Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to nhằm cải tạo tầm vóc và khả năng sinh trưởng của đàn trâu địa phương tại xã Ngọc Sơn - Thanh Chương - Nghệ An

Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to làm giống đã nâng cao được tầm vóc của đàn trâu địa phương lớn hơn so với đàn trâu đại trà không được chọn lọc: nghé sơ sinh đực ở lô TN1 là 25,3 kg con đực, 24,7 con cái; đực 12 tháng tuổi là 155,4 kg, cái 152,1 kg, so với lô ĐC chỉ đạt: sơ sinh đực 21,1 kg và cái là 20,4 kg; lúc 12 tháng đực 140,3 kg và cái là 137,2 kg. Tượng tự như vậy ở mốc 36 tháng tuổi lô TN1 đực là 319,1 kg, cái 312,4 kg so với lô đối chứng là 291,1 kg đực và 287,8 kg cái. Như vậy có thể thấy khối lượng nghé các mốc tuổi của lô trâu đực giống ngoại hình to với trâu cái được chon lọc lớn hơn hẳn so với lô trâu đực đại trà với trâu cái đại trà (9 – 20%), Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

pdf8 trang | Chia sẻ: truongthinh92 | Ngày: 02/08/2016 | Lượt xem: 641 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to nhằm cải tạo tầm vóc và khả năng sinh trưởng của đàn trâu địa phương tại xã Ngọc Sơn - Thanh Chương - Nghệ An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MAI VĂN SÁNH – Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to 1 SỬ DỤNG TRÂU ĐỰC GIỐNG NGOẠI HÌNH TO NHẰM CẢI TẠO TẦM VÓC VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN TRÂU ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ NGỌC SƠN - THANH CHƯƠNG - NGHỆ AN Mai Văn Sánh 1*, Nguyễn Công Định2 và Trịnh Văn Trung2 1Phòng Đào Tạo Và Thông tin - Viện Chăn nuôi 2Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi *Tác giả liên hệ: Mai Văn Sánh Tel: (04) 38.386.125/ 0912.585.495; Fax: (04).38 389.775; Email: mvsanh@netnam.vn ABSTRACT Use of big size bulls to improve the body size and growth rate of local buffalo in Ngoc Son - Thanh Chuong - Nghe An Eight Swamp buffalo bulls (4 big size and 4 local bulls) and 240 buffalo cows (120 selected and 120 non- selected) were used to evaluate the effects of bull size and selected buffalo cows on body weight and growth of calves. Experimental animals were allocated into 4 groups: 1- big size bulls and selected cows; 2 - big size bulls and non-selected cows; 3 – local bulls and selected cows and 4 – local bulls and non-selected cows (control group). Each bull was used to breed with 15 selected cows and 15 non-selected cows. Body weight of calves at 3, 6, 12, 24 and 36 months of age was highest in calves of group 1, following group 2 and group 3 and the lowest was found in control group. Body weight of calves in big size bull groups was higher than that of calves in local bull groups at all ages. Calves weight of big size bulls and selected cows group was 9 - 20% higher than calves in local bulls and non-selected cows group at all ages. The figures of body sizes were similar to that of body weight. It is concluded that use of big size bulls and selected buffalo cows are the good solution for improving body size and growth of calves. Key words: Big size bull, selected buffalo cows, birth weight, growth, body size. ĐẶT VẤN ĐỀ Nuôi trâu là một nghề truyền thống của nhân dân ta. Điều kiện sinh thái của nước nhiệt đới nóng ẩm và nghề trồng lúa nước là cơ sở để hình thành và phát triển quần thể trâu nước ta. Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn cung cấp sức kéo (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt đồng thời đóng góp một phần không nhỏ thịt cho nhu cầu con người, ngoài ra nó còn một số sản phẩm phụ như da, sừng, lông cho chế biến đồ dùng gia dụng và hàng mỹ nghệ. Trâu nội thích ứng và phát triển tốt trong điều kiện sinh thái nước ta, nhưng chúng có nhược điểm là tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách lứa đẻ dài, khả năng cho thịt thấp. Những năm qua, do công tác giống trâu của ta chưa tốt dẫn đến đàn trâu đang có hiện tượng đồng huyết và bị chọn lọc ngược do trâu to bị bán đi giết thịt, trâu nhỏ được giữ lại cho cày kéo đồng thời làm giống luôn và đàn trâu cái thì không được chọn lọc. Nhiều nơi tầm vóc đàn trâu đã có chiều hướng giảm sút. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy tầm vóc trâu Việt Nam có thể được chia làm 3 loại hình là trâu tầm vóc to (trâu Ngố) có khối lượng 450-500kg (đực), 400-450kg (cái); trâu tầm vóc trung bình có khối lượng 400-450kg (đực), 350-400kg (cái) và trâu tầm vóc nhỏ (trâu Gié) khối lượng 350-400kg (đực), 300-350kg (cái). Cũng qua các nghiên cứu về trâu loại hình to, Nguyễn Đức Thạc (1983) đề xuất sử dụng trâu đực ngoại hình to làm giống sẽ góp phần cải tạo tầm vóc và khả năng sản xuất của trâu ngoại hình nhỏ các địa phương. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to nâng cao tầm vóc và khả năng sinh trưởng của đàn trâu địa phương tại xã Ngọc Sơn – Thanh Chương - Nghệ An”. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008 2 VÂT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nội dung nghiên cứu Điều tra, đánh giá chất lượng đàn trâu tại điểm nghiên cứu, tuyển chọn trâu đực giống ngoại hình to làm giống. Theo dõi khối lượng và khả năng sinh trưởng đàn nghé sinh ra qua các mốc tuổi. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra Điều tra chất lượng và tuyển chọn đàn trâu địa phương: cân khối lượng trâu bằng cân điện tử, đo một số chiều đo chính của trâu (VN, DTC, CV) bằng thước dây, thước gậy. Phỏng vấn nông dân về tình hình sinh sản, nuôi dưỡng đàn trâu bằng các bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước. Phương pháp thí nghiệm Chọn lọc đàn trâu cái: chọn những trâu cái sinh sản có khối lượng trưởng thành trên trung bình của đàn, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách hai lứa đẻ từ trung bình trở lên.Tuyển trâu đực ngố từ Tuyên Quang có đủ tiêu chuẩn của trâu đực giống (5-6 tuổi, đẹp về ngoại hình, đã có nghé sinh ra), khối lượng cơ thể bình quân 528 kg. Đàn trâu đực địa phương cũng chọn những con tốt nhất trong đàn theo tiêu chuẩn trên và có khối lượng trung bình là 400 kg để đưa vào thí nghiệm. Thí nghiệm được tiến hành với hai yếu tố ảnh hưởng là trâu đực và trâu cái ở hai mức độ khác nhau là chọn và không chọn, các lô TN được bố trí như sau: Lô TN 1: trâu đực Ngố với trâu cái đã chọn Lô TN 2: trâu đực Ngố với trâu cái đại trà Lô TN 3: trâu đực đại trà với trâu cái đã chọn Lô đối chứng: trâu đực đại trà với trâu cái đại trà Tổng số trâu thí nghiệm là 8 trâu đực giống (trong đó có 4 trâu đực ngố ngoại hình to và 4 trâu đực đại trà), và 240 trâu cái sinh sản. Mỗi trâu đực sẽ cho phối với 15 trâu cái chọn lọc và 15 trâu cái đại trà. Trâu đực giống và trâu cái được đánh số, có sổ theo dõi từng nhóm, từng lô. Khi trâu cái động dục được phối giống và giữ tại nhà đến khi hết động dục. Trâu thí nghiệm được nuôi dưỡng theo điều kiện của dân là chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng vào ban đêm. Trâu nghé thí nghiệm đều được tiêm phòng định kỳ, nghé sinh ra được tẩy giun theo quy trình của thú y. Nghé được theo mẹ tự bú đến khi tự cai sữa. Theo dõi khả năng sinh trưởng phát triển của đàn nghé sinh ra sau chọn lọc: cân khối lượng và đo kích thước cơ thể ở các mốc tuổi sơ sinh, 3, 6, 12, 24 và 36 tháng tuổi bằng cân điện tử và thước dây, thước gậy. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được xử lý thống kê sinh vật học bằng chương trình Excel và Minitab. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Điều tra đánh giá chất lượng đàn trâu Hiện trạng đàn trâu trước thí nghiệm Kết quả điều tra đàn trâu tại xã Ngọc Sơn huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An như sau: Từ 402 trâu cái và 59 con trâu đực ở các lứa tuổi nuôi trong 350 hộ được điều tra cho thấy tỷ lệ đẻ thấp, tuổi đẻ lứa đầu cao trung bình trên 4,5 tuổi (cao nhất là 72 tháng, thấp nhất là 36 tháng). Đàn trâu ở đây có khối lượng trung bình được thể hiện qua Bảng 1 MAI VĂN SÁNH – Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to 3 Có thể thấy rằng khối lượng trâu địa phương là loại trâu có khối lượng cơ thể thấp, thuộc loại hình nhỏ (thường gọi là trâu Gié). Mặc dù đàn trâu ở đây vẫn tăng đều qua các năm nhưng trâu cái không được chọn lọc, trâu đực giữ lại từ trong đàn sinh ra qua nhiều đời, trâu đực giống vừa có tầm vóc bé vừa không có sự hoán đổi vì vậy có thể xảy ra hiện tượng đồng huyết trong đàn: trâu đực lúc 12 tháng đạt 135,5 kg trâu cái 130,5 kg; lúc 24 tháng có khối lượng ở trâu đực 218 kg, con cái 204 kg; trâu đực trưởng thành chỉ đạt 353 kg còn trâu cái đạt 327 kg. Bảng 1. Khối lượng đàn trâu trước thí nghiệm Trâu đực Trâu cáiTuổi (tháng) n (Mean SD) n (MeanSD) 6 15 80,14 ± 12,25 26 78,35 ± 19,27 12 9 135,50 ± 9,78 59 130,50 ± 11,15 24 6 218,43 ± 11,36 48 204,22 ± 23,33 36 6 298,12 ± 13,46 64 271,09 ± 10,29 48 15 330,50 ± 25,51 52 305,14 ± 14,25 60 trở lên 8 353,27 ± 35,87 153 327,89 ± 25,43 Theo Vũ Duy Giảng và cs, (1999) cho biết trâu Sóc Sơn có khối lượng lúc 12 tháng tuổi ở con đực là 147 kg và con cái là 140 kg; khi ở 24 tháng tương tự là 234 kg và 183 kg, còn trâu ở Hàm Yên lúc trưởng thành ở con đực và con cái là 397 kg ; 378 kg. Như vậy đàn trâu của Ngọc Sơn có tầm vóc nhỏ hơn. Qua điều tra ta thấy khối lượng cơ thể trâu cái chọn lọc bình quân là 366,5 kg và đàn đại trà bình quân là 329,4 kg. Đã đưa 4 trâu đực giống có khối lượng cơ thể trung bình 580 kg (nhỏ nhất 552 kg, lớn nhất 628 kg) từ Chiêm Hoá, Tuyên Quang chuyển về điểm nghiên cứu. Qui mô và tập quán chăn nuôi trâu ở Ngọc Sơn Qui mô chăn nuôi trâu: qua điều tra chúng tôi thấy 100% số trâu được nuôi trong các hộ gia đình nông dân sản xuất nhỏ. Trâu ở đây được nuôi chủ yếu theo phương thức chăn thả tận dụng, công việc chăm sóc hầu như chưa được quan tâm. chính vì lẽ đó mà chăn nuôi trâu ở đây chưa mang lại hiệu quả cho người dân, mặc dù đây là vùng có nhiều bãi chăn thả. Theo số liệu điều tra trong 350 hộ nông dân của xã Ngọc Sơn chúng tôi thấy chăn nuôi trâu chủ yếu là lấy sức kéo và kết hợp với sinh sản nên có đến 283 hộ nuôi 1 trâu chiếm 80,85% và số hộ nuôi 2 trâu chiếm 19,15%. Tập quán chăn nuôi trâu ở đây do điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh thái nên phương thức chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn nuôi quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, chưa biết sử dụng, chế biến phế phụ phẩm làm thức ăn có giá trị. Khối lượng và khả năng sinh trưởng của đàn nghé qua các mốc tuổi Khối lượng (kg) của đàn nghé thí nghiệm Khối lượng cơ thể là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng và phát dục, đồng thời nó cũng biểu hiện khả năng sản xuất của chúng. Qua khối lượng cơ thể sẽ phản ánh được tốc độ sinh trưởng của gia súc ở từng giai đoạn khác nhau. Qua kết quả ở Bảng 2 trên ta thấy, khối lượng của nghé đực sơ sinh ở lô 1 là 25,3 kg, ở lô 2 là 24,8 kg và ở lô 3 là 22,7 kg còn ở lô đối chứng là 21,1 kg, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tương tự như vậy khối lượng nghé ở các mốc tuổi đều có xu hướng tăng dần: thấp nhất là lô đối chứng, tiếp đó đến lô thí nghiệm 3, lô thí nghiệm 2 và cao nhất là nghé ở lô thí nghiệm 1 (trâu đực giống ngoại hình to ghép phối với trâu cái được tuyển trọn). So với khối lượng đàn trâu điều tra trước khi thí nghiệm thì khối lượng nghé của các lô thí nghiệm và đối chứng đều cao hơn. Đó là do bà con nông dân đã có ý thức hơn trong việc lựa trọn và cho trâu VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008 4 cái phối với trâu đực giống tốt, ngoại hình to. Bên cạnh đó các hộ chăn nuôi trâu đều được tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi trâu nên đã áp dụng kỹ thuật chăn nuôi trâu và các phương pháp chế biến dự trữ thức ăn mùa đông. Vì vậy, đã làm giảm đáng kể các ảnh hưởng của ngoại cảnh và khối lượng đàn nghé được cải thiện rõ rệt. Bảng 2: Khối lượng nghé từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi Tuổi và tính biệt nghé Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô ĐC n (MeanSD) n (MeanSD) n (MeanSD) n (MeanSD) Sơ sinh + đực 40 25,3a  3,1 34 24,8a  1,8 24 22,7b  1,6 20 21,1b  2,3 + cái 50 24,7a  1,9 53 23,9a  1,6 21 21,6b  2,1 22 20,4b  1,8 3 tháng + đực 40 61,1a  3,3 34 59,1a  4,9 24 53,3b  2,1 20 52,6b  3,2 + cái 50 58,9a  3,8 53 57,6a  5,4 21 51,6b  3,2 22 49,1b  4,0 6 tháng + đực 40 89,2a  4,7 34 87,1a  5,7 24 82,2b  4,0 20 79,8b  3,3 + cái 50 87,7a  5,9 53 85,3a  5,3 21 80,7b  3,9 20 78,4b  3,6 12tháng + đực 36 155,4a  9,8 31 150,5ab  9,8 24 144,5bc  9,4 20 140,3c 7,8 + cái 46 152,1a  9,5 51 149,5ab10,1 21 142,3bc  8,1 20 137,2c  8,7 24tháng + đực 32 257,1a  9,5 24 250,6a 11,2 24 240,7b  9,8 19 234,4b  9,3 + cái 41 252,7a  7,1 40 247,5ab 10,2 20 236,6bc9,1 20 229,6c 8,1 36tháng + đực 20 319,1a 12,4 14 312,4a 10,8 14 299,6 b 13,4 11 291,1b 13,7 + cái 26 312,4a  11,2 22 307,5ab 13,4 17 295,7 bc14,7 16 287,8c 12,2 Mai Văn Sánh và cs, (1995). điều tra trâu ở Bình Sơn, Thái Nguyên cho thấy khối lượng trâu vùng này thấp, trâu đực trưởng thành 326 kg, trâu cái trưởng thành 312 kg. Vũ Duy Giảng và cs, (1999) điều tra đánh giá tình hình phát triển đàn trâu miền Bắc thấy rằng khối lượng đàn trâu của nhiều địa phương ở 2 năm tuổi trâu đực chỉ đạt 234 kg, trâu cái 183 kg. Số liệu khảo sát của Hà Phúc Mịch, (1985) là khối lượng nghé sơ sinh là 21 kg, lúc 6 tháng là 79,5 kg và 12 tháng là 132 kg chỉ tương đương với khối lượng nghé ở lô đại trà và thấp hơn các lô thí nghiệm. Mai Văn Sánh, (2005) cho biết, sử dụng trâu đực giống ngoại hình to làm giống cho phối với trâu cái địa phương ở xã Vân Hoà, Ba Vì, Hà Tây đã cho kết quả nghé sơ sinh đực đạt 24,2 kg và nghé cái đạt 23,3 kg; 24 tháng tuổi nghé đực đạt 254,8 kg, nghé cái đạt 248,4 kg. Nếu so với các số liệu trên thì khối lượng nghé thí nghiệm ở Ngọc Sơn có phần cao hơn. Tốc độ sinh trưởng và khối lượng tích luỹ là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng giống và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Nhìn vào kết quả Bảng 3 ta thấy, khả năng tăng khối lượng của nghé giảm dần theo tuổi, ở giai đoạn sơ sinh đến 12 tháng tuổi là cao nhất (tăng trọng tuyệt đối ở lô TN1 là 361,3 g/ngày, lô TN2 349,1, lô TN3 338,7 so với lô ĐC là 330,9 g/ngày) MAI VĂN SÁNH – Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to 5 Bảng 3: Tăng trọng của nghé qua các mốc tuổi (g/con/ngày) Tăng trọng của nghé (g/con/ngày)Tháng tuổi Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô ĐC Đực 361,3 349,1 338,7 330,9SS – 12 Cái 354,1 348,8 335,4 324,6 Đực 282,3 278,0 267,1 261,212 – 24 Cái 279,4 272,2 261,9 256,5 Đực 321,8 313,5 302,9 296,1SS – 24 Cái 316,7 310,5 298,6 290,5 Đực 172,4 171,8 167,5 157,624 – 36 Cái 167,6 166,5 164,6 161,9 Đực 272,0 266,3 256,3 249,9SS – 36 Cái 266,4 262,5 258,2 247,7 Kích thước một số chiều đo cơ thể của nghé thí nghiệm Bảng 4: Kích thước một số chiều đo của nghé thí nghiệm Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô ĐCTính biệt và tuổi nghé (tháng) n (MeanSD) n. (MeanSD) N (MeanSD) n (MeanSD Cao vây Đực 40 63,8  2,1 34 63,5  2,9 24 60,9  1,6 20 58,2  2,3Sơ sinh Cái 50 63,3  1,8 53 62,9  3,3 21 59,2  2,1 22 57,9  1,9 Đực 36 97,5  3,0 31 96,8  2,1 24 95,8  2,2 20 95,5  1,112 tháng Cái 46 96,9  2,9 51 96,6  2,6 21 94,6  2,1 20 93,9 2,4 Đực 32 111,5  3,3 24 109,9  3,4 24 109,2  3,9 19 108,3  2,324 tháng Cái 41 111,1  2,9 40 109,3  2,3 20 108,1  2,9 20 107,6  3,0 Đực 20 119,3  2,7 14 119,1  2,9 14 118,9  2,3 11 116,1  2,336 tháng Cái 26 118,5  3,0 22 117,3  3,1 17 116,9  3,7 16 115,3 3,1 Vòng ngực Đực 40 68,9  4,4 34 67,0  3,5 24 67,6  5,3 20 65,2  5,8Sơ sinh Cái 50 68,6  3,2 53 66,6  4,8 21 65,3  3,7 22 64,6  3,2 Đực 36 130,8  4,7 31 129,9  4,5 24 127,9  5,0 20 125,3  4,312 tháng Cái 46 128,5  5,1 51 127,8  5,9 21 125,0  5,1 20 123,1  4,6 Đực 32 158,2  3,2 24 156,9  5,3 24 152,9  4,1 19 151,5  6,424 tháng Cái 41 157,5  4,0 40 156,0  4,7 20 151,5  4,8 20 150,7  4,2 Đực 20 172,4  3,5 14 171,6  4,4 14 169,4  4,8 11 169,2  3,136 tháng Cái 26 170,9  3,0 22 170,8  5,4 17 168,3  5,3 16 167,6  4,1 Dài thân chéo Đực 40 55,1  3,3 34 54,5  3,1 24 54,2  3,1 20 53,9  4,2Sơ sinh Cái 50 54,2  2,8 53 53,8  2,6 21 52,8  3,2 22 52,7  3,1 Đực 36 97,3  3,3 31 96,1  3,0 24 94,0  3,1 20 93,8  1,712 tháng Cái 46 96,7  2,4 51 95,5  3,8 21 93,6  4,0 20 92,9  2,0 Đực 32 123,6  2,7 24 123,1  3,2 24 122,5  3,5 19 121,7  4,224 tháng Cái 41 123,1  3,1 40 122,5  3,5 20 120,3  3,4 20 120,0  3,2 36 Đực 20 132,2  3,9 14 131,8  4,2 14 130,6  3,4 11 129,9  5,5 VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008 6 Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô ĐCTính biệt và tuổi nghé (tháng) n (MeanSD) n. (MeanSD) N (MeanSD) n (MeanSD tháng Cái 26 131,6  4,1 22 130,1  4,5 17 129,4  3,8 16 126,8  4,8 Cùng với khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo cũng góp phần thể hiện tầm vóc của gia súc. Kích thước các chiều đo có liên quan chặt chẽ đến hướng sản xuất của gia súc, sự biến thiên các chiều đo là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của gia súc. Tầm vóc của gia súc được thể hiện qua khối lượng cơ thể và kích thước các chiều đo. Khối lượng cơ thể luôn luôn có tương quan thuận với kích thước các chiều đo cơ thể. Khi kích thước cơ thể tăng thì khối lượng tăng. Trong trường hợp thể trạng bình thường thì khối lượng gia súc thể hiện tầm vóc. Tuy nhiên, ở từng giai đoạn sinh trưởng của gia súc non kích thước các chiều đo cơ thể tăng nhưng khối lượng tăng không theo tỷ lệ của kích thước, đó là giai đoạn phát triển xương, còn khi gia súc già thì có xu hướng ngược lại, khối lượng có thể tăng nhưng kích thước không tăng theo tỷ lệ do chủ yếu là tích luỹ mỡ. Cũng có kết quả tương tự như khối lượng cuả nghé, các chiều đo cao vây, vòng ngực và dài thân chéo của nghé sơ sinh, 12, 24 và 36 tháng tuổi cũng cao nhất ở lô trâu đực Ngố ngoại hình to phối với trâu cái được chọn lọc, tiếp theo là nghé của lô trâu đực ngoại hình to phối với trâu cái đại trà, rồi đến nghé của lô trâu đực đại trà phối với trâu cái chọn lọc và cuối cùng thấp nhất là nghé của lô trâu đực đại trà phối với trâu cái đại trà. Trong thí nghiệm này, kích thước các chiều đo cơ thể nghé ở tất cả các lô được theo dõi từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi, kết hợp với khối lượng cơ thể thấy rằng nghé phát triển theo quy luật sinh trưởng gia súc nói chung, đó là quy luật phát triển không đồng đều giữa các giai đoạn, nghé phát triển mạnh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó giảm dần, tương tự như những kết quả thu được của Nguyễn Đức Thạc (1983), Lê Đăng Đảnh và cs (1995) trên trâu nội, của Mai Văn Sánh (1996) trên trâu Murrah và trâu lai F1. Qua kích thước 3 chiều đo chính là: Cao vây, vòng ngực, dài thân chéo ta thấy khi sơ sinh vòng ngực là vòng lớn nhất, đến lúc 36 tháng tuổi trật tự này cũng vẫn không thay đổi. Nhưng tốc độ phát triển của các chiều đo là khác nhau. Cùng với sự tăng lên về thể vóc và khối lượng qua các lứa tuổi ta thấy chiều cao vây của trâu đực luôn cao hơn trâu cái cùng tuổi. Chiều dài thân chéo nói lên sự phát triển của hệ xương trục (xương sống), cùng với sự phát triển của cao vây chiều dài thân chéo nó liên quan chặt chẽ đến sự tăng trọng của trâu. Vòng ngực là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển chu vi của trâu và nó có tương quan chặt chẽ đến khối lượng của trâu. qua bảng trên ta thấy những trật tự trên cũng không thay đổi, chứng tỏ trâu ở vùng Ngọc Sơn phát triển cơ thể hoàn toàn theo qui luật sinh trưởng của trâu. Khối lượng nghé của các lô thí nghiệm so với nghé lô đối chứng (%) Bảng 5: Khối lượng nghé của các lô thí nghiệm so với nghé lô đối chứng (%) Tuổi nghé Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô đối chứng Nghé đực Sơ sinh 119,4 117,3 107,1 100 3 tháng 116,1 112,4 105,6 100 6 tháng 113,0 110,3 104,1 100 12 tháng 110,7 107,4 103,1 100 24 tháng 109,7 106,9 102,7 100 36 tháng 109,5 105,3 102,0 100 Nghé cái Sơ sinh 121,1 117,5 105,8 100 3 tháng 119,9 117,3 105,5 100 MAI VĂN SÁNH – Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to 7 Tuổi nghé Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô đối chứng Nghé đực 6 tháng 112,8 109,8 103,8 100 12 tháng 110,8 108,9 103,7 100 24 tháng 110,1 107,8 103,5 100 36 tháng 108,5 106,8 102,5 100 Kết quả thí nghiệm này chứng tỏ nghé của trâu đực Ngố với trâu cái được chọn là tốt nhất, tiếp theo là nghé của trâu đực Ngố với trâu cái đại trà, rồi đến nghé của trâu đực đại trà với trâu cái chọn lọc và thấp nhất là nghé của trâu đực đại trà với trâu cái đại trà. Như vậy, ảnh hưởng của trâu đực đến khối lượng con sinh ra lớn hơn so với ảnh hưởng của mẹ. Nói cách khác sử dụng trâu đực Ngố làm giống đã cải thiện đáng kể khối lượng sơ sinh và sinh trưởng của nghé. So với nghé đại trà (lô ĐC) thì khối lượng sơ sinh, 3, 6, 12, 24 và 36 tháng tuổi của nghé lô TN cao hơn hẳn. Cao nhất ở lô TN1 tiếp đó đến lô TN2 và cuối cùng là lô TN3 nghĩa là khối lượng nghé hai lô có bố là đực Ngố cao hơn đại trà nhiều hơn so với nghé lô có mẹ được chọn, qua đó ta có thể thấy được ảnh hưởng của trâu đực bố đến khối lượng con lớn hơn ảnh hưởng của trâu cái mẹ. Sự khác biệt giữa các lô thí nghiệm so với đối chứng có xu hướng giảm dần khi tuổi nghé tăng lên là do ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh tăng dần đã làm giảm ảnh hưởng của yếu tố di truyền, tuy vậy sự khác biệt đó vẫn rất rõ rệt. Tương quan về khối lượng nghé giữa các giai đoạn so với khối lượng nghé sơ sinh Khối lượng sơ sinh của trâu cũng tương quan thuận với khối lượng cơ thể chúng ở những lứa tuổi kế tiếp. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt và ổn định, người ta có thể dựa vào khối lượng sơ sinh của nghé để đánh giá và dự đoán khả năng sinh trưởng giai đoạn sau, và nó cũng là chỉ tiêu quan trọng trong chọn giống. Tương tự như vậy khối lượng ở các mốc tuổi khác cũng có tương quan thuận và chặt chẽ với nhau P<0,01. Hệ số tương quan giảm dần theo tuổi của nghé chứng tỏ nghé càng lớn ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh càng tăng và đã làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố di truyền. Như trên đã nêu, nghé thí nghiệm nuôi trong điều kiện của dân, không kiểm soát hết được điều kiện nuôi dưỡng, nhiều trường hợp không đáp ứng được nhu cầu của nghé nên chúng sinh trưởng không đúng như tiềm năng sinh học. Vì vậy để phát huy hết tiềm năng di truyền cần phải nuôi đủ nhu cầu dinh dưỡng của nghé. Bảng 6: Các phương trình hồi quy và hệ số tương quan giữa khối lượng nghé sơ sinh với khối lượng nghé các giai đoạn sau Tuổinghé(tháng) Phương trình Hệ số tương quan Độ tin cậy So với khối lượng nghé sơ sinh 3 Y = 19,2 + 1,58 PSS r = 0,65 P<0,01 6 Y = 54,2 + 1,30 PSS r = 0,51 P<0,01 12 Y = 108 + 1,74 PSS r = 0,42 P<0,01 24 Y = 205 + 1,84 PSS r = 0,38 P<0,01 36 Y = 270 + 1,63 PSS r = 0,28 P<0,01 * Y là khối lượng nghé các tháng tuổi giai đoạn sau so với nghé sơ sinh. VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 15-Tháng 12-2008 8 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Kết luận Sử dụng trâu đực giống ngoại hình to làm giống đã nâng cao được tầm vóc của đàn trâu địa phương lớn hơn so với đàn trâu đại trà không được chọn lọc: nghé sơ sinh đực ở lô TN1 là 25,3 kg con đực, 24,7 con cái; đực 12 tháng tuổi là 155,4 kg, cái 152,1 kg, so với lô ĐC chỉ đạt: sơ sinh đực 21,1 kg và cái là 20,4 kg; lúc 12 tháng đực 140,3 kg và cái là 137,2 kg. Tượng tự như vậy ở mốc 36 tháng tuổi lô TN1 đực là 319,1 kg, cái 312,4 kg so với lô đối chứng là 291,1 kg đực và 287,8 kg cái. Như vậy có thể thấy khối lượng nghé các mốc tuổi của lô trâu đực giống ngoại hình to với trâu cái được chon lọc lớn hơn hẳn so với lô trâu đực đại trà với trâu cái đại trà (9 – 20%), Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kích thước các chỉều đo cơ thể nghé sơ sinh, 3, 6, 12, 24 và 36 tháng cũng tuân theo quy luật tương tự như khối lượng nghé. Tượng quan giữa khối lượng nghé giữa các giai đoạn sau so với khối lượng nghé sơ sinh là thuận và chặt chẽ (r = 0,28 – 0,65) từ đó có thể căn cứ vào khối lượng nghé sơ sinh để dự đoán khối lượng nghé ở các mốc tuổi tiếp theo. Hiện nay việc sử dụng trâu đực giống ngoại hình to làm giống được coi là biện pháp tốt để nâng cao tầm vóc trâu, nếu kết hợp với chọn lọc thường xuyên đàn trâu cái và có phương thức chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì hiệu quả từ chăn nuôi trâu sẽ cao hơn. Đề nghị Tiếp tục nghiên cứu và phổ biến rộng rãi trong sản xuất nhằm cải tạo và nâng cao tầm vóc đàn trâu nội. TÀI LIỆU THAM KHẢO Hà Phúc Mịch, (1985). Một số nhận xét bước đầu về khả năng sinh trưởng của trâu lai F1 Murrah x Việt nam. Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, 1985, trang 424-426 Le Đang Đanh, Chau Chau Hoang, Nguyen Kim Cuong, Pham Trong Nghia, Tran Van Chinh, Nguyen Van Phat and John Perkins, (1995). Management and performance of village cattle and buffalo – a case study from Phuoc Thanh village. Exploring Approaches to Research in the Animal Sciences in Vietnam. A Workshop held in Hue, 31 Jul.-3 Aug., 1995, pp 90-93. Mai Van Sanh, Nguyen Duc Thac, Dao Lan Nhi and R. J. Petheram, (1995). Buffalo rearing in a mountainous village of Vietnam. Exploring Approaches to Research in the Animal Sciences in Vietnam. A Workshop held in Hue, 31 Jul.-3 Aug., 1995, pp161-166. Mai Văn Sánh, (1996). Khả năng sinh trưởng, sinh sản, cho sữa thịt của trâu Murrah nuôi ở Sông Bé và kết quả lai tạo với trâu nội. Luận án PTS nông nghiệp. Mai Văn Sánh, (2005). Ảnh hưởng của chọn lọc đàn trâu cái và sử dụng trâu đực có khối lượng lớn làm giống đến khối lượng sơ sinh và sinh trưởng của nghé. TC Chăn nuôi số 11, tr 8-9. Nguyễn Đức Thạc, (1983). Một số đặc điểm về sinh trưởng, cho thịt sữa của loại hình trâu to miền Bắc và khả năng cải tạo nó với trâu Murrah. Luận án PTS khoa học NN. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Xuân Trạch (1999). Báo cáo kết quả thực hiện đề tài: Điều tra đánh giá và định hướng phát triển đàn trâu miền Bắc Việt nam. * Người phản biện : TS. Nguyễn Văn Đức ; TS. Vũ Văn Nội

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfb3_sanh_su_dung_trau_duc_to_9168.pdf
Tài liệu liên quan