạc Miệt Nhĩ Khất đứng về phía người Nãi Man bị Tốc Bất Đài đánh bại. Thất bại của người Nãi Man đã làm cho Thiết Mộc Chân trở thành vị chúa tể duy nhất của bình nguyên Mơng Cổ, nghĩa là tất cả các liên minh hùng mạnh khác hoặc là thất bại hoặc là bị hợp nhất dưới trướng của ơng. Với nhu cầu phải bảo vệ biên giới từ các quốc gia phía nam như đế quốc Kim và Tây Hạ là những quốc gia trên địa bàn Trung Quốc ngày nay, ơng đã tổ chức hệ thống của mình với sự tăng cường sức mạnh quân sự và đã khơng bị những người Trung Quốc, khi đĩ bắt đầu cảm thấy khĩ chịu với quốc gia mới nổi Mơng Cổ dưới thời đại của Thiết Mộc Chân, đánh giá quá mức. Cuối cùng họ đã cĩ những hành động như ngăn cản việc tiếp tế lương thực, thực phẩm đi qua Mơng Cổ ngày nay. Với những phẩm chất cá nhân và ý chí mạnh mẽ, Thiết Mộc Chân cuối cùng đã thống nhất được các bộ lạc trong một hệ thống duy nhất, một nét đặc trưng vĩ đại của Mơng Cổ, là đất nước cĩ lịch sử lâu đời của những cảnh huynh đệ tương tàn và gian khĩ về kinh tế. Năm 1206 Thiết Mộc Chân đã liên kết thành cơng các bộ lạc Mơng Cổ đang bị chia rẽ và tại hội nghị Kurultai (hội đồng các thủ lĩnh Mơng Cổ) ơng đã được phong là Thành Cát Tư Hãn (trong tiếng Mơng Cổ thì Чингис Хаан cĩ nghĩa là vua của cả thế giới). 3.Thành lập đế chế a.Trung Hoa Cùng thời điểm với hội nghị Kuriltai, Thành Cát Tư Hãn đã bị lơi cuốn vào cuộc tranh chấp với Tây Hạ là quốc gia bắt người Mơng Cổ phải phục tùng và nộp cống phẩm hàng năm. Ơng đã chiếm được một số thành trì được bảo vệ vững chắc của Tây Hạ. Năm 1209 khi hịa bình với Tây Hạ được ký kết, về thực chất ơng đã thu phục được Tây Hạ, đã được vua Tây Hạ là Lý An Tồn thừa nhận là chúa tể, biến quốc gia này trở thành chư hầu chịu cống nộp cho người Mơng Cổ và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai của ơng. Sau đĩ Tây Hạ cũng bị ơng lật đổ (1227).[10] Mục đích chính của ơng là xâm chiếm nhà Kim, vừa để trả thù những thất bại trước đây khi những người Mơng Cổ cịn thù hận lẫn nhau và giành lấy tài sản cùng sự giàu cĩ của miền bắc Trung Quốc. Ơng tuyên bố chiến tranh năm 1211, để cho nhà Kim khơng thể cịn là sự đe dọa thường xuyên đối với Mơng Cổ về lãnh thổ, tài sản ở phần biên giới phía nam. Mơ hình của cuộc chiến tranh chống lại nhà Kim của người Nữ Chân cũng giống như cuộc chiến chống lại Tây Hạ. Kết quả của chiến thuật siêu đẳng và sự hồn hảo của chiến lược là Thành Cát Tư Hãn đã xâm chiếm và hợp nhất phần lãnh thổ nhà Kim đến tận Vạn lý trường thành của Trung Quốc năm 1213. Cũng năm đĩ Hồn Nhan Dỗn Tế (hồng đế nhà Kim) bị tướng Hồ Sa Hổ giết trong cuộc bạo loạn. Cháu của Hồn Nhan Dỗn Tế là Hồn Nhan Tuần lên ngơi. Sau đĩ Thành Cát Tư Hãn chỉ huy ba cánh quân tiến vào phần trung tâm lãnh thổ Kim, giữa Vạn lý trường thành và sơng Hồng Hà. Giống như các vị vua khác tin mình là con trời (thiên tử), ơng đã xâm chiếm phần miền bắc Trung Quốc, chiếm giữ hàng loạt thành phố và năm 1215 đã bao vây, chiếm giữ và cướp bĩc kinh thành của nhà Kim là Yên Kinh (sau này là Bắc Kinh). Tuy vậy nhưng vua nhà Kim là Hồn Nhan Tuần (完顏珣) tức vua Kim Tuyên Tơng (宣宗) đã khơng đầu hàng mà chuyển kinh thành về Khai Phong (開封) vì sự lớn mạnh của người Mơng Cổ ở phía bắc. Ở đĩ những vị vua cuối cùng của nhà Kim là Hồn Nhan Thừa Lân (完顏承麟) hay Kim Mạt Đế (末帝) đã bị đánh bại vào năm 1234. b.Bá chủ thế giới Cùng thời gian đĩ Khuất Xuất Luật (Kuchlug), vị hãn bị phế truất của bộ tộc Nãi Man, đã chạy về phía tây và cướp hãn quốc Tây Liêu, đồng minh phía tây của Thành Cát Tư Hãn. Trong thời gian này, quân đội Mơng Cổ đã mệt mỏi do hơn 10 năm chiến tranh chống lại Tây Hạ và Kim. Vì vậy Thành Cát Tư Hãn chỉ gửi khoảng 20.000 quân dưới sự chỉ huy của viên tướng trẻ Triết Biệt (者別 Jebe) để chống lại Khuất Xuất Luật. Một cuộc nổi dậy trong nước với sự giúp đỡ của người Mơng Cổ và sau đĩ Triết Biệt tràn qua đất nước này. Lực lượng của Khuất Xuất Luật đã bị đánh bại ở phía tây của Kashgar; ơng ta bị bắt sống và bị hành hình sau đĩ, Tây Liêu bị sáp nhập vào Mơng Cổ. Năm 1218 vương quốc Mơng Cổ mở rộng về phía tây tới hồ Balkhas và tiếp giáp với đế quốc Khwarezm (dịch theo tiếng Trung là Hoa Lạt Tử Mơ), một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspi ở phía tây và vịnh Ba Tư, biển Ả Rập ở phía nam. Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn gửi một đồn sứ giả sang tỉnh phía đơng của đế quốc Khwarezm (Hoa Lạt Tử Mơ) với mục đích thảo luận khả năng buơn bán với quốc gia này. Thống đốc của tỉnh này đã giết chết họ và làm Thành Cát Tư Hãn giận dữ. Ơng đã cho 200.000 quân tràn sang để trả thù. Quân đội Mơng Cổ với chiến lược và chiến thuật hơn hẳn đã nhanh chĩng hạ thành phố này và hành hình viên thống đốc bằng cách đổ bạc nĩng chảy vào tai và mắt ơng ta để trả đũa hành động xúc phạm tới Thành Cát Tư Hãn và những ý định tốt đẹp ban đầu của người Mơng Cổ. Cùng thời điểm này (1219) ơng quyết định mở rộng ảnh hưởng của Mơng Cổ đối với thế giới Hồi giáo. Quân đội Mơng Cổ lần lượt hạ các thành phố chính của Khwarezm như Bukhara, Samarkand và Balkh, và hồng đế Khwarezm là Ala ad-Din Muhammad II đã phải chuẩn bị lực lượng chống lại họ. Tuy nhiên, ơng ta đã bị vượt qua bởi những người Mơng Cổ nhanh nhẹn và lắm mưu kế hơn và phải liên tục rút lui. Cuối cùng, Ala ad-Din Muhammad II đã tìm cách đến ẩn náu ở Khorasan, nhưng bị viêm màng phổi chết ở một hịn đảo trên biển Caspi, gần cảng Abaskun năm 1220, và đế quốc Khwarezm sụp đổ. Sau đĩ quân đội Mơng Cổ chia làm hai đạo quân, Thành Cát Tư Hãn chỉ huy một nhánh tràn vào Afghanistan và bắc Ấn Độ, nhánh kia do tướng Tốc Bất Đài (Subedei hay Subutai) chỉ huy tiến vào Kavkaz và Nga. Khơng một cánh quân nào bổ sung thêm lãnh thổ cho đế chế nhưng họ đã cướp bĩc và đánh bại mọi đội quân mà họ gặp. Năm 1225 cả hai cánh quân đều quay trở lại Mơng Cổ. Những cuộc xâm lăng này đã bổ sung thêm Transoxiana và Ba Tư vào đế chế vốn đã ghê ghớm và xác lập hình ảnh của Thành Cát Tư Hãn như một chiến binh khát máu trong những người khơng biết hoặc khơng muốn biết rằng ơng là ơng chủ thực sự của thế giới. Cánh quân của Tốc Bất Đài đã tiến vào Ba Tư và Armenia, với lực lượng 40.000 quân họ đã tiến sâu vào lãnh thổ Armenia và Azerbaijan (Xem phần Trung Á). Ở đây quân Mơng Cổ đã tiêu diệt quân thập tự chinh Gruzia, chiếm pháo đài đầu mối giao thương thành quốc Genova ở Crimea và nghỉ qua mùa đơng bên biển Đen. Trong khi đồn quân này trở về Mơng Cổ họ đã giao tranh với đội quân 80.000 người của Đại cơng tước Mstitslav của Kiev, trong trận chiến gọi là trận chiến sơng Kalka năm 1223. Quân Mơng Cổ đã đánh bại đại cơng tước Mstitslav và quân đội của ơng ta. Đế chế chư hầu Tây Hạ đã từ chối khơng tham chiến chống lại đế chế Kharezm, và Thành Cát Tư Hãn đã thề giành cho họ sự trừng phạt. Trong khi ơng đang ở Iran, Tây Hạ và Kim đã hình thành liên minh chống lại người Mơng Cổ. Sau một thời gian nghỉ ngơi để chỉnh đốn quân đội, Thành Cát Tư Hãn chuẩn bị chiến tranh chống lại liên minh này. Cùng thời gian này, ơng cũng phải suy nghĩ về việc chọn người kế nghiệp để xĩa bỏ những cuộc tranh giành liên miên giữa các con; ơng đã chọn người con trai thứ ba là Oa Khốt Đài (Ưgedei) làm người kế nghiệp cũng như thiết lập cơ chế lựa chọn những người kế nghiệp trong tương lai với điều kiện họ phải là hậu duệ của ơng. Ơng đã nhận được những báo cáo tình báo về lực lượng Tây Hạ, Kim và chuẩn bị lực lượng 180.000 quân cho các chiến dịch mới. Năm 1226, Thành Cát Tư Hãn tấn cơng Tây Hạ với cớ là Tây Hạ chứa chấp kẻ thù của Mơng Cổ và để trừng phạt sự phản bội của họ. Tháng 2, ơng chiếm các thành phố Heisui, Cam Châu và Túc Châu và trong mùa thu năm đĩ ơng chiếm phủ Tây Lương. Các tướng Tây Hạ đã đánh một trận lớn với quân Mơng Cổ gần dãy núi Hạ Lan Sơn . Quân Tây Hạ đại bại. Tháng 11, ơng bao vây thành Linh Châu và vượt qua sơng Hồng Hà đánh bại quân cứu viện của Tây Hạ. Năm 1227, ơng tấn cơng kinh đơ Tây Hạ, trong tháng 2 chiếm phủ Lintiao, tháng 3 chiếm quận Tây Ninh (tỉnh Thanh Hải ngày nay) và phủ Tín Đơ . Trong tháng 4 chiếm quận Deshun. Tại Deshun, tướng Tây Hạ Mã Diên Long chống lại quân Mơng Cổ trong nhiều ngày cả trong và ngồi thành. Mã Diên Long sau đĩ chết do bị tên bắn. Thành Cát Tư Hãn sau khi chiếm Deshun, tiến quân tới Lục Bàn Sơn (thuộc huyện Thanh Thủy tỉnh Cam Túc) để tránh mùa hè khắc nghiệt. Vua Tây Hạ mới, đã chính thức đầu hàng quân Mơng Cổ năm 1227. Tây Hạ bị diệt sau khi tồn tại 190 năm, từ 1038 đến 1227. Quân Mơng Cổ đã giết vua Tây Hạ và cả hồng tộc này. Trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn đã chia đế chế của ơng cho bốn người con trai. Truật Xích là lớn nhất, nhưng đã chết và quan hệ huyết thống của ơng ta cũng bị nghi ngờ, vì thế những vùng đất xa xơi nhất của đế quốc như miền nam Ruthenia đã được chia cho các con của ơng này là Bạt Đơ thủ lĩnh của Thanh Trướng hãn quốc, và Oát Nhi Đáp (Orda), thủ lĩnh của Bạc Trướng hãn quốc. Sát Hợp Đài (Chagatai) là con trai thứ hai, nhưng là người nĩng nảy được chia vùng Trung Á và bắc Iran. Oa Khốt Đài (Ogedei), con trai thứ ba là Đại hãn và nhận được Trung Quốc. Đà Lơi (Tolui), trẻ nhất, nhận Mơng Cổ.Tháng 8 năm 1227 sau khi nhận được tin hồng tử Truật Xích ở Hơrazin qua đời,Thành Cát Tư Hãn bệnh nặng và qua đời. Trên giường bệnh, Thành Cát Tư Hãn phác thảo kế hoạch cho Đà Lơi, sau kế hoạch này được những người kế vị sử dụng để triệt hạ dứt điểm nhà Kim và thơng báo người kế vị là Oa Khốt Đài. Trong chiến dịch cuối cùng của mình chống lại nhà Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn đã chết vào ngày 18 tháng 8 năm 1227. Nguyên nhân cái chết của ơng vẫn chưa được sáng tỏ, nhiều người cho rằng do ơng ngã ngựa vì tuổi già và suy giảm thể lực hay sự ám sát từ phía kẻ thù. Biên niên sử Galicia-Volhynia cho rằng ơng bị những người Đảng Hạng giết chết, tuy nhiên đến ngày nay vẫn chưa ai biết rõ. Sau khi ơng ta chết, thân xác ơng được đưa về Mơng Cổ và được cho là mang về nơi ơng sinh ra ở aimag Khentii, là nơi mà nhiều người cho rằng ơng đã được hỏa thiêu ở một nơi nào đĩ gần sơng Onon. Đồn hộ tống lễ tang đã giết hết mọi người và tiêu hủy mọi thứ lạc vào đường của họ tới nơi thiêu xác ơng để khơng ai cĩ thể khám phá ra nơi họ chơn cất người lãnh tụ đáng kính của mình. Trong đám tang của ơng (để giữ bí mật) người ta cho rằng đã cĩ ít nhất 40 cung nữ đã bị hỏa thiêu cùng với ơng, vì thế ngay cả các bà mẹ của họ cũng khơng thể xác định được nơi mà các cung nữ đã bị thiêu. Lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn là nơi tưởng niệm ơng, nhưng khơng phải là nơi chơn cất ơng ta. Vào ngày 6 tháng 10 năm 2004, người ta đã cho là tìm thấy "cung điện Thành Cát Tư Hãn", được cho là khu mộ của ơng. 4.Tài năng của Thành Cát Tư Hãn Xem thêm : Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mơng Cổ  Thành Cát Tư Hãn là một nhà lãnh đạo thực thụ cĩ khả năng. Ơng đã tạo ra bộ luật bằng chữ viết của người Mơng Cổ mà mọi người trong đế chế phải tuân thủ. Vì sự đa dạng về dân tộc, tơn giáo và sắc tộc của các cơng dân và binh lính trong Đế chế Mơng Cổ bao gồm cả Trung Quốc, Ba Tư và châu Âu ngày nay, ơng đã truyền lại sự trung thành chỉ đối với ơng (Đại Hãn) mà khơng cho một ai khác. Để giữ vững và bổ sung cho các chi phí cho quân đội cũng như các hoạt động khác, ơng đã cho phép các thủ lĩnh duy trì quyền lực khi mà họ cịn cung cấp được sức mạnh quân sự, nộp cống phẩm và cung cấp nhân lực trong các cơ sở cố định. Chiếm đĩng được một khu vực đất đai rộng lớn, ơng đã khuyến khích thương nghiệp và trao đổi hàng hĩa và người Mơng Cổ nhận được hàng hĩa và dịch vụ từ những người khác. Các thương nhân, giáo sĩ, đặc sứ đã được đảm bảo sự an tồn và hướng dẫn cần thiết dưới đế chế Mơng Cổ, ví dụ một số người trong số họ đã đến Trung Quốc như nhà du hành Giovanni da Pian del Carpini dưới thời Oa Khốt Đài hay nhà du hành người Ý Marco Polo tới Bắc Kinh dưới thời Hốt Tất Liệt, là những người đã viết sách trong chuyến du hành của họ với một độ chính xác cao. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, mọi "cá nhân và tơn giáo là bình đẳng trước pháp luật Mơng Cổ". Vì sự mở rộng đế chế của ơng, Thành Cát Tư Hãn đã cĩ ảnh hưởng sâu rộng trong văn hĩa của nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Quốc và Nga. Ơng đã tiêu diệt tầng lớp quý tộc hiện thời trong các vùng lãnh thổ của mình, tạo ra tầng lớp trí thức thơ sơ trong thời kỳ đĩ. Ơng cũng tạo ra hệ thống bưu chính rộng lớn và mở rộng sự phổ biến của việc sử dụng hệ thống chữ cái thế giới, mặc dù trong nhiều năm người ta vẫn tin rằng ơng là người thất học vì sự xuất hiện gần đây của chữ viết cũng như tuổi tác của ơng tại thời điểm thi hành điều đĩ. Tuy nhiên, gần đây theo các phát kiến của các nhà sử học Mơng Cổ và Trung Quốc ta thấy ơng là người cĩ học thức cao. Các văn bản viết tay được cho là của ơng cũng như nội dung của chúng cho thấy ơng cĩ thể đọc các bài thuyết pháp của Lão giáo[11]. Thương mại và du lịch trong lãnh thổ Trung Quốc, Trung Cận Đơng và châu Âu được phát triển mạnh mẽ bởi sự ổn định chính trị nhất mà Đế chế Mơng Cổ đã đem lại khi thiết lập lại Con đường tơ lụa. Ơng giảm các hình phạt trong các khu vực của mình, miễn giảm thuế cho các lang y và thầy đồ, và thiết lập sự tự do tơn giáo. Các ngơn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được phát triển và các loại hình tơn giáo đã nảy nở do cĩ tự do tơn giáo. Quân đội Mơng Cổ về sau bao gồm rất nhiều người của các nền di sản khác nhau. Người Mơng Cổ mở đầu cho phần lớn châu Á biết đến bàn tính và la bàn cũng như cho châu Âu biết đến thuốc súng và thuốc nổ được phát minh bởi người Trung Quốc cũng như các phương tiện chiến tranh vây hãm mà người Trung Quốc đã phát triển để đối phĩ với người châu Âu. Ơng cũng là người thống nhất các bộ lạc Mơng Cổ, là điều mà một số người cho là thành tựu đáng kể nhất của ơng. Người ta cũng cho rằng ơng là người đầu tiên ngăn chặn sự phân chia bắc và nam Trung Quốc được bắt đầu từ thời kỳ nhà Tống. Liên quan đến việc thống nhất Mơng Cổ (một trong những thành tựu ấn tượng nhất của ơng) là ơng đã kiểm sốt tốt để giành được sự hậu thuẫn của người Mơng Cổ. Ơng tổ chức quân đội Mơng Cổ thành các nhĩm theo cơ số 10 (10 lính là một arban (thập hộ), 100 là một zuun (bách hộ), 1.000 là một myangan (thiên hộ), 10.000 là một tumen (vạn hộ)) và mỗi một nhĩm binh sĩ cĩ một thủ lĩnh cĩ trách nhiệm báo cáo với cấp trên cho đến tận tumen. Cơ cấu mệnh lệnh này tạo ra một sự mềm dẻo cao và cho phép quân đội Mơng Cổ cĩ khả năng tấn cơng ồ ạt, chia thành các nhĩm nhỏ hơn để bao vây và dẫn dắt kẻ thù vào trong mai phục hay chia thành các nhĩm nhỏ 10 người để áp chế các nhĩm tàn quân đã tan vỡ và đang trốn chạy. Quân đội Mơng Cổ là rất mềm dẻo vì sự kiên định của binh sĩ. Mỗi người lính Mơng Cổ cĩ thể cĩ từ 2 đến 4 ngựa cho phép họ phi nước đại trong vài ngày mà khơng cần nghỉ ngơi hay bị mệt mỏi. Binh sĩ Mơng Cổ cũng cĩ thể sống vài ngày chỉ cần uống máu ngựa và ăn thịt bị Tây Tạng khơ khi thời tiết khắc nghiệt. Khi bổ sung binh lính mới cho quân đội, Thành Cát Tư Hãn chia họ ra thành nhiều nhĩm dưới quyền của các thủ lĩnh khác nhau để tránh tình trạng cĩ quan hệ về sắc tộc hay xã hội, vì thế ở đây khơng cĩ sự phân chia theo các liên minh sắc tộc. Trong mọi chiến dịch, binh sĩ được phép đem theo gia đình của họ. Chỉ những chiến binh dũng cảm nhất mới được thăng chức. Mỗi một thủ lĩnh của một nhĩm nào đĩ phải chịu trách nhiệm về sự sẵn sàng chiến đấu của binh lính dưới quyền tại bất kỳ thời điểm nào và cĩ thể bị thay thế nếu như phát hiện được sự tắc trách. Binh lính Mơng Cổ là các khinh kỵ binh (kỵ binh nhẹ) so với các kỵ sĩ châu Âu, điều này cho phép họ tiến hành các chiến thuật và rút lui nhanh chĩng. Đây là một thơng lệ đối với các đội quân linh hoạt. Người Mơng Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ của ơng là sự hồn hảo của loại hình quân khinh kỵ bắn cung. Một trong những kỹ thuật mà người Mơng Cổ sử dụng trong chiến tranh là sự giả vờ rút lui giữa trận đánh, quân Mơng Cổ cĩ thể rút lui bất thình lình, làm cho quân đối phương tin rằng người Mơng Cổ đã thua trận. Chỉ sau đĩ trong một khoảng cách nhất định thì họ mới hiểu là đã bị quân Mơng Cổ bao vây và cuối cùng là hàng trận mưa tên bắn về phía họ. Người Mơng Cổ khơng thích hợp với các cuộc cận chiến, họ thích đánh nhau từ một khoảng cách nhất định bằng cung tên với khả năng bắn cung khi đang cưỡi ngựa điêu luyện của mình. Trong các cuộc chiến, thủ lĩnh quân đội Mơng Cổ cĩ thể sử dụng cờ hay kèn hiệu để thực hiện chiến lược, chiến thuật của mình. Đối với người Mơng Cổ, chiến thắng cĩ vẻ như là vấn đề quan trọng nhất và họ khơng thể chấp nhận thua trận cũng như mất người bởi vì họ bị thua sút về tiếp viện (ít nhất là hai lần thấp hơn trong phần lớn các trận đánh nếu tính theo lượng binh sĩ) cũng như họ phải di chuyển xa lãnh thổ của mình. Như đã đề cập trên đây, vũ khí chủ yếu của người Mơng Cổ là cung của người Hung và kiếm lưỡi cong, nhẹ và hiệu quả để mang vác và đánh nhau hơn là kiếm dài và nặng của người châu Âu. Một quy tắc đơn giản trong giao tranh đã được làm rõ trong thời đại của Thành Cát Tư Hãn là nếu hai hay nhiều hơn binh sĩ tách khỏi nhĩm của họ mà khơng cĩ sự chấp thuận của thủ lĩnh thì họ phải chết. Kiểu giao tranh của người Mơng Cổ cĩ vẻ như là phương thức tự nhiên nhất của cuộc sống du cư của họ, nĩ cĩ nghĩa là trong các cuộc viễn du thì phải cĩ hành lý gọn nhẹ nhất cũng như tốc độ và sự linh hoạt lớn hơn. Do thế Thành Cát Tư Hãn đã bổ sung thêm một thành phần quan trọng, đĩ là kỷ luật nghiêm minh đối với quân đội của ơng mà nĩ là tương tự như các đội quân khác của thảo nguyên trong thời gian dựa vào kiểu chiến tranh bằng khinh kỵ binh với cung tên. Triết lý quân sự của Thành Cát Tư Hãn nĩi chung là đánh bại kẻ thù với ít tổn thất và rủi ro nhất cho người Mơng Cổ, dựa trên lịng trung thành và tài năng trong việc lựa chọn các tướng lĩnh và binh sĩ. Thành Cát Tư Hãn đã thực hiện rất thành cơng các kiểu chiến tranh tâm lý, đặc biệt trong các việc mở rộng sự đe dọa, khủng bố đối với các thành phố, thị trấn khác. Nếu ơng nhận thấy là ở đĩ cĩ sự chống cự, ơng cĩ thể đưa ra cơ hội để họ đầu hàng và cống nộp. Nếu lời đề nghị bị từ chối, ơng cĩ thể tiêu diệt cả thành phố hay thị trấn đĩ nhưng cho một số người chạy trốn để loan truyền tin về tổn thất của họ cho cư dân của các thành phố khác. Một khi những tin đồn về sức mạnh của đội quân của ơng đã loang rộng thì rất khĩ cho các thủ lĩnh của các thành phố đĩ trong việc thuyết phục người dân của họ chống lại Thành Cát Tư Hãn. Quan điểm của Thành Cát Tư Hãn đối với các kẻ thù là: hoặc đầu hàng và chịu cống nộp hoặc là chết. Khi họ đã đầu hàng, Thành Cát Tư Hãn thơng thường giữ cho thành phố đĩ được nguyên vẹn và đảm bảo cho họ sự bảo vệ để họ trở thành nguồn nhân lực và quân nhu cho các chiến dịch trong tương lai. Nếu họ chống lại, ơng thực hiện quyền của người cai trị cả thế giới. Người ta cho rằng ơng đã giữ được nhiều sinh mạng nhờ chiến tranh tâm lý và sự hăm dọa đối với kẻ thù. Cơng nghệ là một mặt quan trọng trong chiến thuật của ơng. Những thiết bị vây hãm là một phần trong chiến thuật của ơng, đặc biệt trong việc tấn cơng các thành phố đã tăng cường phịng thủ. Ơng sử dụng các nhà kỹ thuật Trung Quốc rất am hiểu các thiết bị vây hãm trong thời gian đĩ trong quân đội của mình. Các thiết bị vây hãm này được tháo rời và vận chuyển bằng ngựa và được lắp ráp lại ở nơi mà chúng cần sử dụng. Trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh điển hình và các biến thái của nĩ, trước khi xâm chiếm, Thành Cát Tư Hãn và các tướng lĩnh của ơng thực hiện việc chuẩn bị tích cực ở Kurultai để quyết định xem sẽ chỉ đạo cuộc chiến tranh sắp tới như thế nào cũng như các tướng nào cần tham gia; cĩ nghĩa là họ cĩ thể tích lũy kiến thức hồn hảo hơn từ những kẻ thù của mình, sau đĩ sự khiêu chiến sẽ được tính tốn, và sau đĩ họ quyết định bao nhiêu đơn vị là cần thiết. Ở phía khác, các tướng Mơng Cổ là những chiến binh với mức độ độc lập cao trong các quyết định khi họ tỏ rõ lịng trung thành với Thành Cát Tư Hãn trong một thời gian dài, điều này làm giảm thiểu sự kiểm tra, giám sát của ơng đối với họ trong thời gian diễn ra chiến dịch. Vì bản chất nhẹ của quân đội Mơng Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã xây dựng một mạng lưới tình báo phức tạp trong quân đội Mơng Cổ cũng như trong các mạng lưới thương mại hay các nước chư hầu, trong đĩ tình báo cĩ thể nhanh chĩng đến được mọi ngõ ngách của đế chế Mơng Cổ. Người ta cho rằng, để chuẩn bị cho chiến tranh, các tướng cĩ thể cử 200 kỵ binh đi theo 4 hướng khác nhau để do thám các hoạt động của kẻ thù và đơi khi binh sĩ đi tới 300 km trong 1 hay 2 ngày, điều này là thơng thường trong thời đại của đội quân Mơng Cổ. Mặc dù chiến lược của người Mơng Cổ là cĩ sự thay đổi tùy theo phản ứng của kẻ thù, nhưng kỹ thuật của họ cĩ thể vẫn chỉ là một. Người Mơng Cổ giao chiến theo hàng dọc, thơng thường cĩ ba cánh quân, hai cánh bên hơng cĩ thể tách ra từ cánh quân trung tâm khi họ tính tốn xem nơi nào họ cĩ thể thọc vào. Các cánh quân bên hơng cĩ quân số tương đương cĩ thể đi sâu vào lãnh thổ kẻ thù và bắt đầu chơn vùi kẻ thù bằng các tốn quân Mơng Cổ được chia thành các cơ, đội 10, 100, 1.000, 10.000 binh sĩ với các thủ lĩnh của họ, nĩ tạo ra một lực lượng chiến đấu rất tinh tế và cĩ tổ chức cao, gần như khơng thể ngăn chặn nổi bởi những đội quân nơng dân của người châu Âu hay Trung Quốc. Khi họ hiện diện ở một nơi nào đĩ và do thám các thành phố và cánh đồng xung quanh, họ cĩ thể bằng cách nào đĩ nhập lại với cánh quân trung tâm và đưa ra địn đánh quyết định với đội quân chính của kẻ thù. Tư tưởng và ưu thế của việc sử dụng các lực lượng bên hơng là lan truyền đe dọa, khủng bố (người Mơng Cổ rất giỏi việc này), thu thập tin tức tình báo từ các kẻ thù của họ và loại bỏ các đơn vị nhỏ hơn của kẻ thù để khơng cho họ khơng thể hỗ trợ lẫn nhau. Nĩi cách khác, nĩ là một dạng của khái niệm phân chia và chế ngự. Các cánh quân bên hơng này gửi các thơng điệp thơng qua tình báo cho các cánh quân khác về những gì xảy ra trên hướng của họ và họ cĩ cần sự hỗ trợ từ các cánh quân đĩ hoặc hỗ trợ các cánh quân đĩ hay khơng. Quân đội Mơng Cổ cĩ các cuộc giao chiến với các đội quân nhỏ lẻ trên các cánh đồng trước khi tiêu diệt lực lượng đối địch chính, điều này làm tăng ưu thế của họ trong việc loại trừ khả năng thơng tin từ một thành phố cho các thành phố khác của kẻ thù (mà cĩ thể cĩ được sự hỗ trợ từ đĩ). Người Mơng Cổ giỏi chiến tranh vây hãm, giỏi làm lệch dịng chảy của các dịng sơng cũng như lương thực, thực phẩm cho các thành phố và gửi những người tỵ nạn tới các thành phố khác để tạo căng thẳng về kinh tế-xã hội cho các thành phố này (lương thực, thực phẩm, nơi ăn ở v.v). Khi trận đánh chính hay sự vây hãm đã kết thúc, người ta cho rằng quân đội Mơng Cổ truy đuổi thủ lĩnh của kẻ thù cho đến khi ơng ta hồn tồn suy sụp để làm ơng ta khơng thể đến điểm thu thập quân đội của mình sau trận đánh. Phần lớn thời gian thủ lĩnh của kẻ thù phải chạy trốn đã nhận ra rằng họ cĩ lẽ đã thua cuộc, nhưng các lực lượng Mơng Cổ truy đuổi cho đến khi họ chắc chắn rằng những kẻ này đã chết. 5.Thành Cát Tư Hãn trong thế giới hiện đại Thành Cát Tư Hãn là nhân vật bị phân cực nhiều nhất trong cách đánh giá của người phương Đơng và phương Tây. Ở phương Tây và Trung Đơng, hình ảnh của ơng là khơng tích cực lắm vì ơng đã giết quá nhiều người cũng như là mối đe dọa đối với cuộc sống và tài sản của họ. Tuy nhiên, ở phương Đơng thì ơng là một trong những lãnh tụ cĩ ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử. Ngày nay, những người Mơng Cổ tìm thấy ở ơng như là người sáng lập ra và thống nhất Mơng Cổ, là điều mà họ khơng thể cĩ được trước khi cĩ ơng. Ngược lại, ở Trung Đơng, người ta cĩ cách đánh giá hơi pha trộn về ơng và các hậu duệ của ơng vì quân đội của họ đã xâm chiếm và tiêu hủy thành Baghdad, nhưng cuối cùng thì một số trong quân đội Mơng Cổ đã chuyển sang theo đạo Hồi và cĩ cuộc sống hịa trộn với dân bản xứ. Một số trường phái và các nhà khoa học, phụ thuộc vào gốc gác của họ, cho rằng những người Mơng Cổ là những người xây dựng hay những kẻ hủy diệt vĩ đại nhất. Thành Cát Tư Hãn và những người Mơng Cổ là một trong những chủ đề trái ngược nhau theo các cách hiểu khác nhau tùy theo vị trí mà ta xem xét, trong đĩ tiêu cực nhất là từ châu Âu và Trung Đơng là những nơi đã từng bị đe dọa và tiêu diệt (ví dụ: châu Âu, Ba Lan, Hungary, một phần của Nga). Nhìn nhận về Thành Cát Tư Hãn ở Cộng hịa Nhân dân Trung Hoa ngày nay là mâu thuẫn vì các nhà sử học Trung Quốc vừa nhìn thấy ở ơng mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Trong khi người ta nhận thức được những tổn thất nặng nề mà ơng gây ra, thì hình ảnh của ơng trong một phương diện nào đĩ được nhìn nhận tốt hơn do ơng đã đưa các sự kiện gây ra sự chia rẽ bắc-nam Trung Hoa cĩ từ thời nhà Tống đi vào dĩ vãng. Ngồi ra, sự phỉ báng Thành Cát Tư Hãn là một sự xúc phạm ghê gớm đối với các cơng dân Trung Quốc cĩ nguồn gốc Mơng Cổ, là những người mà giống như bà con của họ ở Mơng Cổ coi Thành Cát Tư Hãn như một người anh hùng dân tộc và xu hướng trong lịch sử Trung Quốc hiện đại đã tránh nĩi tới điều đĩ. Các hậu duệ của ơng đã mở rộng quốc gia của ơng rộng hơn về phía nam Trung Quốc, Nga, Iraq, Triều Tiên và Tây Tạng. Người Mơng Cổ cuối cùng đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary dưới triều đại của Hãn vương Batu cũng như các mức độ khác nhau của sự thành cơng đối với Syria, Nhật Bản và Việt Nam (vì các lý do như khí hậu nĩng bức, nhất là ở Trung Đơng như Ả Rập Saudi). Việc mở rộng về phía châu Âu bị ngừng lại do nhiều lý do như các thành viên cao cấp của người Mơng Cổ phải quay về Mơng Cổ (ngày nay) để bầu đại hãn mới hay do sự kháng cự của người châu Âu quá mạnh v.v. Người Mơng Cổ đã cĩ thể xâm chiếm tồn bộ châu Âu do họ xâm chiếm Ba Lan và Hungary chỉ trong thời gian khoảng một vài tháng. Đế chế Mơng Cổ đạt tới cực đại của nĩ vào thời của cháu nội ơng, đại hãn Hốt Tất Liệt, nhưng sau đĩ đã bị chia sẻ thành nhiều hãn quốc nhỏ và ít sức mạnh hơn. Vào thời cực thịnh, Đế chế Mơng Cổ là lớn nhất trong lịch sử lồi người, trải dài từ Đơng Nam Á tới châu Âu trên một diện tích 35 triệu km vuơng (13,8 triệu dặm vuơng). Theo một số nguồn, đế chế này chiếm tới gần 50% dân số thế giới và bao gồm các dân tộc đơng dân và văn minh nhất thời kỳ đĩ như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia của thế giới Hồi giáo ở Iraq, Ba Tư và Tiểu Á. Cũng khơng thể phủ nhận là những cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn được đặc trưng bởi sự phá hủy tồn bộ trong một mức độ chưa hề cĩ cũng như sự thay đổi lớn trong phân bố dân cư châu Á. [12][13]Theo như các số liệu của các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah, thì người Mơng Cổ đã giết khoảng trên 70.000 dân ở Merv và trên một triệu dân ở Nishapur. Trung Quốc cũng chịu sự suy giảm bi thảm về dân số. Trước khi người Mơng Cổ xâm lược Trung Quốc cĩ khoảng 100 triệu dân; sau khi hồn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1300 cho thấy chỉ cịn khoảng 60 triệu dân. Điều này khơng cĩ nghĩa là những người của Thành Cát Tư Hãn phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với cái chết của 40 triệu người nhưng nĩ cho thấy mức độ của sự tàn bạo trong các cuộc giao tranh. Trong thời gian gần đây, Thành Cát Tư Hãn đã trở thành biểu tượng của những cố gắng của người Mơng Cổ để thế giới thấy được hình ảnh của họ sau những năm dài ngủ quên. Hình ảnh Thành Cát Tư Hãn xuất hiện trên những đồng tiền Mơng Cổ và nhãn mác của các loại rượu mạnh. Trong thế giới phương Tây ơng thường được gắn với sự khát máu và man rợ. Các hãn Mơng Cổ sau này cổ vũ dân chúng tưởng niệm tới ơng như một vị thánh thần tơn giáo trong tồn đế chế. Khơng cĩ Thành Cát Tư Hãn cĩ lẽ đã khơng cĩ Mơng Cổ, bởi vì đế chế Mơng Cổ đã co lại từ những cái mà Thành Cát Tư Hãn đã dựng lên từ năm 1206. Sự miêu tả cĩ ý nghĩa về Thành Cát Tư Hãn và những người Mơng Cổ (dẫu cho khơng phải thực tế lắm) được viết trong cuốn sách "Những bí mật của lịch sử Mơng Cổ". Cuộc thẩm tra di truyền gần đây[14] tìm thấy các đoạn nhiễm sắc thể Y với những đặc trưng khơng bình thường trong 8 % đàn ơng trong khu vực thuộc đế chế Mơng Cổ và 0,5% đàn ơng trên thế giới. Tuổi của các đoạn này, tương ứng với tỷ lệ của sự biến đổi, đã đưa nguồn gốc của chúng về thời đại của Thành Cát Tư Hãn, và nĩ đặc biệt là chung trong những người Hazara, là những người tự nhận là hậu duệ của ơng. Ơng được nhớ đến vì sự hủy diệt tồn bộ, sức mạnh ý chí mãnh liệt, khả năng thuyết phục và đặc trưng Mơng Cổ của mình đối với mọi người. Thành Cát Tư Hãn được tiểu thuyết hố trở thành một nhân vật trong truyện Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. Theo truyện này, ơng rất yêu quý nhân vật chính Quách Tĩnh, từng hứa gả con gái Hoa Tranh cho chàng, phong cho chàng tước Kim Đao Phị Mã. Thành Cát Tư Hãn cũng là người bức tử Lý Bình, mẹ của Quách Tĩnh. Trong truyện, Thành Cát Tư Hãn mất sau khi nĩi chuyện với Quách Tĩnh trên thảo nguyên, cùng luận về anh hùng. ( Theo BKTT mở )

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThành Cát Tư Hãn.docx
Tài liệu liên quan