Sử dụng curves trong photoshop

1.Cách chỉnh các thông số Color Setting Tham khảo chi tiết tại:http://goo.gl/2k1gl Để xác lập lại Profile ảnh cho chuẩn, bạn cần chỉnh lại phần Color Settings như sau:  Mở một file ảnh | Vào menu Edit | Color Settings (Ctrl+Shift+K).  Trong HT Color Settings, bạn chọn và đánh dấu như sau: Trong mục Working Spaces, hàng RGB chọn Adobe RGB (1998) - Mục Color Management Policies, hàng RGB chọn Off – Đánh dấu chọn hàng Ask When Opening để nó không tự động bật lên. Nhấp OK. 2.Xác lập các thông số chuẩn cho Curves  Bạn vào Menu Images | Adjustments | Curves (Ctrl+M). Hiện ra HT Curves gồm có 3 công cụ chính là : Sample in image to set black point - Sample in image to set gray point - Sample in image to set 2 white point. Thông thường các bạn thường hay để mặc định như vậy và sử dụng. Bạn cẩn xác lập lại các thông số chuẩn cho Curves trước khi cân chỉnh màu, có như thế mới đạt hiệu quả cao.  Black Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 20% - G 20% và B 20%.  Gray Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 128% - G 128% và B 128%.  White Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 240% - G 240% và B 240%. Nhấp OK và nhấp YES. 3.Cách sử dụng CURVES  Cách sử dụng Mục Preset có 10 hiệu ứng kể cả Default, khi bạn chọn một hiệu ứng sẽ hiện ra điểm neo trên thanh nghiêng, bạn rê điểm neo này vừa quan sát sự thay đổi trên ảnh đến khi ưng ý thì dừng lại.

pdf15 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 18/01/2013 | Lượt xem: 2657 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng curves trong photoshop, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 55.SỬ DỤNG CURVES TRONG PHOTOSHOP Download bài này tại: Tham khảo thêm tại: Xem Video hướng dẫn tại: 1.Cách chỉnh các thông số Color Setting Tham khảo chi tiết tại: Để xác lập lại Profile ảnh cho chuẩn, bạn cần chỉnh lại phần Color Settings như sau:  Mở một file ảnh | Vào menu Edit | Color Settings (Ctrl+Shift+K).  Trong HT Color Settings, bạn chọn và đánh dấu như sau: Trong mục Working Spaces, hàng RGB chọn Adobe RGB (1998) - Mục Color Management Policies, hàng RGB chọn Off – Đánh dấu chọn hàng Ask When Opening để nó không tự động bật lên. Nhấp OK. 2.Xác lập các thông số chuẩn cho Curves  Bạn vào Menu Images | Adjustments | Curves (Ctrl+M). Hiện ra HT Curves gồm có 3 công cụ chính là : Sample in image to set black point - Sample in image to set gray point - Sample in image to set 2 white point. Thông thường các bạn thường hay để mặc định như vậy và sử dụng. Bạn cẩn xác lập lại các thông số chuẩn cho Curves trước khi cân chỉnh màu, có như thế mới đạt hiệu quả cao.  Black Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 20% - G 20% và B 20%.  Gray Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 128% - G 128% và B 128%.  White Point: Nhấp đúp công cụ Ống giọt black point | Hiện ra bảng Color Picker, bạn nhập giá trị: R 240% - G 240% và B 240%. Nhấp OK và nhấp YES. 3.Cách sử dụng CURVES  Cách sử dụng Mục Preset có 10 hiệu ứng kể cả Default, khi bạn chọn một hiệu ứng sẽ hiện ra điểm neo trên thanh nghiêng, bạn rê điểm neo này vừa quan sát sự thay đổi trên ảnh đến khi ưng ý thì dừng lại. o Ví dụ: Muốn tăng sáng, trong Preset chọn Lighter. Đã có sẵn điểm neo để bạn rê lên vừa preview ảnh cho đến khi ưng ý thì ngưng. 3 o Nếu muốn trở lại tình trạng ban đầu, nhấp phím Alt sẽ hiện ra Nút Reset, bạn nhấp lên nút này sẽ trở lại ban đầu.  Cách sử dụng Mục Channel: Ngoài màu cơ bản RGB còn có 3 màu Red – Green – Blue. Khi bạn chọn một màu, bạn rê thanh xiêng lên và quan sát ảnh sẽ thấy tô đậm màu đã chọn. Nếu rê xuống sẽ thấy màu khác xuất hiện.  Sử dụng Curves: Dùng Black Point chấm lên điểm tối nhất và dùng White Point chấm lên điểm sáng nhất. 4  Làm thế nào tìm được chính xác điểm tối nhất và điểm sáng nhất trên ảnh một cách chính xác ? . Bạn hãy theo hướng dẫn sau đây: o Trong thanh công cụ, chọn Color Sampler Tool. o Nhấp nút Create new Fill or adjustments layer, bật ra menu con, chọn Threshold. o Rê thanh trượt qua phải cho đến khi chỉ còn một điểm sáng, đó là điểm sáng nhất. dùng ống giọt đánh dấu vị trí này. 5 o Rê thanh trượt qua trái cho đến khi chỉ còn một điểm tối, đó là điểm tối nhất. dùng ống giọt đánh dấu vị trí này. o Nhấp nút Toogle layer visibility để hiện ra ảnh trong đó có 2 điểm đã đánh dấu sáng nhất và tối nhất. Đóng cửa sổ không cần thiết lại. 6 o Mở Curves và dùng Black Point chấm lên điểm tối nhất đã được đánh dấu bằng ống giọt và dùng White Point chấm lên điểm đã được dánh dấu. Nhấp Ok. Cách bỏ điểm đánh dấu: Nhấp phải lên và chọn Delete. Sử dụng công cụ Curves trong Photoshop Nguồn: Tác dụng không thể thiếu của Adobe Photoshop đối với ảnh số có lẽ không cần phải nói nhiều. Với những công cụ chuyên nghiệp hiệu chỉnh chi tiết về ánh sáng, màu sắc, thậm chí là thay đổi hình dạng, phù phép cho ảnh số; thực sự Photoshop là hành trang không thể thiếu trong nhiếp ảnh cũng như thiết kế, in ấn. Nhưng nếu bắt buộc phải từ bỏ hết các công cụ hiệu chỉnh trong Photoshop chỉ giữ lại duy nhất 1 công cụ, phải chọn công cụ nào đây? Đó chính là Curves. Dài dòng một chút, thực ra bài này chính là để nói về Curves mà :)). Mình thích Curves, hầu như mình luôn sử dụng Curves khi phải dùng đến Photoshop. Nó chứa đựng sức mạnh có thể thoả mãn gần như toàn diện các mục đích hiệu chỉnh một tấm ảnh từ xấu lên đẹp. Tuy nhiên đây lại không phải là một công cụ dễ nắm bắt và sử dụng nhuần nhuyễn, ít nhất là khi mới tiếp xúc, hoặc với người bắt đầu làm quen với Photoshop. Bài viết này rút ra từ kinh nghiệm nghiên cứu và thực hành của mình, ghi chép lại cố gắng theo cách chuyên nghiệp một chút để hệ thống hoá quá trình học Photoshop của bản thân, đồng thời hy vọng cũng giúp ích cho những người chưa biết. Curves có những tác dụng gì? 7 Rất nhiều, và là những tác dụng cơ bản cần thiết khi hiệu chỉnh một tấm ảnh:  Chỉnh độ sáng, độ tương phản trên toàn bộ tấm ảnh, hoặc trên một phạm vi (miền) sắc độ  Chỉnh độ sáng, độ tương phản trên từng khu vực riêng của tấm ảnh, hoặc trên một phạm vi (miền) sắc độ của khu vực đó  Chỉnh màu cho tấm ảnh Các khái niệm cơ bản Trước khi tìm hiểu sâu hơn về Curves, có lẽ cần phải đi qua một số khái niệm đơn giản về màu RGB - hệ màu mặc định mà chức năng Curves sử dụng. Những tác dụng mà Curves tạo nên có thể gây ảnh hưởng riêng biệt đến 4 kênh màu: RGB, R, G và B. Trong đó mặc định là kênh RGB (trắng), và có thể chuyển đổi qua các kênh riêng khác: R (đỏ), G (xanh lá) và B (xanh dương). Điều này là dễ hiểu bởi 3 màu cơ bản đỏ, xanh lá và xanh dương khi hoà trộn vào nhau sẽ cho màu trắng. Như vậy có nghĩa là nếu chỉnh Curves ở kênh RGB thì sẽ có tác dụng thay đổi sáng/tối trên cả 3 màu cơ bản của tấm hình (nhưng vì hoà trộn vào sẽ được màu trắng nên mắt người chỉ nhận thấy tấm ảnh sáng đều hoặc tối đều từ đen tới trắng mà thôi). Nếu chỉnh Curves trên một kênh màu riêng thì sẽ chỉ có tác dụng sáng/tối trên phạm vi kênh màu đó. Ví dụ, chỉnh Curves trên kênh Red thì chỉ có những phần (cụ thể là những pixel) có sắc độ liên quan tới màu đỏ mới thay đổi độ sáng, tối - các sắc độ khác giữ nguyên. Dựa vào biểu đồ pha trộn màu trên đây, có thể hiểu rõ hơn điều vừa viết. Ngoài ra nhờ biểu đồ này ta có thể nhận biết rõ vị trí của màu Cyan (trộn giữa xanh dương và xanh lá), Magenta (trộn giữa đỏ và xanh 8 dương), Yellow (trộn giữa đỏ và xanh lá). Ba màu này (chính là Xanh Ngọc, Tím và Vàng) được ứng dụng rất nhiều trong các công cụ chỉnh màu của Photoshop. Phạm vi sắc độ (Tonal Range) là gì? Phạm vi sắc độ của một tấm ảnh (Tonal Range) có thể hiểu đơn giản là một dải giá trị thể hiện mức độ sáng/tối, chạy từ điểm màu có giá trị tối nhất tới điểm màu có giá trị sáng nhất của tấm ảnh đó. Khái niệm Tonal Range là điều cần thiết nên biết để sử dụng tốt Curves. Thông thường điểm màu có giá trị tối nhất của mỗi tấm ảnh chưa chắc đã là màu đen, và điểm màu có giá trị sáng nhất chưa chắc là màu trắng; tuy nhiên một tấm ảnh tốt thì điểm tối nhất thường là màu đen và điểm sáng nhất là màu trắng. Khi độ tương phản đủ cao thì tấm hình trở nên rõ ràng dễ nhìn hơn. Đó là lý do phải dùng đến Curves. Ví dụ: Di chuột lên hình để xem biểu đồ về phạm vi sắc độ Hình 1 (Phạm vi sắc độ hẹp) Hình 2 (Phạm vi sắc độ rộng) Trong hai hình trên, hình bên trái có dải phạm vi sắc độ hẹp, điểm tối nhất cũng chẳng tối lắm mà điểm sáng nhất cũng không sáng hẳn, vậy nên độ tương phản tổng thể thấp, hình rất khó nhìn. Hình bên phải có phạm vi sắc độ trải từ tối nhất (đen) tới sáng nhất (trắng), hình ảnh cải thiện hơn. Tổng quan về hộp công cụ Curves Như đã biết có 2 cách chỉnh Curves, đó là:  Images → Adjustments → Curves... (hoặc Ctrl + M)  Layer → New adjustment layer → Curves... (hoặc creat adjustment layer ở Layer Palette) Tuy nhiên trong đa số trường hợp ta nên chọn cách thứ 2 (adjustment layer) vì có thể chỉnh sửa hay xoá tiện lợi hơn mà không ảnh hưởng đến layer gốc, nên trong bài viết này cũng chỉ đề cập đến Curves ở trong Adjustment layer box. Curve có nghĩa là đường cong, về mặt cơ bản, công cụ Curves cho phép ta chỉnh sửa độ sáng của màu sắc thông qua việc điều chỉnh một đường đồ thị. Đường này là tập hợp các giá trị sắc độ của hình ảnh từ tối nhất (đen) tới sáng nhất (trắng). Khi chưa chỉnh sửa gì, đường đồ thị đó là một đường thẳng, sau khi chỉnh sửa nó sẽ thành một (hoặc nhiều) đường cong. Hình bên mô tả đường Curves mặc định, khi chỉnh sửa nên ngầm phân chia giá trị các sắc độ thành những khoảng khác nhau: Sáng nhất (White point), Sáng (Highlights), Trung tính (Midtones), Tối (Shadows) và Tối nhất (Black point); sau đó đánh giá tấm hình để tự đưa ra quyết định nên tăng hay giảm giá trị sắc độ ở khoảng nào. Click chuột lên một điểm bất kỳ trên đường Curves, sẽ xuất hiện một dấu chấm tại điểm đó. Ta có thể giữ chuột và thay đổi vị trí điểm đánh dấu đó để thay đổi sắc độ. Cũng như mọi đồ thị khác, đồ thị Curves cũng có cột giá trị X và Y, ở đây là Input và Output. Input được hiểu là dải giá trị sắc độ của hình ảnh trước khi chỉnh sửa, Output là dải giá trị sắc độ của hình ảnh sau khi chỉnh sửa. Khi chưa chỉnh sửa, đường Curves đi thẳng từ tối nhất lên sáng nhất, tại mọi điểm trên đường Curves, ta có Input=Ouput (X=Y) 9 Cơ chế hoạt động của Curves: Di chuyển điểm đánh dấu trên đường Curves. Sau khi di chuyển, những điểm màu mang giá trị sắc độ tương ứng trên dải Input sẽ biến đổi (sáng hơn hoặc tối hơn) thành giá trị tương ứng trên dải Ouput. Hình bên phải minh hoạ cho cơ chế của Curves. Cùng một mục đích với công cụ Level, nhưng Curves mềm dẻo hơn rất nhiều, có thể tạo tối đa 14 điểm chỉnh sửa trên đường Curves (ngoài 2 điểm đầu và cuối). Các nút và chức năng trong Curves box S-Curves và Inverted S-Curves Chỉnh Curves theo hình chữ S và theo hình chữ S ngược là 2 kiểu thông dụng nhất. Bởi thông thường trong đa số trường hợp, chỉ có 2 mục đích chính là tăng hoặc giảm độ sáng (hay tương phản) của tấm ảnh một cách đồng đều. Trừ khi người thiết kế muốn chỉnh ảnh theo một mục đích quái dị. Chỉnh Curves theo hình chữ S làm giảm độ tương phản ở các khoảng Shadows và Highlights, đồng thời tăng độ tương phản ở Midtones, nên làm tăng độ tương phản tổng thể của tấm ảnh. Trong khi chỉnh Curves theo hình chữ S ngược lại cho kết quả ngược lại. 10 Di chuột lên hình để xem sự thay đổi sau khi chỉnh Curves hình chữ S Chỉnh Curves theo hình chữ S Biểu đồ (Histograms) và phạm vi sắc độ rỗng (Empty Tonal Range) Như chú thích trong hình minh hoạ Curves box, nằm chìm phía trong đồ thị Curves là biểu đồ (Curves Histograms). Biểu đồ này thể hiện số lượng điểm ảnh (pixel) tại các khoảng sắc độ khác nhau. Bình thường khi chỉnh sửa ảnh có thể không mấy ai để ý tới biểu đồ này, tuy nhiên đối với những tấm hình có độ tương phản quá thấp, biểu đồ cung cấp cho chúng ta thông tin tuyệt vời để chỉnh sửa lại cho vừa đúng mà không sợ quá tay. Trong hình dưới đây, pixel tối nhất của tấm ảnh cũng chỉ màu xám một chút, và pixel sáng nhất của ảnh cũng không sáng hoàn toàn. Như đã biết ở các mục trên, tấm hình này được gọi là có phạm vi sắc độ hẹp. Tuy nhiên mức độ hẹp bao nhiêu thì phải xem biểu đồ mới chỉnh đúng được. Ở các tấm hình có Tonal Range hẹp như thế này, phía trước và phía sau đồ thị (trước điểm ảnh đầu tiên và sau điểm ảnh cuối cùng) thường có một khoảng trắng, vì không có điểm ảnh nào đạt sắc độ trong các khoảng đó cả. Khoảng trắng đó gọi là Phạm vi sắc độ rỗng (Empty Tonal Range). Để cứu vãn tình thế, chỉ cần kéo điểm hiệu chỉnh trên đường Curves tại vị trí Black point (tối nhất) tới điểm bắt đầu của biểu đồ (Histograms), đồng thời kéo điểm White point (sáng nhất) lùi lại điểm cuối cùng của biểu đồ. Làm như vậy ta đã xoá bỏ các phạm vi sắc độ rỗng, và xác định lại điểm sáng nhất, tối nhất ở sắc độ hợp lý hơn. Di chuột lên hình để xem sự thay đổi sau khi loại bỏ Empty Tonal Range Khắc phục Empty Tonal Range Ngoài ra còn có một trường hợp hiếm gặp của Empty Tonal Range đó là khoảng trắng xuất hiện ở giữa biểu đồ, chia biểu đồ thành 2 khoảng về phía Shadows và Highlights, còn Midtones thì ít hoặc không có gì. Trường hợp này thực sự hiếm gặp và thường thấy ở những bức ảnh bị chỉnh sửa hỏng, tăng độ tương phản quá mức, các pixel quá tối hoặc quá sáng thì nhiều còn các pixel màu trung tính thì ít hoặc không có. Ở ảnh chụp gốc thì ít gặp trường hợp này vì hầu hết đều chỉ thiếu chứ không thừa tương phản bao giờ (trừ trường hợp dùng flash hỏng hoặc đặt chế độ White Balance không đúng). Khi gặp phải Empty Tonal Range ở giữa đồ thị, cách khắc phục là chỉnh thành hình chữ S ngược ở khoảng Midtones (cụ thể là khoảng bị Empty Tonal) để giảm Contrast nhằm cứu vãn tình thế. Tuy nhiên nếu ảnh chụp là file RAW thì mới có khả năng cứu, còn bằng file JPEG thì hầu hết là mất chi tiết ở những điểm sáng quá hoặc tối quá, khó mà cứu nổi. Trường hợp này ít gặp hơn nên mình cũng chịu không có hình mình hoạ ^^! Giảm bớt độ sáng gắt (Clipped Highlights) Trong một số trường hợp chụp nguồn sáng mạnh (như mặt trời hoặc đèn cao áp) mà không có filter UV hoặc filter Polarizer, ảnh rất có thể sẽ bị sáng loá hoặc gắt, gây khó chịu cho người xem. Không những thế ảnh chụp ra còn trông không thật, nhìn cứ như tranh màu nước. Curves có thể điều chỉnh tốt việc này để vùng sáng gắt trên ảnh chuyển tiếp mượt mà hơn với các vùng xung quanh. Thông thường có thể khắc phục trường hợp này bằng cách giảm độ dốc của đường Curves ở khoảng Highlight (sáng nhất), và tinh chỉnh thêm nếu không muốn các vùng khác thay đổi theo nếu cần. Di chuột, di chuột! Chỉnh Curves để giảm bớt độ sáng gắt Điều chỉnh cân bằng màu (Color Balance) 11 Curves không chỉ dùng để chỉnh sáng tối, nó thực sự còn thay đổi được tông màu, điều chỉnh lại cân bằng giữa các kênh màu cho chuẩn hoặc pha màu tấm ảnh theo mục đích riêng. Sau khi chỉnh Curves chữ S, hoặc khắc phục Phạm vi sắc độ rỗng, màu ảnh luôn tươi tắn hơn, nhưng đó chưa phải là tất cả đối với Curves. Photoshop có hẳn một chức năng Color Balance riêng, nhưng ngay trong công cụ Curves ta có thể làm điều đó mà kết quả không kém khác một chút nào. Như đã biết Curves có ảnh hưởng mặc định trên kênh màu RGB, nhưng có thể áp dụng riêng trên từng kênh màu R, G và B để tăng giảm sắc độ của từng kênh màu mà không ảnh hưởng đến kênh màu khác. Nguyên tắc chuyển màu trên từng kênh như sau:  Kênh Red: tăng sáng được màu Đỏ, giảm sáng được màu Xanh ngọc (Cyan)  Kênh Green: tăng sáng được màu Xanh lá, giảm sáng được màu Tím (Magenta)  Kênh Blue: tăng sáng được màu Xanh dương, giảm sáng được màu vàng Về bản chất, màu RGB gồm có 1 kênh màu pha trộn và 3 kênh đen trắng mang giá trị sắc độ của 3 màu Red, Green, Blue. Hình dưới đây minh hoạ lần lượt 4 kênh màu đó trong 1 tấm ảnh. Trong Photoshop, có thể bật Menu Windows → Channels... để so sánh rõ hơn sắc độ của từng kênh màu. Trong nhiều trường hợp khi chụp ảnh ta gặp phải tình trạng bị ánh sáng phản chiếu vào ống kính gây lệch sắc thái ở một màu nào đó (hiện tượng ám màu). Khi đó vẫn chỉ với Curves, ta có thể điều chỉnh lại. Trong hình dưới đây, qua nhận định ban đầu có thể thấy ảnh bị ám màu xanh (Blue) một chút ở những vùng tối. Mở Channel Blue trong Curves ra, ta thấy ngay có một chút Empty Tonal Range ở khoảng Shadows, như vậy những vùng tối của ảnh không đen như bình thường mà lại xanh nhiều hơn. Áp dụng các cách tinh chỉnh đường Curves, có thể điều chỉnh lại ngay sau vài giây, kết quả cho nước ảnh nhìn có cảm giác trong hơn. Di chuột nữa Khắc phục ảnh bị ám màu bằng Curves Trong hình trên, ta thấy các phần Highlights của tấm ảnh đã đủ độ sáng, do vậy nên để nguyên không cần tăng thêm, chỉ giảm một chút ở vùng Shadows để viền thuỷ tinh ở phần chân chiếc cốc nét hơn một chút. 12 Chế độ hoà trộn cho Curves (Blending Modes) Khi sử dụng Adjustment layer cho Curves, ta còn có thể quy định ảnh hưởng của Curves chỉ có tác dụng trên màu của ảnh (Color) hoặc chỉ trên Độ sáng tối của ảnh (Luminosity). Dùng các Blending Modes (chế độ hoà trộn) cho Adjustment layer để thực hiện điều đó, cụ thể là blend mode Color và blend mode Luminosity. Khi chọn blend mode là Color thì Curves chỉ có tác dụng trên các kênh màu R, G, B (tức là độ sáng tối cho các kênh màu); còn khi chọn Luminosity thì Curves chỉ có tác dụng trên kênh chung RGB (sáng đều và tối đều nhau). Có thể hiệu chỉnh cùng Blend Mode tinh tế hơn nhờ thay đổi Opacity của Adjustment layer. Trên đây là những điều cần biết về công cụ Curves trong Photoshop. Trong lúc viết bài này, mình cũng thực hành không ít vì phải làm ảnh minh hoạ ^^, áp dụng thực tế một chút sẽ thấy dễ hiểu hơn nhiều. Ứng dụng của Curves có lẽ còn xa hơn những điều viết bên trên, tuỳ thuộc vào cảm quan đánh giá và sự linh hoạt của người sử dụng. Tuy nhiên muốn làm gì cho tốt thì trước tiên nên hiểu rõ về nó. Công cụ Curves mới đầu khó hiểu là vậy nhưng thực ra cũng chỉ xoay quanh nguyên lý sáng tối với những màu cơ bản, vận dụng tốt Curves chắc chắn sẽ mang lại kết quả cao và tiết kiệm thời gian trong xử lý hậu kỳ ảnh số. Cuối cùng, một số chú ý nhỏ:  Hãy thực hành Curves với ảnh mới chụp, đừng làm trên ảnh đã xử lý rồi  Để hiệu quả thể hiện rõ rệt hơn, hãy chuyển sang chế độ màu 16 bit (Image → Mode → 16 Bits/Channel)  Curves mà dùng kết hợp với chế độ Lab Color thì còn nhiều hiệu quả bất ngờ khác nữa ;) Tags:  Curves  Curves Photoshop Tutorial  Hướng Dẫn Curves Photoshop  Photoshop  Studying Bài viết liên quan  Tạo hiệu ứng Gradient đúng cách Cách chỉnh các thông số Color Setting Download bài này: Trứơc khi trả lời bác về câu hỏi cách chỉnh thông số Color Setting, mình xin nói một số khái niêm cơ bản cho các bạn nghiên cứu nhé (có thể không đây đủ, nên bạn nào thấy có gì sơ xuất thì xin chỉ giáo thêm nhé). Nhiều người băn khoăn bởi cùng một bức ảnh nhưng khi xem bằng ACDSee, PictureViewer hay bằng Photoshop, PaintshopPro hay trên trình duyệt Web như IE hay Netscape lại cho màu sắc, độ sâu, tương phản…khác hẳn nhau. Nhiều bác cố cày Photoshop để ảnh thật nuột, nhưng để rồi lại vò đầu bứt tai khi nhìn kết quả khá thê thảm khi hiển thị trên Website. Tại sao vậy? Bài viết này trình bày một cách xử lí vấn đề trên từ góc độ một người sử dụng Photoshop. Color Management 13 Nói ra thì có vẻ to tát, như bác gì nói là XYZ chứ chả phải ABC , thực ra cũng đúng , có điều, XYZ không có nghĩa là khó đến mức không học được. Ở đây em xin giải thích nhanh một số khái niệm cơ bản về input, output, color theory . . . và hướng dẫn về cách dùng color profile phục vụ riêng cho mục đích post ảnh lên diễn đàn một cách properly. (em cũng xin lỗi thêm là em sẽ cố gắng dùng tiếng Việt một cách triệt để nhất, để cho dễ hiểu. nhưng có thể có một số phần em ko biết dịch thế nào, thì em đành phải dùng tiếng Anh, hoặc em sẽ dịch thô và ghi chú bằng tiếng Anh. các bác thông cảm cho em phần này). Input và Output. Một bức ảnh (image) trước khi được đưa lên máy tính thì phải qua Inputs, đó có thể là digital cameras hoặc scanners (bao gồm cả film scanners . . .) Trong cả hai trường hợp, đều là ảnh RGB bởi vì các máy cameras & scanners đều dùng RGB sensors. Điều quan trọng là, thông thường ta không biết được profile của những bức ảnh này (un-profiled). Chúng có thể là Adobe RGB, có thể là sRGB ... cũng có thể là không có profile đi kèm. Tiếp theo, khi bức ảnh được mở trong Photoshop, thì Photoshop sẽ thể hiện nó (display) trên một màn hình máy tính (monitor). Trong Photoshop, thông thường chúng ta làm việc trong môi trường Adobe RGB (Adobe RGB Environment), nhưng khi thể hiện trên monitor, nó sẽ chuyển đổi (convert) từ môi trường của nó (Photoshop''s color space) sang môi trường của màn hình (monitor''s color space). Vấn đề là mỗi màn hình có cách thể hiện RGB khác nhau như bác Quangnb thắc mắc. em xin trả lời là đây chính là lý do các bác làm đồ hoạ chuyên nghiệp phải thường xuyên cân chỉnh màn hình (calibrate their monitors) để nó thể hiện màu sắc một cách đúng nhất. Thường thì họ bắt buộc phải làm việc này hàng tuần. Nhưng cũng có người khá maniac (như ông thầy của em chẳng hạn) thì cân chỉnh hàng ngày . Làm sao để calibrate dùng Adobe Gama thì em sẽ nói sau. Sau khi làm việc với bức hình trên Photoshop, thì chúng ta có 2 lựa chọn Outputs là Web và Printers. Nếu output là web (trong trường hợp của các bác) thì chúng ta sẽ phải convert bức ảnh đó từ Adobe RGB sang sRGB. Còn nếu output là printers, thì cũng lại có vài trường hợp (cái này em nói thêm thôi, các bác ko cần đọc cũng được) Nếu printer là inkjet printers, thì chúng ta để nguyên profile của bức ảnh để print. Lý do là công việc converting sẽ do cái máy printer đó đảm nhiệm. Nó sẽ tự biết convert từ profile của bức ảnh sang profile của nó để print. Còn nếu bức ảnh đó được mang đi chế bản để in trên sách, báo, tạp chí (pre- press) thì nó sẽ được convert sang CMYK profile của cái máy in. cái profile này thường thì phải qua nhà in để xin. Color Profiles Trước hết mời các bác open Photoshop, ấn Ctrl+Shift+K để mở Color Settings Dialog Box và chỉnh các thông số như thế này. cái dialog box này nhìn vào thì rõ là rắc rối. tất nhiên chả ai dại gì đụng vào nó cho rách việc. nhưng nếu mình biết ý nghĩa của nó thì mình sẽ control được nó chứ. Settings: là tập hợp các settings mà mình chọn (hoặc có sẵn). trên máy em thì em set và save sẵn nên trông nó thế. trên máy các bác thì có thể nó đề là U.S. Prepress Default. cái phần này chưa quan trọng lắm. vì mình sẽ thay đổi nó. Advanced Mode: cái này nói sau. bây giờ hãy tạm thời cứ turn off nó đi đã cho đỡ rắc rối. Working Space: chính là môi trường làm việc của PS. RGB: chọn RGB working space. Một số profile thông thưòng là Adobe RGB, Apple RGB, sRGB . . . trong đó sRGB là space nhỏ nhất và thích hợp với 99% monitor trên thế giới (vì vậy nó mới là profile dùng cho web graphics). Apple RGB là profile dành cho màn hình máy Mac. AdobeRGB là một space khá lớn và vì 14 vậy, nó có thể ''bao gồm'' các space khác. do đó, tốt nhất là chọn Adobe RGB vì sau này nếu cần, ta có thể chuyển sang space khác một cách dễ dàng. CMYK: chọn CMYK working space. vì ta không làm việc với print graphics nên cái này không quan trọng. chọn thế nào cũng được. Gray và Spot: để default value (20%) Color Management Policies: quản lý color profiles khi mở một image RGB: đối với RGB images, có thể nó có profile, có thể không có. cũng có thể profile của nó linh tinh. vì vậy cách tốt nhất là chọn Convert to Working RGB CMYK: nếu một bức ảnh mà có CMYK profile đi kèm với nó, thì thông thường người tạo ra nó biết anh ta đang làm gì với nó. vì vậy cách tốt nhất là nó thế nào thì mình giữ nguyên. túc là để Preserve Embedđe Profiles. Gray: Off Profile Mismatches: nghĩa là nếu mở một image file ra mà cái profile của nó không trùng với working space thì làm thế nào. --> ta chọn turn on Ask When Opening và turn off Ask When Pasting vì khi open file, ta có thể chọn working space của ta hoặc của cái image đó. còn khi paste thì tất nhiên là phải dùng cái space mà ta đang làm việc. Missing Profiles: là khi mở một image file mà nó bị miss profile, hay nói cách khác là không có profile. trong trường hợp này thì turn off Ask When Opening (dùng setting mà ta định sẵn. có nghĩa là nếu image đó là RGB thì convert sang Working RGB, còn nếu là CMYK thì giữ nguyên) Advanced Mode. Phần này chủ yếu dành cho dân Color Technicians. Tuy nhiên có một option mà ta cần đổi, đó là Intent. Default của nó là Relative Colormetric. option này thực chất là dành cho Presentation Graphics (pie charts, vector illustrations . . .) Adobe để default là Relative Colormetric chẳng qua là để đồng nhất với Illustrator và InDesign. Tuy nhiên ta không làm việc với 2 chuơng trình đó nên sẽ chuyển option này thành Perceptual, là option dành cho pixel images.OK sau khi set rồi thì chúng ta có thể Save lại để sau này dùng choosing a proper color profile for each specific purpose. Thông thường, working space là AdobRGB, và đó là image gốc. vì vậy để lưu trữ, ta save profile này với cái image. Ta chọn File/Save As để mở Save As Dialog Box, nhìn xuống dưới, sẽ thấy có tuỳ chọn ICC Profile: Adobe RGB (1998). đánh dấu tuỳ chọn này và click vào nút Save. đó là image gốc. ta cất vào một chỗ. khi nào cần sẽ lấy ra sử dụng. vd ta muốn post lên box Nghệ Thuật Nhiếp ảnh để ''khoe'' thì làm như sau: -Image/Mode/Convert to Profile và chọn sRGB IEC61966- 2.1. Phần Intent nhớ để ý nó phải là Perceptual 15 Bước tiếp theo là File/Save For Web và cân chỉnh các mức nén sao cho phù hợp. tuy nhiên, quan trọng là turn on phần ICC Profile (nếu không thì bức ảnh sẽ ko có profile (unprofiled, hay profile mising). Nếu bị profile missing, thì khi mở ra trong Photoshop, nó sẽ được tự động gán cho AdobeRGB profile nếu như phần Color Settings ta set như trên. Vậy thôi. Từ nay khi ảnh các bác đưa lên web, IE của người xem sẽ biết chính xác phải thể hiện bức ảnh đó thế nào trên màn hình. Còn cái hình đó màu sắc thể hiện đúng đến đâu thì lại là vấn đề của người xem. Người đó muốn xem chính xác thì phải tự cân chỉnh màn hình của mình. đó là topic mà ngày mai em sẽ viết tiếp - monitor calibration. phần này ngắn thôi, nhưng mà bây h 3h sáng rồi. đi ngủ cái đã. quên mất. ảnh sau khi Save For Web, bác có thể tự kiểm tra xem nó có phải sRGB hay chưa bằng cách dùng PS mở nó ra. nếu phần Color Settings bác set đúng như em chỉ thì bác sẽ thấy PS hiện lên bảng thông báo ''''Embedđe Profile Mismatch''''. Nếu nhìn xuống dưới sẽ thấy nó bảo: embedded là sRGB IEC61966-2.1 và Working là Adobe RGB (1998) ---> vậy là file đó được saved một cách properly và ready to go to the web.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf55_curves_014.pdf
Tài liệu liên quan