Tâm lý học căn bản

Tâm lý học giao lưu văn hóa (cros s -cul tural psycholosy ) là chuy ên ngành tâm l ý tìm hi ểu các đi ểm tương đồng v à dị bi ệt v ề chức năng tâm l ý trong các nền văn hóa v à các nhóm chủng tộc khác nhau. M ột chiều kích khi ến cho các nền văn hóa khác biệt nhau là sự phân biệt giữa chủ nghĩa tập thể và cá nhân chủ nghĩa.

pdf2123 trang | Chia sẻ: phanlang | Ngày: 26/04/2015 | Lượt xem: 1954 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tâm lý học căn bản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giá có năng lực hơn các phụ nữ có nét mặt u sầu, trong khi không có khác biệt gì đối với nam giới. b. Dị biệt về năng lực trí tuệ. Mặc dù không có khác biệt gì giữa hai giới tính về điểm số IQ, khả năng học tập, ký ức, giải quyết vấn đề, và khả năng hình thành khái niệm nói chung, nhưng người ta cũng nhận diện được một vài dị biệt trong các lĩnh vực trí tuệ đặc biệt. Tuy vậy, bản chất đích thực của các dị biệt này - và ngay cho dù có khác biệt đi nữa - cũng bị nghi vấn bởi các nghiên cứu mới đây. Khi Eleanor Maccoby và Carol Jacklin thực hiện một điều tra tiên phong về các dị biệt giới tính vào năm 1974, họ đã kết luận rằng các bé gái trội hơn bé trai về khả năng ngôn ngữ, và các bé trai được ưu đãi hơn về khả năng số học và không gian. Kết luận này được công nhận rộng rãi như là một trong những sự kiện đương nhiên trong các tác phẩm tâm lý. Tuy vậy, các phân tích mới đây và tinh vi hơn đã tỏ ra nghi ngờ bản chất và mức độ của các dị biệt đặc thù này. Chẳng hạn, nhà tâm lý Janet Shiblery Hyde và các đồng sự đã khảo xét thành tíchc toán học của hai giới tính căn cứ vào 100 khảo cứu, bao gồm khoảng bốn triệu đối tượng. Ngược lại, tri thức truyền thống, nữ sinh trội hơn nam sinh về toán học ở các lớp tiểu học và trung học, dù chỉ trội hơn chút đỉnh thôi. Nhưng lên đến cấp III, tình thế đã đảo ngược: nam sinh đạt điểm số cao hơn về khả năng giải toán. Tuy vậy, sự khác biệt ở mọi lứa tuổi nói chung rất nhỏ, và càng không đáng kể khi xét đến điểm số tổng quát. Tóm lại, dị biệt về thành tích toán học giữa hai giới tính không đáng kể, và nếu có thì dị biệt ấy cũng đang giảm bớt đi. Tình hình tương tự cũng xảy ra đối với năng khiếu ngôn ngữ, là dù quan điểm trước đây cho rằng nữ giới có năng khiếu ngôn ngữ hơn hẳn nam giới, nhưng một phân tích mới đây căn cứ vào 165 khảo cứu về dị biệt khả năng ngôn ngữ cho giới tính, trắc nghiệm gần 1,5 triệu đối tượng, đã đi đến kết luận rằng khác biệt về năng khiếu ngôn ngữ giữa hai giới tính thực ra không đáng kể. Như vậy, các chứng cứ mới đây đều cho thấy các dị biệt về năng lực trí tuệ giữa hai giới tính rất nhỏ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không có khác biệt gì về thành tích của các trắc nghiệm đặc biệt về toán học và khả năng ngôn ngữ. Thí dụ, nam giới thường được điểm cao hơn ở phần toán học trong trắc nghiệm - đánh giá - năng lực - học tập. Do đó, nhận diện bản chất các dị biệt trí tuệ giữa hai giới tính không phải là việc làm đơn giản, và người ta cần phải dốc sức nghiên cứu tìm hiểu thêm nữa. c. Nguyên nhân các dị biệt giới tính. Nếu như việc nhận diện các dị biệt giữa hai giới tính đã được đề ra cho các nhà nghiên cứu một vấn đề hóc búa và phức tạp, thì việc tìm kiếm nguyên nhân các dị biệt lại càng tỏ ra khó khăn và dễ gây tranh luận hơn. Giả sử sự kiện không thể bàn cãi rằng giới tính là một biến cố sinh học, thì việc tìm hiểu các nhân tố liên quan đến các dị biệt sinh học giữa hai giới tính dường như là việc làm hợp lý. Nhưng người ta cũng khó lòng gạt bỏ các nhân tố hoàn cảnh, bởi vì tầm quan trọng hiển nhiên của qúa trình trưởng thành trong một thế giới mà con người bị đối xử khác biệt nhau vì giới tính của họ ngay từ lúc chào đời. Trước khi tìm hiểu cả hai loại nhân tố sinh học và hoàn cảnh góp phần giải thích các dị biệt giữa hai giới tính, chúng ta nên lưu ý rằng chỉ riêng nhân tố sinh học hoặc nhân tố hoàn cảnh đều không thể đưa ra được một giải thích trọn vẹn. Đúng ra, có lẽ một phối hợp nào đó gồm hai loại nhân tố tương tác lẫn nhau sẽ giúp chúng ta hiểu rõ các nguyên nhân gây ra các dị biệt giữa hai giới tính. a. Các nguyên nhân sinh học: phải chăng khác biệt giữa cấu trúc não bộ của hai giới tính làm cơ sở cho các dị biệt ấy? Quan điểm khá thú vị này, đề cập ở chương 2, đã được nêu ra mấy năm gần đây bởi các nhà tâm lý chuyên nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của não bộ. Chẳng hạn, Jullan Stanley và Camilia Benbon (1987) đã khám phá được rằng những trẻ có năng khiêu toán học nổi bật đặc trưng bởi một số biểu hiện thể chất lạ thường, như thuận tay trái và rất dễ mắc phải dị ứng cũng như tật cận thị chẳng hạn. Hóa ra, những đặc điểm dường như không liên quan gì với nhau này có lẽ liên hệ với mức sản sinh kích thích tố androgen, loại hormone sinh dục nam, từ lúc còn trong bào thai mẹ. Loại hormone này có thể làm chậm đà phát triển bán cầu não bên trái. Theo một lý thuyết, bán cầu não bên phải - chuyên về năng khiếu toán học - sau đó sẽ bù đắp cho các thiếu sót của bán cầu não trái nhờ phát triển ngày càng vững chắc hơn, nhờ đó thành tích của nam giới trong một số lĩnh vực toán học ngày càng tăng thêm. Tương tự, chứng cứ từ ít nhất một khảo cứu cho rằng trong các công tác đòi hỏi năng khiếu ngôn ngữ và sự phối hợp các cơ bắp nữ giới sẽ thực hiện khéo léo hơn trong các thời kỳ mức sản sinh kích thích tố estrogen, tức là hormone sinh dục nữ, tương đối cao hơn so với thời kỳ mức sản sinh này thấp. Ngược lại, họ thực hiện các công tác liên quan đến năng khiếu không gian khả quan hơn khi mức sản sinh estrogen tương đối thấp. Chúng ta chưa biết các nguyên nhân sinh học làm nền tảng cho các dị biệt giữa hai giới tính đến mức nào, nhưng ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy rằng ít ra các nhân tố này có thể giải thích phần nào dị biệt tác phong cư xử giữa hai giới tính. Tuy vậy, hiển nhiên rằng các nhân tố hoàn cảnh đóng vai trò quyết định làm nảy sinh các dị biệt giữa hai giới tính. Ngoài ra, bởi vì các nhân tố hoàn cảnh có thể cải thiện được, nên các ảnh hưởng cải biến ấy đem đến cho chúng ta một cơ hội giảm bớt hậu quả tai hại của thành kiến giới tính. - Các nguyên nhân hoàn cảnh. Ngay từ lúc chúng chào đời, với chiếc chăn xanh cho bé trai và chiếc chăn hồng cho bé gái, hầu hết các bậc cha mẹ và các vị trưởng bối khác đã mang lại các hoàn cảnh khác biệt về nhiều khía cạnh quan trọng tùy theo giới tính của đứa trẻ. Chẳng hạn, các loại đồ chơi dành cho chúng khác biệt nhau, và các ông cha chơi đùa với bé trai mạnh bạo hơn so với các bé gái của họ. Các bà mẹ thuộc tầng lớp trung lưu có khuynh hướng trò chuyện với các bé gái nhiều hơn với các bé trai của họ. Mặc dù mức độ khác biệt giữa cách đối xử nói chung của các bậc cha mẹ đối với các bé trai so với các bé gái có lẽ không lớn lắm, nhưng rõ ràng các bậc trưởng bối khác thường đối xứ với trẻ khác biệt nhau do giới tính của chúng. Các khác biệt cư xử như thế, và còn nhiều thí dụ khác nữa, khiến cho nam giới và nữ giới trải qua tiến trình xã hội hóa khác biệt nhau. Xã hội hóa (socialization) là một tiến trình nhờ đó một cá nhân học hỏi được các qui luật và chuẩn mực cư xử thích hợp. Trong trường hợp này, có liên quan đến việc học hỏi những qui luật và chuẩn mực nào mà xã hội cho là cách cư xử thích hợp cho nam giới hay cho nữ giới. Theo các tiến trình thuộc lý thuyết học tập xã hội tính (đã bàn ở chương 5), các bé trai và các bé gái được dạy dỗ và khích lệ vì đã thể hiện cách cư xử mà xã hội cho là phù hợp với giới tính của chúng. Dĩ nhiên, không phải chỉ các bậc cha mẹ là những người duy nhất cống hiến cho trẻ các kinh nghiệm xã hội hóa. Toàn thể xã hội truyền đạt các thông điệp minh họa cho trẻ trong quá trình trưởng thành của chúng. Theo truyền thống xã hội, việc đọc sách của trẻ đã khuôn định các bé gái vào các vai trò theo thành kiến có tính dưỡng dục, trong khi các bé trai được định hướng nhiều hơn về thể chất và hành động. Cũng vậy, vô tuyến truyền hình tác động như là nguồn thông tin xã hội hóa có ảnh hưởng đặc biệt lớn lao. Mặc dù các chương trình như L.A Law và Murphy Brown phác họa nữ giới trong các vai chính, nhưng nói chung nam giới vẫn xuất hiện trên TV đông hơn nữ giới và nữ giới thường bị phân vào các vai diễn theo thành kiến như nội trợ, thư ký, y tá, và làm mẹ chẳng hạn. Hiệu lực của TV như là một lực lượng xã hội hóa được nêu rõ qua sự việc một số dữ kiện cho rằng thiếu nhi càng xem TV nhiều chừng nào thì chúng càng kỳ thị giới tính nhiều chừng ấy. Hệ thống giáo dục của chúng ta cũng phân biệt đối xử với các bé trai và các bé gái. Chẳng hạn, các bé trai có lẽ được các thầy cô quan tâm nhiều gấp 5 lần các bé gái. Các bé trai nhận được lời khen, bị quở trách, và giúp đỡ cải sửa nhiều hơn các bé gái. Ngay ở các lớp trên đại học, nam sinh viên được các giáo sư để mắt nhiều hơn đến các nữ sinh viên, nam sinh viên được gọi lên bảng nhiều hơn, và họ cũng dễ được các giáo sư giúp đỡ ngoại khóa hơn. Theo Sandra Bem (1987), tiến trình xã hội hóa tạo ra một lược đồ giới tính (gender schema) trong tâm trí; nó là một cơ cấu trí tuệ sắp xếp có hệ thống và hướng dẫn trẻ tìm hiểu các thông tin thích hợp cho giới tính. Trên cơ sở các thông tin mà lược đồ tâm trí của chúng cho là phù hợp hay không với giới tính của mình, trẻ bắt đầu cư xử theo các cung cách phản ảnh các vai trò giới tính mà xã hội áp đặt cho chúng. Do đó, một đứa trẻ đi trại hè và được tạo cơ hội may vá một bộ trang phục có thể đánh giá hành động ấy, không theo các thành tố bên trong tiến trình (như cách sử dụng kim chỉ chẳng hạn), mà theo cách thức liệu hành động đó có ăn khớp với lược đồ giới tính trong tâm trí của em hay không. Theo Bem, các lược đồ giới tính có thể bị phá vớ bằng cách khuyến khích các em biểu hiện lưỡng tính (androgynous), tức là một trạng thái trong đó các vai trò giới tính bao quát các đặc điểm bị gán là tiêu biểu cho cả hai giới tính. Đặc biệt, một nam giới lưỡng tính không chỉ có thể năng nổ và sinh động (được xã hội xem là các đặc điểm tiêu biểu cho nam tính) trong một số tình huống, mà còn có thể biểu hiện lòng trắc ẩn và tao nhã (được xem là các đặc điểm tiêu biểu cho nữ tính) khi tình huống cần đến. Ngược lại, một phụ nữ lưỡng tính có thể biểu hiện lòng trắc ẩn và ăn nói dịu đàng, đồng thời khi cần cũng có thể tỏ ra quyết đoán và tự tin. Khái niệm lưỡng tính không hàm ý rằng bắt buộc không có dị biệt gì giữa nam giới và nữ giới. Đúng ra, nó cho rằng các dị biệt nên căn cứ vào sự lựa chọn và ý chí tự do của mỗi người nhằm bao hàm các đặc điểm phản ảnh tính nhân bản nhiều nhất, chứ không nên căn cứ vào kho dự trữ hạn chế và giả tạo gồm các đặc điểm mà xã hội độc đoán cho là chỉ thích hợp cho nam giới hay cho nữ giới. 3. Tóm tắt và học ôn II A. TÓM TẮT - Thành kiến (stereotype) là các niềm tin và kỳ vọng hình thành đối với các thành viên thuộc một nhóm chủng tộc hay tầng lớp xã hội chỉ căn cứ vào tư cách thành viên của họ trong nhóm hay tầng lớp ấy. - Thành kiến thường nhắm vào các thành viên thuộc các nhóm chủng tộc, sắc tộc thiểu số giới tính và tuổi tác. Mặc dù ít có hiệu lực, nhưng chúng có thể gây ra các hậu quả tai hại cho tương tác xã hội vì tệ nạn kỳ thị (discrimination) và tiên đoán để tự an ủi (self- fulfilling prophecy). - Vai trò giới tính (gender role), tức là các kỳ vọng của xã hội về lối cư xử nào thích hợp cho nam giới và lối nào cho nữ giới, dẫn đến tệ nạn thành kiến giới tính và kỳ thị giới tính (sexism). - Tuy có các khác biệt giữa hai giới tính về nhân cách lẫn về khả năng trí tuệ, nhưng các dị biệt ấy thường không đáng kể và các dị biệt đặc thù có thể thay đổi qua thời gian. - Các dị biệt giữa hai giới tính gây ra bởi sự tương tác của các nhân tố sinh học và các nhân tố hoàn cảnh. B. HỌC ÔN 1 / Bất cứ kỳ vọng nào - dù tốt hay xấu - về một cá nhân chỉ căn cứ vào tư cách thành viên của người ấy trong một nhóm hay tầng lớp người đều là một thành kiến. Đúng hay Sai?...................... 2/ Khuynh hướng quan niệm dành đặc ân nhiều nhất cho các cộng đồng mà chúng ta là thành viên được gọi là: a. Có thành kiến b. Thiên kiến phân biệt tầng lớp xã hội c. Tiên đoán để tự an ủi d. Kỳ thị 3/ Paul là quản lý một cửa hàng ông ta không thích phụ nữ thành công trong công ty. Do đó, ông ta chỉ dành trách nhiệm quan trọng và độc quyền cho nam giới. Nếu như các nữ nhân viên không thăng tiên được trong công ty ông, thì đây có thể là thí dụ về một tiên đoán.........:.................................. 4/............................là một lọat các kỳ vọng của xã họ về lối cư xử nào thích hợp cho nam giới và lối nào cho nữ giới. 5/ Ngày nay thành kiến giới tính dường như đã kém thịnh hành hơn vài chục năm trước đây. Đúng hay sai? 6/ Phát biểu nào dưới đây đúng đối với khác biệt giữa hai giới tính về tính gây hấn? a. Nam giới chỉ cư xử gây hân hơn nữ giới trong thời thơ ấu. b. Khác biệt về tính gây hấn giữa hai giới tính khởi đầu hiện rõ vào tuổi thanh xuân. c. Nam giới cư xử gây hấn hơn nữ giới suốt đời. d. Hai giới tính đều cảm thấy lo âu ngang nhau về hành động gây hấn của họ. 7/ Tuy Lee thường hành động dịu dáng và nhân ái, nhưng đôi khi anh cũng hành động gây hấn. Theo thuật ngữ về vai trò giới tính, Lee có thể được xem là người có bản chất........................ 8/……………….là cơ cấu tâm trí tổ chức việc tìm hiểu các thông tin đặc biệt về giới tính. C. CÂU HỎI TỰ VẤN Bạn được yêu cầu tham dự một thể nghiệm về vấn đề dưỡng dục thiếu nhi (child rearing). Người ta giao cho bạn một đứa trẻ và yêu cầu bạn dưỡng dục đứa bé có cách cư xử lưỡng tính càng nhiều càng tốt. Bạn sẽ làm gì? Đứa trẻ ấy sẽ đối đầu với các khó khăn nào trong đời sống thực tế? Bạn có cho rằng đây là biện pháp dưỡng dục thiếu nhi hoàn hảo nhất trong xã hội hiện nay không? (Giải đáp câu hỏi học ôn ở cuối chương) Created by AM Word2CHM TÂM LÝ HỌC CĂN BẢN à Chương 15. SỐNG VỚI THA NHÂN TRONG MỘT THẾ GIỚI MUÔN MÀU Một du khách đến một vùng đất Ả Rập vừa ngạc nhiên vừa khó chịu: Mỗi khi chuyện trò với một người dân bản xứ, ông ta đều nhận thấy người ấy nghiêng người kề sát vào ông đến mức má của hai người chỉ cách nhau vài phân. Ông ta cảm thấy vừa nhột nhạt vừa nồng nặc hơi thở của người đối thoại trong lúc nói chuyện. Tuy khó chịu, nhưng du khách này dường như không sao ngăn chặn được lối cư xứ này. Dù ông ta cố gắng tránh né đến mức nào, người đối thoại cứ dai dẳng gí sát vào ông hơn khiến ông rất khó chịu. Bất kỳ ai đã từng du lịch ở nước ngoài đều biết phong tục và cách cư xử thường ngày của dân bản xứ nói chung rất khác biệt với mọi thứ mà chúng ta đã quen thuộc ở nước nhà. Trong trường hợp vừa miêu tả, các qui luật thường ngày chi phối cách cư xử của chúng ta so với các qui luật mà chúng ta thậm chí chưa hề biết đến ấy rất khác biệt nhau. III. TÂM LÝ HỌC TRONG VIỄN TƯỢNG TOÀN CẦU Ngay cả trong trường hợp hiểu rõ các qui luật của một nền văn hóa, thì tình trạng đó không nhất giúp cho người ta bớt cảm thấy khó chịu khi phải đối mặt với các qui luật ấy. Chẳng hạn trong trường hợp tác phong đối thoại, các chuẩn mực văn hóa trong xã hội Ả Rập qui định rằng ngay các cuộc đàm thoại sơ giao cũng phải giữ khoảng cách đúng một bộ (khoảng 3 phân) để cho những người đối thoại cảm nhận và ngửi được hơi thở của nhau khi trò chuyện. Ngược lại, ở các nền văn hóa phương Tây các quy định khác biệt hẳn: Các cuộc đàm thoại tình cờ với bạn bè sơ giao thưởng diễn ra ở khoảng cách tự 1,2 tấc đến gần 4 tấc và tình trạng để người khác cảm nhận và ngửi được hơi thở của mình là điều tối kỵ. Ngoài ra, các dị biệt hiển nhiên về một văn hóa, như giữ khoảng cách giữa những người đối thoại, kiểu trang phục và cách ẩm thực chẳng hạn đều che giấu những điểm khác biệt căn bản còn lớn hơn và nhiều hơn thế nữa giữa các dân tộc thuộc các nền văn hóa khác nhau. Niềm tin, thang giá trị, và thậm chí đến quan điểm về cách vận hành thế giới cũng khác biệt nhau. Bất kể tầm quan trọng của văn hóa, cho đến nay lãnh vực nghiên cứu của Bộ môn tâm lý học phần lớn nhắm vào các dân tộc Bắc Mỹ và Châu Âu. Như chúng ta đã thảo luận ở chương 1, đại đa số các cuộc nghiên cứu hiện hành đều xuất phát từ Hoa Kỳ, và sau đó là Châu Âu. Tình trạng thiếu tính đa dạng này gây trở ngại cho mục tiêu của bộ môn tâm lý nhằm giải thích tác phong cư xử của nhân loại nói chung, khiến cho nhiều người phê phán rằng bộ môn này chỉ cống hiến các lối giải thích đúng đắn cho lối cư xử diễn ra trong bối cảnh các nền văn hóa phương Tây. Tuy vậy, trong những năm gần đây các nhà tâm lý ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các khảo hướng giao lưu văn hóa để giải thích hành vi ứng xử của con người. Tâm lý học giao lưu văn hóa (cross- cultural psychology), là chuyên ngành tâm lý tìm hiểu các điểm tương đồng và dị biệt về sinh hoạt tâm lý giữa nhiều nền văn hóa và nhóm chủng tộc khác nhau, đã trở nên ngày càng quan trọng hơn trong lãnh vực tâm lý. Chẳng hạn, một số nhà tâm lý đã chú trọng đến các ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi ứng xử của nhân loại, so sánh các dị biệt về cách cư xử và cách tư duy giữa các dân tộc thuộc các nền văn hóa khác biệt nhau. Còn các nhà tâm lý khác nỗ lực phát minh các biện pháp ngăn chặn hành vi gây chiến và củng cố hòa bình giữa các xã hội và các nền văn hóa cực kỳ khác biệt nhau. Chúng ta sẽ tìm hiểu số đề tài này khi thảo luận về viễn tượng toàn cầu ngày càng được quan tâm hơn trong lãnh vực bộ môn tâm lý học. 1. Cá nhân chủ nghĩa và chủ nghĩa tập thể: Cá nhân ngược lại tập thể Bạn cho rằng có nên quan tâm đến quan điểm của cha mẹ bạn trong việc chọn lựa nghề nghiệp không? Bạn có cho rằng mình phải giúp đỡ người láng giềng thoát khỏi cảnh khốn quẫn tài chánh không? Bạn có cho rằng mình có nghĩa vụ cho anh bạn học không đến lớp mượn tập ghi chép bài học của bạn không? Nếu bạn trả lời "có" đối với tất cả các câu hỏi này, thì bạn vốn được định hướng giá trị tương tự như người dân ở nhiều nền văn hóa châu Á và các nền văn hóa khác ngoài phương Tây. Ngược lại, nếu như bạn trả lời "không", thì cách trả lời của bạn tiêu biểu hơn cho các nền văn hóa phương Tây. Hai định hướng đối chọi nhau này được mệnh danh là chủ nghĩa tập thể và cá nhân chủ nghĩa. Chủ nghĩa tập thể (collectivism) là quan điểm cho rằng hạnh phúc của tập thể quan trọng hơn hạnh phúc cá nhân, trong khi cá nhân chủ nghĩa (individualism) là quan điểm cho rằng sự khẳng định bản thân, tính độc đáo, tự do, và giá trị của cá nhân có tầm quan trọng chủ yếu. Những người sống trong các nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể chú trọng đến phúc lạc chung của toàn thể mọi thành viên trong xã hội và đặc biệt của những người cùng chung tập thể của họ. Đôi khi, hạnh phúc của tập thể còn quan trọng hơn hạnh phúc và thành tựu của cá nhân nữa. Ngược lại, các nền văn hóa đặt nền tảng trên cá nhân chủ nghĩa chú trọng đến sự khẳng định bản thân, tính độc đáo, tự do, và giá trị của cá nhân. Những người sống trong các xã hội theo cá nhân chủ nghĩa (như Hoa Kỳ chẳng hạn) chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu cá nhân của họ so với mục tiêu của cộng đồng hoặc của xã hội họ đang sống. Tình trạng ưu thắng của chủ nghĩa tập thể hay cá nhân chủ nghĩa trong một xã hội đặc biệt phát sinh một số hậu quả. Chẳng hạn, sự phát triển kinh tế và công nghiệp thành công thường gắn liền với hệ thống giá trị cá nhân chủ nghĩa. Ngược lại, thành quả công nghiệp hóa thường yếu kém hơn ở các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, như Ấn Độ chẳng hạn. Con người sống ở các xã hội theo chủ nghĩa dị biệt này cũng khác biệt nhau về cách phán đoán các nguyên nhân của hành vi ứng xử. Chẳng hạn, những người sống ở các nền văn hỏa Á Châu chủ yếu theo chủ nghĩa tập thể thường khác biệt rất nhiều so với người da trắng trong việc qui trách lý do cho thành quả học tập của mình. Thực tế các dị biệt này có thể rất đáng kể đến mức giải thích được thành tích cao hơn của sinh viên Châu Á, vượt trội hẳn sinh viên Mỹ trong các so sánh thành tích học tập của sinh viên trên bình diện Quốc tế. Đặc biệt, cuộc nghiên cứu của nhà tâm lý giáo dục Harold Stevenson cho rằng sinh viên Nhật Bản thường qui trách thành tích học tập của họ cho các nhân tố hoàn cảnh nhất thời, và nhất là cho mức độ học tập chuyên cần của họ. Ngược lại, sinh viên Mỹ thường xem thành tích học tập của họ là hậu quả của các nguyên nhân bền vững, không thể cải biến được, và nhất là cho năng khiếu bẩm sinh của họ. Bởi vì sinh viên Nhật cho rằng thành công học vấn là kết quả của sự chuyên cần, nên họ thường có động cơ dốc hết nỗ lực vào việc học tập. Ngược lại, niềm tin vào năng khiếu bẩm sinh không thể cải biến được làm cơ sở vững chắc cho thành quả học tập của sinh viên Mỹ khiến cho họ ít dốc công sức vào việc học. Dù sao, nếu như sinh viên cho rằng năng khiêu vốn có của họ là nguyên nhân chủ yếu của thành quả học tập thì tại sao họ lại phải dốc nhiều công sức vào việc học kia chứ?. Dù theo chủ nghĩa nào, nền văn hóa cũng phải tìm cách chia sẻ số tài nguyên khan hiếm cho mọi người trong xã hội. Chẳng hạn, người dân sống ở các nền văn hóa theo chủ nghĩa tập thể chủ yếu sử dụng chuẩn mực bình đẳng (norm of equality) để xác định cách thức phân chia số tài nguyên có giới hạn ấy. Chuẩn mực bình đẳng qui định rằng tất cả mọi người phải được phân chia đồng đều, bất kể người được chia phần là ai hay năng lực và thành tích của họ đến mức nào. Thí dụ, theo qui luật bình đẳng mọi công dân trong một doanh nghiệp sẽ được trả lương đồng đều, bởi vì tất cả mọi người đều được xem là bình đẳng với nhau. Ngược lại, người dân sống ở các xã hội theo cá nhân chủ nghĩa thường sử dụng chuẩn mực công bằng (norm of equlity), trong đó việc phân chia số tài nguyên có giới hạn ấy căn cứ vào công sức đóng góp của một người hoặc theo thành quả gặt hái được của họ. Người nhận được phần chia nhiều nhất là những cá nhân đã đóng góp nhiều nhất, còn người nhận được phần chia ít nhất là những cá nhân đã đóng góp ít nhất. Trong một xã hội theo cá nhân chủ nghĩa - như Hoa Kỳ chẳng hạn - công nhân được trả lương theo giá trị công sức của họ. Do đó, tiền công mỗi người nhận được chênh lệch nhau rất nhiều. Tóm lại, định hướng giá trị tổng quát của người dân sống trong một nền văn hóa đặc biệt ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của họ theo rất nhiều chiều kích khác nhau. Nếu không chú ý đến các nhân tố này, chúng ta không thể hiểu thấu toàn diện chiều rộng cũng như chiều sâu của hành vi ứng xử của con người. 2. Chiến tranh, hòa bình, và thủ đoạn khủng bố Tuy mối đe dọa xảy ra cuộc chiến tranh nguyên tử đã giảm đi sau khi kết thúc cuộc chiến tranh lạnh, nhưng nó vẫn còn là mối đe dọa tiềm tàng đồi với chính sự tồn tại của nhân loại. Các kho vũ khí hạt nhân lớn lao vẫn tiếp tục được duy trì bởi các cường quốc chủ yếu trên thế giới, ngay đến các nước nhỏ cũng đang chạy đua phát triển loại vũ khí giết người hàng loạt này. Mặc dù mối đe dọa xảy ra chiến tranh nguyên tử là một vấn đề nổi cộm, nhưng chỉ mới gần đây các nhà tâm lý mới bắt đầu chú ý đến vấn đề này. Các đề tài tâm lý quan trọng làm nền tảng cho cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử bao gồm cách nhận định về kẻ thù của chúng ta, các phản ứng đối với khả năng xảy ra chiến tranh nguyên tử và chủ nghĩa khủng bố, cùng các biện pháp tâm lý nhằm cổ vũ việc tài giảm binh bị. a. Ngộ nhận kẻ thù. Cứ sáu mươi giây, các quốc gia trên thế giới chi tiêu khoảng một triệu đô la vào mục đích trang bị vũ khí cho mình. Trong thời gian một năm, các nước ấy chi tiêu hơn phân nửa tổng lợi tức của dân số toàn thế giới. Nhằm mục đích như chúng ta đã nói là để bảo vệ chúng ta trước kẻ thù. Vậy mà quan niệm của chúng ta về các vấn đề như ai là kẻ thù của chúng ta, họ hành động ra sao, và tại sao họ cư xử như thế lại thường lệch lạc. Nhà tâm lý Ralph White đã lập luận rằng, trong nhiều trường hợp sự hiểu biết của chúng ta về kẻ thù quá sai lạc đến mức khiến cho chúng ta phạm sai lầm nghiêm trọng về mặt chiến lược. Như là một trường hợp điển hình, White nêu ra một số sai lầm ảnh hưởng đến quyết định tham chiến ở VN của Hoa Kỳ bao gồm hình dung kẻ thù độc ác ghê tởm, bản thân oai hùng, cả tin vào khả năng của quân đội, thiếu cảm thông với kẻ thù, cố tình làm ngơ trước các sự kiện thực tế, và tự cho mình hành động hợp luân lý. Các ngộ nhận như thế về kẻ thù (và về chính mình) không chỉ xảy ra trong cuộc chiến tranh ở VN; nhân dân và các vị lãnh đạo các cường quốc trên thế giới vẫn cứ hay ngộ nhận các tuyên ngôn của nhau, nên công việc giải đoán ý nghĩa lời nói của kẻ khác quả là một công việc rất đáng sợ. b. Phản ứng đối với chiến tranh nguyên tử. Hãy xét tình huống sau: Bạn tôi mắc phải ung thư. Cô có lý do để tin rằng mình lâm vào tình thế ba sống một chết. Tuy hiểu rõ chẩn đoán này, nhưng cái chết khả dĩ vẫn còn hơi xa theo cảm nghĩ của cô. Cô hình dung cái chết của cô khá mơ hồ, và cô nói đến ý định rời xa thành phố và chỉ đi vài chuyến về các vùng quê. Lạ lùng thay, cô không đề cập nhiều về việc xa rời những người thân quen trong cuộc sống. Cô cũng tin rằng không thể nào làm gì để thay đổi vận mệnh của mình được. Cô không lo âu về chứng ung thư ấy thường xuyên lắm - Cô tiếp tục cuộc sống bình thường của mình. Một số người nói rằng cô là người tuyệt vời, phi thường, yêu đời, dũng cảm, và dễ thích nghi với cuộc sống. Còn những người khác thì nói rằng cô đang trấn áp cơn sợ hãi, phủ nhận thực tế, và trở thành vô cảm đối với cái chết của bản thân. Người "bạn" đề cập ở đây là một công dân Mỹ bình thường, còn căn bệnh "ung thư" của cô ấy chính là nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh nguyên tử. Khi nhà tâm lý Susan Fiske viết đoạn văn ẩn dụ trên, bà tìm cách bi kịch hóa lối phản ứng của hầu hết dân Mỹ đối với mối đe dọa xảy ra chiến tranh nguyên tử. Các cuộc điều tra tiến hành trong thập niên 1980 cho thấy số người tin rằng có thể xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử chiếm tỷ lệ từ 10% đến gần 50%. Ưu tư này cũng biến động đáng kể trong thập niên 1980. Ở Hoa Kỳ, Châu Âu và thậm chí ở Liên Xô, sự lo âu lên đến cực điểm trong nửa thập niên đầu rồi sau đó giảm bớt đi. Khi được yêu cầu cho biết nhận định rằng tình hình sẽ ra sao khi cuộc chiến tranh nguyên tử nổ ra, nhận định của mọi người rất ảm đạm: Họ cho rằng toàn bộ dân số thế giới sẽ bị hủy diệt, tuy họ có khuynh hướng chú trọng về thiệt hại vật chất đối với các khu cao ốc nhiều hơn tình trạng tử vong của con người cụ thể. Hầu hết mọi người đều không mong còn tồn tại được. Người ta không suy nghĩ về chiến tranh nguyên tử thường xuyên cho lắm. Sự kiện này dường như đáng ngạc nhiên: Nếu như bạn cho rằng thậm chí mình chỉ có 10% xác suất nhiễm bệnh và chết vì chứng ung thư, có lẽ bạn sẽ lo nghĩ thường xuyên và dùng mọi biện pháp ngăn ngừa. Vậy mà điều này lại không diễn ra với nguy cơ xảy ra thảm họa vũ khí nguyên tử tiêu diệt hàng loạt: hầu hết mọi người đều không có hành động cụ thể nào để chấm dứt mối đe dọa ấy cả. Một số lý lẽ có thể giải thích được sự khác biệt giữa niềm tin của con người về nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh nguyên tử, phản ứng sợ hãi đối với nó, với tình trạng thiếu hành động cá nhân của họ nhằm chấm dứt nỗi sợ hãi đó. Một lối giải thích cho rằng mối đe dọa nguyên tử hủy diệt hàng loạt khủng khiếp quá mức khiến cho con người không thể chịu đựng nổi về mặt tâm lý, nên họ đành phải trấn áp cơn sợ hãi và xua nó ra khỏi tâm tư của mình. Lối giải thích khác, như các cuộc nghiên cứu đã nêu rõ, cho rằng một công dân đơn độc, hành động một mình, hiếm khi thay đổi được chính sách của nhà cầm quyền; thậm chí trường hợp rất nhiều công dân hành động tập thể cũng chỉ gây được ảnh hưởng rất yếu ớt đến quyết định của các nhà lãnh đạo đương quyền. Cuối cùng là câu hỏi liệu chiến lược nào hoàn hảo nhất nhằm làm giảm bớt đe dọa xảy ra chiến tranh nguyên tử. Một số chiến lược khác biệt (và mâu thuẫn) nhau đã được đề nghị - từ ngăn cấm toàn bộ các loại vũ khí hạt nhân cho đến gia tăng số lượng vũ khí lớn lao đến mức khiến cho việc sử dụng chúng chắc chắn sẽ hủy diệt toàn bộ thế giới, do đó trên lý thuyết (và quả là nghịch lý) sẽ giảm bớt cơ hội dùng chúng. Như vậy không lấy gì làm ngạc nhiên rằng người ta khó lòng tìm được đường lối hành động thích hợp nhất - một vấn đề mà các nhà tâm lý vừa mới khởi sự đề cập đến. c. Khủng bố và con tin. Một trong những mối đe dọa lớn lao nhất cho nền hòa bình trong thập niên qua là hiện tượng khủng bố và bắt giữ con tin vô tội. Bọn khủng bố với ý đồ chính trị biết rằng thủ đoạn bắt con tin sẽ làm chấn động dư luận về động cơ hành động của bọn chúng, như quyết tâm tuẫn nạn và tính cách anh hùng cá nhân, sự tuân phục của bọn đàn em, và quyền lực chẳng hạn, qua việc nâng cao tư thế đàm phán của chúng. Việc tìm hiểu biện pháp tối ưu nhằm đối phó với bọn khủng bố bắt con tin đã tỏ ra là một công tác khó khăn làm nảy sinh một số vấn đề quan trọng về mặt tâm lý - cũng như luân lý. Bản thân các nhà tâm lý chính trị cũng khác biệt quan điểm với nhau về đường lối hành động tối ưu. Biện pháp trực tiếp nhất đối với thủ đoạn bắt con tin là dùng vũ lực để giải thoát các nạn nhân bị bắt giữ. Dĩ nhiên, nhược điểm là nguy hiểm đến tính mệnh của con tin, hoặc do hành động cố tình của bọn khủng bố hoặc do hành động sơ suất của lực lượng cứu nạn. Tuy vũ lực đôi khi được dùng đến - như trường hợp biệt kích Israel cứu hành khách bị bắt giữ trên chuyến phi cơ ở sân bay Entebbe thuộc xứ Uganda trong thập niên 1970 - nhưng hầu hết các trường hợp con tin đều bị canh giữ nghiêm ngặt cho nên khả năng tổn thất sinh mệnh rất cao. Biện pháp thứ nhì là chấp nhận cứu tính mệnh con tin với bất cứ giá nào. Trong trường hợp này, yêu sách của bọn khủng bố được đáp ứng trong một số chừng mực, và bọn chúng có thể được chấp nhận công khai hoạt động, giải thoát đồng bọn đang bị cầm tù, tiền chuộc, hoặc cơ hội tẩu thoát. Tuy biện pháp này thường cứu được con tin, nhưng cũng có nhược điểm: tạo tiền lệ cho bọn khủng bố khác, chứng minh sự thành công của thủ đoạn khủng bố. Như chúng ta đã biết qua công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý chuyên về tiến trình học tập theo quan sát, con người học tập được nhiều điều nhờ quan sát lối cư xử mẫu mực được biểu dương. Như vậy, nhiều lần đáp ứng yêu sách sẽ khiến cho bọn khủng bố này cũng như bọn khác càng có thủ đoạn khủng bố táo tợn hơn nữa. Biện pháp thứ ba là khước từ thương lượng với bọn khủng bố trong bất kỳ tình huống nào, dù cho bao nhiêu con tin bị bắt giữ cũng mặc - lập trường này là chính sách công khai của Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1980 (tuy không đạt được hiệu quả hoàn toàn như ý trong thực tế). Theo biện pháp này, bọn khủng bố bị các cơ quan chính phủ xem thường, nhờ đó giảm bớt tiền lệ và sau cùng giảm được tệ nạn khủng bố trong tương lai. Dĩ nhiên, nhược điểm của biện pháp này là con tin ít hy vọng sống sốt và không làm nguôi cơn sợ hãi của gia đình họ trong thời gian giam cầm con tin, đồng thời cũng có thể gia tăng khả năng tổn thương hoặc tử vong trong tay bọn khủng bố ngày càng điên rồ hơn. Tuy nhiên, vẫn còn có một biện pháp trung dung trong đó các cuộc thương lượng giữa bọn khủng bố và nhà cầm quyền sẽ diễn ra hoàn toàn bí mật, không được báo chí biết đến. Như vậy, bọn khủng bố không còn lợi dụng được dư luận báo chí nên không thể làm gương cho bọn khủng bố khác nữa. Ngoài ra, nhân viên đàm phán kiên quyết đòi phóng thích con tin và bọn khủng bố bị dồn trách nhiệm để sau cùng bị lên án trước tòa vì hành vi phạm tội của chúng. Sau đó, nhà chức trách phải tiếp tục truy lùng, bắt giữ, đưa ra tòa xét xử, rồi tống giam bọn chúng. Nhược điểm của biện pháp này là bỏ qua nhiều khía cạnh thực tế về mặt chính trị của tệ nạn khủng bố. Chẳng hạn, các nhà lãnh đạo chính trị có thể gặp phải áp lực hầu như không thế cưỡng lại được nên phải chấp nhận làm mọi việc trong phạm vi thẩm quyền để được phóng thích con tin, nhất là khi bản thân các con tin ngoan ngoãn cầu xin cứu mạng với vẻ đáng thương trước phương tiện truyền thông. Ngoài ra, điều tốt nhất trong dài hạn có thể không tối hảo trong ngắn hạn. Hiển nhiên, thương lượng với bọn khủng bố là thử thách cam go đối với người có trách nhiệm đàm phán - đó là chưa nói đến thử thách gian khổ mà bản thân con tin đã gặp phải. d. Các triển trọng tâm lý đối với nỗ lực giảm bớt mối đe dọa xảy ra chiến tranh nguyên tử. Một trong các vấn đề chính trị chủ yếu của thế giới là nỗ lực kiểm soát vũ khí hạt nhân. Đâu là biện pháp tối ưu để công dân ủng hộ đường lối hành động của chính quyền họ? Các nhà tâm lý đã nhận diện được hai biện pháp chọn lựa: hạn chế và ngăn chặn vũ trang hạt nhân. Một số chuyên gia đề nghị thực hiện biện pháp hạn chế vũ trang hạt nhân (nuclear arms freeze), trong đó các cường quốc nguyên tử trên thế giới cam kết không chế tạo thêm vũ khí hạt nhân nữa (bởi vì số lượng vũ khí hạt nhân hiện nay đã đủ sức tiêu diệt thế giới gấp nhiều lần rồi). Sau khi biện pháp hạn chế đã đạt được và có cơ sở vững chắc rồi, các cường quốc nguyên tử có thể tổ chức các cuộc đàm phán tài giảm binh bị nhằm giảm bớt qui mô các kho vũ khí hạt nhân hiện hữu. Quan điểm hạn chế vũ trang đi ngược lại chiến lược ngăn chặn mà các siêu cường sử dụng xưa nay. Ngăn chặn/ gián chỉ (deterrence) là quan điểm cho rằng đe dọa trả đũa trên qui mô lớn chống lại đòn tấn công của kẻ thù từ lâu là biện pháp hiệu nghiệm nhất nhằm ngăn ngừa bị tấn công. Theo quan điểm này, biện pháp phòng vệ thích hợp nhất là tăng cường vũ trang. Biện pháp này bảo đảm rằng hành động trả đũa sẽ hủy diệt toàn bộ nước tấn công, nên quan điểm ấy được mệnh danh là MAD - tức là lưỡng bại câu thương (mutually assured destruction). Chiến lược ngăn chặn có hiệu nghiệm không? Câu hỏi này khó lòng giải đáp được bởi vì tình trạng bất khả thực hiện các cuộc nghiên cứu thực nghiệm có kiểm soát trong một thế giới cực kỳ phức tạp như hiện nay. Ngoài ra, trọng tâm của các cuộc nghiên cứu như thế lại là cách cư xử của các thực thể trừu tượng - tức là các quốc gia - trên thực tế hình thành bởi cách cư xử của nhiều cá nhân. Cuối cùng, sau khi biến cố đã xảy ra người ta thường không tài nào biết được các nhà lãnh đạo có sẵn trong tay loại thông tin nào để quyết định các vấn đề chiến tranh và hòa bình. Mặc dù các khó khăn về mặt lý thuyết như thế, nỗ lực tìm hiểu cặn kẽ các biến cố lịch sử liên quan đến chiến lược ngăn chặn cho thấy nó không hiệu nghiệm lắm trong việc ngăn chặn các cuộc xung đột vũ trang. Chẳng hạn, một phân tích sách lược quân sự trên 2000 năm lịch sử đã khám phá rằng các quốc gia đã chấp nhận quan điểm tăng cường vũ trang là biện pháp ngăn ngừa chiến tranh sau đó dễ bị lôi cuốn vào các cuộc xung đột hơn các quốc gia không chủ trương tăng cường vũ trang. Ngoài ra, dường như tình trạng sẵn có vũ khí trong tay do cuộc chạy đua vũ trang có thể thúc đẩy các nhà làm sách lược dễ dàng chấp nhận hành động quân sự trong các biện pháp chọn lựa của họ so với trường hợp không có sẵn nhiều vũ khí đến thế. Như vậy, việc tăng cường vũ trang có thể tác động như một lời tiên đoán để tự an ủi: Một quốc gia cần vũ trang để tự vệ, và để đáp ứng nhu cầu kỳ vọng này, sẽ sản xuất và tàng trữ số lượng vũ khí khổng lồ. Sau đó, hậu quả của sự hiện diện các kho vũ khí này làm nảy sinh nhận định rằng sứ dụng vũ khí là một giải pháp thích hợp để giải quyết các cuộc khủng hoang và các tranh chấp về chính sách đối ngoại. Sau cùng, nhận định này làm tăng thêm nguy cơ sử dụng vũ lực, cho đến một thời điểm chín muồi nào đó thảm họa sẽ nổ ra. Như vậy, kỳ vọng ban đầu tăng vũ trang là cần thiết để tự vệ sẽ đưa đến hậu quả sử dụng vũ lực - quả là đi ngược lại kết quả mong muốn vậy. 3. Tâm lý học và nỗ lực cổ vũ hòa bình "…Bởi vì chiến tranh khởi phát từ tâm tư con người, nên chính trong lương tri nhân loại việc bảo vệ hòa bình phải được xây dựng." Bất kể tuyên ngôn như thế (của UNESCO ngay sau Thế Chiến II kết thúc), việc nghiên cứu vấn đề hòa bình nói chung vẫn còn ngoài lãnh vực tâm lý học, mà chủ yếu dành cho các nhà khoa học chính trị và các sử gia. Tuy vậy, vẫn có một số lĩnh vực trong đó ngày càng có nhiều nhà tâm lý đang nỗ lực đóng góp vào việc ngăn chặn chiến tranh và cổ vũ hòa bình. Các lĩnh vực nghiên cứu quan trọng nhất là: - Thái độ đôi với các nước khác. Các nhà tâm lý xã hội đã tìm hiểu cách thức nảy sinh thái độ của chúng ta đối với các nước khác và các thái độ ấy ảnh hưởng ra sao đến cách nhận định của chúng ta về họ. Thí dụ, tại sao thái độ hoàn toàn thù nghịch của người Mỹ đối với Liên Xô trước đây nay lại trở nên thân thiện hơn rất nhiều? - Các quyết định liên quan đến quốc phòng. Các nhà tâm lý chuyên về lãnh vực trí tuệ đã tìm hiểu cách thức hình thành quyết định. Thiên kiến trong các tiến trình trí tuệ có thể khiến cho người ta tính toán sai lạc và quyết định không thích hợp, như cuộc đổ bộ thất bại lên vịnh Con Heo ở Cu Ba vào thập niên 1960 chẳng hạn. - Cách cư xử trong các thời điểm khủng hoảng. Cách cư xử của các nhà lãnh đạo quốc gia trong các cuộc khủng hoảng là trọng tâm nghiên cứu của nhiều cuộc khảo cứu. Nhờ tìm hiểu cặn kẽ hơn phản ứng của các vị lãnh đạo ấy đối với các biến cố khác thường, các nhà tâm lý có thể trình bày các khuyến cáo đối với các cuộc khủng hoảng trong tương lai. - Chiến tranh ngẫu nhiên nổ ra. Các nhà tâm lý phục vụ trong quân đội đã xây dựng chương trình tin cậy nhân sự (Personnel Reliability Program) để đảm bảo rằng những cá nhân phụ trách các loại vũ khí hạt nhân đã được huấn luyện thích hợp và sẽ không có ý đồ sử dụng chúng khi không được lệnh của giới chức có thẩm quyền. Ngoài ra, các nhà tâm lý này cũng đã tìm hiểu một số vấn đề như xác suất xảy ra rủi ro trong các hệ thống điều hành vũ khí trong một số tình huống nhất định. - Đàm phán và ngăn ngừa chiến tranh. Các nhà tâm lý đã chú trọng đến các kỹ năng đàm phán, và về một số khía cạnh còn quan trọng hơn nữa đến việc ngăn ngừa các xung đột quốc tế. Chẳng hạn, các nhà tâm lý đã phác họa các tình huống giả tạo trong đó những người tham dự đóng vai trò các vị lãnh đạo quốc gia đối phó với một cuộc khủng hoảng để nhận diện ra cách sách lược hiệu nghiệm khả dĩ vận dụng được nhằm kết thúc các cuộc xung đột trên thực tế. - Giáo dục: lợi dụng học đường để cổ vũ hòa bình. Nhà tâm lý xã hội Morton Deutsch lập luận rằng giáo dục nhằm kiến tạo một thế giới hòa bình phải là một bộ phận cốt yếu trong mọi sinh hoạt học đường của thiếu nhi. Ông đề nghị ngay từ các năm tiểu học, các trường học có thể giảng dạy một số chủ đề nhằm mục tiêu cổ vũ hòa bình. Các chủ đề này bao gồm hướng dẫn rèn luyện tinh thần cộng tác, trong đó các học viên cũng làm việc với nhau để am tường một số thông tin; huấn luyện học sinh giải quyết xung đột; hướng dẫn các biện pháp có tính xây dựng nhằm giải quyết các đề tài gây tranh cãi; và truyền dạy cho học sinh các kỹ thuật đều đình. Mặc dù các biện pháp tâm lý nhằm ngăn ngừa chiến tranh và cổ vũ hòa bình đang trên đà phát triển, nhưng chúng ít khi được thực thi. Tuy vậy, tương lai đầy hứa hẹn, và nhiều nhà tâm lý đang tiếp tục nghiên cứu để phát minh các biện pháp thay thế cho các biện pháp truyền thống nhằm giải quyết các cuộc xung đột dường như không thể tránh được giữa các quốc gia và giữa các nhóm chủng tộc, tôn giáo, và sắc tộc thiểu số. 4. Tóm tắt và học ôn III A. TÓM TẮT - Tâm lý học giao lưu văn hóa (cross-cultural psychology) là một chuyên ngành tâm lý nhằm tìm hiệu các đặc điểm tương đồng và dị biệt về chức năng tâm lý giữa các nền văn hóa và các nhóm chủng tộc khác biệt nhau. - Các nền văn hóa khác biệt nhau về mức độ ưu thắng của các định hướng giá trị theo chủ nghĩa tập thể (collectivism) và cá nhân chủ nghĩa (individualism). - Nhận định của con người về kẻ thù thường bị sai lạc về một số mặt. - Biện pháp đối phó với bọn khủng bố bắt giữ con tin có thể bao gồm sử dụng vũ lực thương lượng để cứu tính mệnh con tin bằng mọi giá, khước từ thương lượng với bọn khủng bố, hoặc chấp nhận giải pháp trung dung. - Tuy tin rằng cuộc chiến tranh nguyên tử rấtt có thể nổ ra, nhưng con người ít có hành động cụ thể để ngăn ngừa. B. HỌC ÔN 1/.......... là quan điểm tho rằng hạnh phúc của tập thể quan trọng hơn phúc lạc cá nhân. Ngược lại,.................. cho rằng sự khẳng định bản thân, tính độc đáo, ý chí tự do, và giá trị của cá nhân là điều kiện chủ yếu. 2/ Con người sống trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể thường qui trách nhiệm thành tích học tập của họ cho các nhân tố hoàn cảnh có tính nhất thời, như mức độ nỗ lực học tập chẳng hạn. Đúng hay sai?............................................... 3/ Một trong các quan tâm quan trọng nhất của bọn khủng bố là: a) Nhận tiền chuộc để đổi lấy điều kiện phóng thích con tin. b) Đi phi cơ khỏi tốn tiền. c) Thuyết phục thêm nhiều người gia nhập nhóm khủng bố d) Sự chú ý của giới truyền thông. 4/ Ralph White đã lập luận rằng ngộ nhận kẻ thù có thể ảnh hưởng đến các quyết định trong các thời điểm xảy ra xung đột. Hãy nêu ra ba ngộ nhận khả dĩ. 5/ Quan điểm cho rằng đòn tấn công của kẻ thù có thêm ngăn chặn bởi đe dọa trả đũa gọi là............... C. CÂU HỎI TỰ VẤN Bạn nghĩ sao về quan điểm cho rằng nhân định của dân Mỹ về nhân dân Liên Xô cũ đã thay đổi kể từ khi nước này tan rã và không còn bị xem là kẻ thù nữa? (Giải đáp câu hỏi học ôn ở cuối chương) Created by AM Word2CHM TÂM LÝ HỌC CĂN BẢN à Chương 15. SỐNG VỚI THA NHÂN TRONG MỘT THẾ GIỚI MUÔN MÀU - Stress là gì, nó tác động đến chúng ta ra sao, và chúng ta làm cách nào để khắc phục nó hiệu quả nhất? 1. Stress là một phản ứng đối với các điều kiện đe dọa và thách thức trong môi trường sống. Cuộc sống con người đầy dẫy các tác nhân gây stress (stressor) - Các tình huống gây căng thẳng - có bản chất gồm cả tích cực lẫn tiêu cực 2. Stress gây ra các phản ứng sinh lý tức thời, bao gồm gia tăng số lượng hoirmone tiết ra, nhịp tim và áp huyết tăng vọt lên, và thay đổi mức dẫn điện ở da. Trong ngắn hạn, cơ thể con người có thể thích nghi với các phản ứng này, nhưng trong dài hạn chúng có thể gây ra các hậu quả xấu, bao gồm sự phát triển các dạng rối loạn cơ thể - tâm thần (psychosomatic disorders). Các hậu quả do stress gây ra có thể được giải thích phần nào bởi Hội chứng Thích ứng Tổng quát của Selye (Selye's gerenal adapta-non syndrome). Mô hình này cho rằng các IV. NHỮNG ĐIỂM CẦN GHI NHỚ phản ứng căng thẳng gồm có ba giai đoạn: báo động và động viên năng lực, đề kháng, và kiệt sức 3. Các nhân tố gây căng thẳng không có tính phố quát - cách giải thích một tình huống môi trường liệu ảnh hưởng của nó có được xem là căng thẳng hay không khác biệt nhau giữa mọi người. Dù vậy, cũng có ba loại biến cố tổng quát thường gây ra stress: các biến cố gây thảm họa chung cho nhiều người (cataclysmic events), các tác nhân gây stress riêng tư (personnal stressors), và các tác nhân gây stress trong cuộc sống thường ngày (background stressors - các rắc rối thường nhật, dai y hassles). Tình trạng căng thẳng được giảm bớt nhờ sự hiện diện của các khích lệ tinh thần (uplifts), tức là các sự việc tuy không đáng kể nhưng khiến cho người ta cảm thấy hài lòng - dù chỉ trong tạm thời. 4. Tình trạng căng thẳng có thể được giảm bớt nhờ sự xây dựng ý thức kiểm soát các tình huống gặp phải. Nỗ lực khắc phục stress có thể được thực hiện dưới một số hình thức, bao gồm vận dụng vô thức các cơ chế phòng vệ (defense mechanisms) và sử dụng các biện pháp khắc phục nhắm vào xúc cảm hoặc nhắm vào rắc rối. - Các nguyên nhân nào gây ra thành kiến và kỳ thị 5. Thành kiến (stereotypes) là các niềm tin và kỳ vọng hình thành đối với các thành viên của một tập thể chỉ vì tư cách thành viên của họ trong tập thể ấy. Tuy thường hay nhắm vào các nhóm chủng tộc và sắc tộc thiểu số nhất, thành kiến cũng hình thành đối với các nhóm giới tính và tuổi tác. Các thành kiến không chỉ gây ra tệ nạn kỳ thị (discrimination) mà còn dẫn đến các tiên đoán để tự an ủi (self-fullilling prophecy), tức là các kỳ vọng diễn ra các biến cố hay hành vi tương lai tác động nhằm gia tăng xác suất thực sự xảy ra các biến cố hay hành vi ấy. - Giữa các vai trò giới tính của nam giới và nữ giới có các điểm khác biệt chủ yếu nào? 6. Các nhận định về bản thân chúng ta được quyết định phần lớn bởi ý thức về giới tính của mình, tức là ý thức rằng mình là nam giới hay nữ giới. Vai trò giới tinh (gender roles) là các kỳ vọng do xã hội áp đặt nhằm nêu rõ lối cư xử nào thích hợp cho nam giới và lối nào cho nữ giới. Khi vai trò giới tính phản ảnh thái độ thuận lợi đối với một giới tính đặc biệt, chúng dẫn đến thành kiến và gây ra tệ nạn kỳ thị giới tính (sexism), tức là thái độ và lối cư xử bất lợi cho một cá nhân vì giới tính của người ấy. 7. Thành kiến về vai trò giỏi tính đối với nam giới cho rằng họ được thiên phú các nét nhân cách liên quan đến năng lực (competence - related traits), trong khi nữ giới bị xem là có năng khiếu về nhiệt tình và biểu hiện nhân ái. Các dị biệt giới tính trên thực tế không rõ rệt lắm, và mức độ khác biệt cũng thấp hơn nhiều so với thành kiến. Có các dị biệt về mức độ gây hấn, lòng tự ái, kiểu thông đạt, và có lẽ về năng lực trí tuệ, nhưng mức độ khác biệt của chúng cũng không đáng kể. Các dị biệt này phát sinh do một phối hợp gồm các nhân tố sinh học và hoàn cảnh gây ra. 8. Các nguyên nhân sinh học gây ra các dị biệt giới tính được phản ảnh qua các chứng cứ cho rằng có thể có khác biệt về cấu tạo và chức năng não bộ giữa nam giới và nữ giới; và các khác biệt này có thể liên quan đến các loại hormone đặc biệt sản sinh ngay từ khi còn trong bào thai mẹ. Riêng về các nguyên nhân hoàn cảnh, các kinh nghiệm xã hội hóa hình thành các lược đồ giới tính (gender schemas) trong tâm trí con người; đó là các cơ cấu trí tuệ nhằm sắp xếp có hệ thống và hướng dẫn đứa trẻ tìm hiểu các thông tin phù hợp với giới tính của nó. - Nền văn hóa gây ảnh hưởng gì đối với cách cư xử của con người? 9. Tâm lý học giao lưu văn hóa (cross-cultural psycholosy) là chuyên ngành tâm lý tìm hiểu các điểm tương đồng và dị biệt về chức năng tâm lý trong các nền văn hóa và các nhóm chủng tộc khác nhau. Một chiều kích khiến cho các nền văn hóa khác biệt nhau là sự phân biệt giữa chủ nghĩa tập thể và cá nhân chủ nghĩa. Chủ nghĩa tập thể (collectivism) là quan điểm cho rằng hạnh phúc của tập thể quan trọng hơn hạnh phúc cá nhân, trong khi cá nhân chủ nghĩa (individualism) là quan điểm cho rằng sự khẳng định bản thân, tính độc đáo, ý chí tự do, và giá trị của cá nhân là điều kiện chủ yếu. - Làm cách nào ngăn chặn chiến tranh và nuôi dưỡng hòa bình 10. Các nhà tâm lý đã đề ra một số biện pháp đối phó với thủ đoạn bắt giữ con tin. Các biện pháp ấy bao gồm dùng vũ lực để giải thoát con tin, nỗ lực cứu tính mệnh con tin bằng mọi giá (kể cả việc đáp ứng yêu sách của bọn khủng bố), khước từ thương lượng với bọn khủng bố trong mọi tình huống và chọn một biện pháp trung dung trong đó các cuộc thương lượng diễn ra trong bối cảnh hoàn toàn không có sự chứng kiến của giới báo chí. 11. Một lý thuyết cho rằng ngộ nhận về kẻ thù của con người tác động phá vỡ nền hòa bình. Các nhận định sai lạc ấy bao gồm hình dung kẻ thù độc ác ghê tởm, bản thân anh hùng, cả tin vào một quân đội quá tự hào, thiếu cảm thông với kẻ thù, cố tình làm ngơ trước sự kiện thực tế, và tự cho mình hành động hợp luân lý. 12. Niềm tin cho rằng cuộc chiến tranh nguyên tử sẽ nổ ra chưa hề giảm đi trong suốt hơn 40 năm qua. Hầu hết mọi người đều cho rằng cuộc chiến tranh ấy có thể xảy ra theo xác suất từ 1/3 đến 1/2. Tuy không có hy vọng sống sốt, nhưng hầu hết mọi người đều không chịu hành động cụ thể nhằm kết thúc mối đe dọa ấy. 13. Một số chủ đề tâm lý có liên quan đến nỗ lực giảm bớt đe dọa nổ ra cuộc chiến tranh nguyên tử. Quan điểm hạn chế vũ khí hạt nhân (nudear freeze), theo đó các quốc gia cam kết không chế tạo thêm vũ khí hạt nhân đi ngược lại quan điểm ngăn chặn (deterrence), cho rằng đe dọa trả đũa chống lại đòn tấn công của kẻ thù là biện pháp ngăn ngừa chiến tranh hiệu nghiệm nhất xưa nay. Tuy vậy, các cuộc nghiên cứu cho rằng chiến lược ngăn chặn ấy tương đối kém hiệu quả. 14. Các nhà tâm lý đã đóng góp vào nỗ lực ngăn ngừa chiến tranh và cổ vũ hòa bình qua việc tìm hiểu các chủ đề như thái độ đối với các nước khác, các quyết định liên quan đến quốc phòng, cách cư xử trong các thời kỳ khủng hoảng, tránh để ngẫu nhiên nổ ra chiến tranh, kỹ năng đàm phán, và lợi dụng giáo dục để cổ vũ cho nền hòa bình thế giới. Created by AM Word2CHM TÂM LÝ HỌC CĂN BẢN à Chương 15. SỐNG VỚI THA NHÂN TRONG MỘT THẾ GIỚI MUÔN MÀU V. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI ÔN TẬP I- 1/ Stress 2/ a-2; b-1; c-3 3/ Rối loạn stress hậu chấn thương 4/ a 5/ Khích lệ tinh thần 6/ Biện pháp khắc phục 7/ a 8/ Sắt đá 9/ Sai; chúng đã tỏ ra rất hữu ích trong nhiều tình huống. II- 1/ Đúng 2/ b 3/ tự an ủi 4/ Vai trò giới tính 5/ Sai; chúng vẫn còn khá thịnh hành 6/ c 7/ lưỡng tính 8/ Lược đồ giới tính III- 1/ Chủ nghĩa tập thể; cá nhân chủ nghĩa 2/ Đúng 3/ d 4/ các ngộ nhận này bao gồm hình dung kẻ thù xấu xa và độc ác; hình dung bản thân oai hùng; quân đội quá tự hào; thiếu cảm thông kẻ thù; cố tình làm ngơ trước sự thật; hình dung bản thân hành động hợp luân lý. 5/ Ngăn ngừa. Created by AM Word2CHM Chương 1: Tìm hiểu tâm lý học Chương 2: Nền tảng sinh học của hành vi Chương 3: Cảm giác và nhận thức Chương 4: Các trạng thái ý thức Chương 5: Tiến trình học hỏi Chương 6: Ký ức Chương 7: Tư duy và ngôn ngữ Chương 8: Trí thông minh Chương 9: Động lực và xúc cảm Chương 10: Tiến trình phát triển của con người Chương 11: Cá tính và nhân cách Chương 12: Hành vi ứng xử bất bình thường Chương 13: Chữa trị hành vi ứng xử bất bình thường Chương 14: Tâm lý xã hội Chương 15: Sống với tha nhân trong một thế giới muôn màu ---//--- TÂM LÝ HỌC CĂN BẢN MỤC LỤC Tác giả: ROBERTS FELDMAN Biên dịch: MINH ĐỨC – HỒ KIM CHUNG Biên dịch theo bản in của NXB Piat Kus Chịu trách nhiệm xuất bản: BÙI VIỆT BẮC Chịu trách nhiệm bản thảo: PHẠM NGỌC LUẬT Biên tập: THANH AN Thiết kế bìa: NGỌC MINH Design Kỹ thuật vi tính: TẤN NGHĨA Sửa bản in: THANH AN NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA - THÔNG TIN Hà Nội: 43 Lò Đúc - ĐT: (04) 38 264 725 Chi nhánh TP. HCM: 07 Nguyễn Thị Minh Khai - ĐT: (08) 38.222521 TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ HOÁ CHẤT Nhà sách NGHIÊM BÍCH HOAN 212/7 Lê Lai, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Tel/Fax: 39 253 017 In 800 bản khổ 19 x 27cm tại Công ty in Bao bì XNK tổng hợp, số 1Bis Hoàng Diệu, Q.4, TP.HCM. Giấy phép đăng ký KHXB số 995/XB-QLXI/12-VHTT. In xong và nộp lưu chiểu Quý 4 năm 2004. Created by AM Word2CHM

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftam_ly_hoc_can_ban_9671.pdf
Tài liệu liên quan