Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005

Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Trong lĩnh vực kinh tế nếu tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của con người thì sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản lại được coi là điều kiện cần thiết để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản đó. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng đã có những quy định xung quanh vấn đề tài sản chính vì thế em xin chọn đề tài: “Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005” để tìm hiểu.

doc21 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 03/09/2013 | Lượt xem: 1921 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶT VẤN ĐỀ. Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Trong lĩnh vực kinh tế nếu tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của con người thì sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản lại được coi là điều kiện cần thiết để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản đó. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng đã có những quy định xung quanh vấn đề tài sản chính vì thế em xin chọn đề tài: “Phân tích, bình luận quy định về tài sản trong Bộ luật dân sự năm 2005” để tìm hiểu. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Những vấn đề chung về tài sản. 1. Khái niệm Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Khái niệm về tài sản chắc chắn đã được hình thành từ rất lâu, gần như song song với lịch sử hình thành loài người. Tài sản là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích cao. Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội. Tài sản không thể được xem xét tách rời các giá trị xã hội. Ta có thể hiểu tài sản là của cải được con người sử dụng. Theo nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thức con người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau. Có thể nhận thấy tài sản là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần. Theo điều 163 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.” Trong đó vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không kiểm soát, không chiếm hữu được nó thì cũng đồng nghĩa với việc con người không tác động được vào nó. Do đó, gió, không khí, mưa… thuộc về mặt vật chất nhưng không thể được coi là tài sản về mặt pháp lí. Hơn nữa, là đối tượng của trong quan hệ pháp luật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ. Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải thỏa mãn những điều kiện: là bộ phận của thế giới vật chất, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai. Tiền theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường. Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng. Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, công trái…Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là do Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền. Cần chú ý các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, giấy đăng kí ô tô,…không phải là giấy tờ có giá. Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tài sản và quyền tài sản được quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Quyền tài sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản. Có thể thấy rằng những loại tài sản được pháp luật thừa nhận tại Điều 163 Bộ luật dân sự là kết quả của quá trình phát triển lưu thông dân sự được nhà nước thừa nhận. Tuy nhiên, pháp luật thường chậm hơn thực tiễn nên việc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống. Bởi vậy để đi tìm một khái niệm chung nhất cho tài sản là rất khó. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội đặc biệt là với nền kinh tế thị trường thì phạm vi tài sản là không hạn chế trong đó tài sản vô hình đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học kĩ thuật, sản xuất hàng hóa. Do vậy pháp luật ngày càng chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra như với việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ. Ngoài ra cũng cần phân biệt khái niệm tài sản với khái niệm hàng hóa trong khoa học chính trị - kinh tế học (là sản phẩm do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của hàng hóa được được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó. Vì vậy thấy rằng đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật (tài sản) chứ không phải hàng hóa. Như vậy tài sản cần được tiếp cận ở phạm vi rộng hơn so với khái niệm hàng hóa. Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, đó là một khái niệm rộng và không giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra. 2. Đặc điểm Từ những nhận định trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm của tài sản: Thứ nhất, tài sản có giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền. Tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Theo Điều 163 thì những tài sản còn lại như vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thể quy đổi ra tiền. Thứ hai, tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền (cả về vật chất lẫn tinh thần). Thứ ba, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự, chính bởi như thế khái niệm về tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kì để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó. Thứ tư, khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp lí. Pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhà nước với các quan hệ xã hội. Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhận một loại tài sản thì nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Sự quy định đâu là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự. Ví dụ như vào thời kì nhà nước phong kiến – chủ nô thì: nô lệ được coi là một loại tài sản, có thể được trao đổi, mua bán qua lại, đến nhà nước xã hội chủ nghĩa với chính sách tôn trọng và đảm bảo nhân quyền thì con người không bao giờ bị coi là tài sản cả mà họ là chủ của tài sản. 3. Phân loại. Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó việc phân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đời sống xã hội. Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, bán tài sản, công khai các quyền tài sản, thương mại, tư pháp quốc tế. Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định. 2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được (một số nước còn dựa vào cả công dụng của tài sản như luật của Pháp coi cả hạt giống, máy móc nông cụ… là bất động sản). Đây là cách phân loại truyền thống mà khá nhiều nước trên thế giới lựa chọn vì các quy phạm điều chỉnh hai loại tài sản này là hai hệ thống riêng rẽ độc lập với nhau khi áp dụng cho việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan. Nhà làm luật cũng định nghĩa bất động sản theo phương pháp liệt kê căn cứ vào đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên… sẽ được coi là bất động sản. Tuy nhiên điều luật đã quy định về bất động sản một cách mở chứ không liệt kê khép kín như khái niệm tài sản của Điều 163 vì vậy những tài sản khác mà pháp luật quy định vẫn được coi là bất động sản (như quyền sử dụng đất). Việc phân loại động sản và bất động sản có nhiều ý nghĩa như: Xác lập thủ tục đăng kí đới với tài sản (quyền sở hữu với bất động sản được đăng kí theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đăng kí bất động sản, quyền sở hữu với động sản thì không đăng kí trừ trường hợp pháp luật quy định khác); Xác định thời điểm chuyển giao quyền sử hữu đối với tài sản (khoản 1, Điều 168 BLDS 2005 quy định việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, còn khoản 2, Điều 168 quy định việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác); Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sản nhất định (pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có những quyền năng nhất định đối cới tài sản của người khác để bất động sản có thể khai thác được công dụng một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề); Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận (theo quy định tại Điều 284 BLDS 2005 thì trong trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản. Nếu đối tượng không phải là bất động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người có quyền); Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu (như tại Điều 239 BLDS 2005 quy định nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽ thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản thì sẽ thuộc sở hữu nhà nước…); Xác định hình thức của hợp đồng (theo quy định của Điều 459 BLDS 2005 thì việc mua bán đấu giá bất động sản phải được thành lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải được đăng kí nếu pháp luật có quy định…); Là căn cứ để xác định thời hạn thời hiệu và các thủ tục khác (thời hạn chuộc lại với đối với tài sản đã bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm theo điều 462 BLDS); Xác định phương thức kiện dân sự: Theo điều 257; Điều 258 BLDS 2005 thì điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất động sản là khác nhau.); Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự. Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản thì có thể phân tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức. Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại (hoa quả thu hoạch từ cây cối, con nghé do con trâu đẻ ra) Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải do tài sản tự sinh ra (tiền cho thuê nhà, tiền lãi…) Như vậy cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác và sử dụng tài sản gốc. Việc phân loại tài sản theo hướng này có những ý nghĩa nhất định: xác định chủ sở hữu của tài sản (hoa lợi sẽ thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó.); Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản gốc mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức (trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ theo Điều 416 BLDS 2005). Thứ ba, căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò, ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, quản lí nhà nước thì ta phân ra tài sản có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí quyền sở hữu. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó (nhà, máy bay, súng săn…) Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định của pháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quần áo, đồ chơi…). Với cách phân loại tài sản này cũng có ý nghĩa pháp lí trong một số trường hợp nhất định: Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu (đối với tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì theo quy định của pháp luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng kí, không phụ thuộc tài sản đó là bất động sản hay động sản căn cứ vào Điều 439 BLDS 2005); Xác định phương thức kiện dân sự (kiện vật quyền hay kiện trái quyền được quy định từ Điều 257 đến Điều 260 BLDS 2005.); Xác định hình thức của hợp đồng (theo quy định của Điều 467 BLDS 2005 thì tặng cho bất động sản phải được thành lập văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng kí quyền sở hữu.). Thứ tư, căn cứ vào chế độ pháp lí đối với tài sản, người ta phân chia tài sản thành ba loại: tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông. Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà ví lợi ích của nó đối với nền kinh tế quốc dân, ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch (vũ khí quân dụng, ma túy, chất phóng xạ, động vật quý hiếm…) Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phải tuân theo những quy định riêng pháp luật. Trong một số trường hợp phải được sự đồng ý, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vũ khí thể thao, thanh toán bằng ngoại tệ với số lượng lớn…) Tài sản lưu thông tự do là những tài sản mà không có quy định nào của pháp luật hạn chế việc dịch chuyển đối với tài sản đó, nếu có sự dịch chuyển thì các chủ thể không cần phải xin phép. Việc xác định đúng loại tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hiệu lực pháp lí của giao dịch dân sự. Cụ thể: tài sản cấm lưu thông không thể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự. Chính vì vậy nếu các bên vẫn xác lập giao dịch này thì giao dịc đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật; và khi đó tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước. Thứ năm, căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành loại tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản hiện có là tài sản đã có và tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó. Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch dân được giao kết) nhưng chắc chắn sẽ được hình thành trong tương lai (tiền lương sẽ được hưởng, xe máy đang được lắp ráp…). Ngoài ra tài sản hình thành trong tương lai còn gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm đó thì tài sản mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản có được do mua bán, trao đổi..) Với việc phân loại tài sản này ta có thể thấy ý nghĩa của nó: Xác định đối tượng được phép giao dịch (Điều 282 BLDS 2005 có quy định đối tượng của nghĩa vụ dân sựu phải được xác định cụ thể và theo Điều 411 BLDS 2005 thì trong trường hợp ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp đồng này vô hiệu.); Xác định hình thức thủ tục xác lập (Việc xác lập giao dịch có đối tượng là tài sản sẽ có trong tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờ chứng minh mình là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ hình thành trong tương lai đó.) Thứ sáu, căn cứ vào điều 163 BLDS 2005 ta cũng có một cách phân loại tài sản. Cách phân loại này mang tính chất liệt kê, theo đó thì tài sản được phân thành: vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản. Đây là cách phân loại tài sản hiện hành của pháp luật Việt Nam, bên cạnh một số hạn chế thì nó mang nhiều ý nghĩa pháp lí. Khi đối tượng của giao dịch là các loại tài sản khác nhau thì phương thức thực hiện cũng sẽ được áp dụng khác nhau. Như vậy việc phân thành các loại tài sản như trên sẽ có ý nghĩa trong việc hình thành nên các quy phạm điều chỉnh của pháp luật sao cho phù hợp với chúng để tránh gây ra tranh chấp trong quá trình giao thông dân sự. Bên cạnh đó cách phân loại này còn có ý nghĩa trong Luật hình sự khi xác định được đúng các loại tài sản, sẽ giúp xác định đúng tội danh như tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ (Điều 154 BLHS),… Ngoài ra, tài sản còn được phân thành nhiều loại như tài sản chung, tài sản riêng; tài sản là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng; tài sản có thật, tài sản ảo; tài sản cố định, tài sản lưu động; tài sản công, tài sản tư… Tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành. Vật. a, Khái niệm Vật là một bộ phận của thế giới vật chất và con người có thể chiếm hữu, sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của mình cả về vật chất lẫn tinh thần. Bộ luật dân sự năm 2005 đã có sự mở rộng phạm vi về vật từ “vật có thực” (BLDS 1995) sang “vật” (BLDS 2005) là tài sản. Như vậy, khái niệm vật không chỉ dừng lại ở khái niệm vật hiện hữu mà vật hình thành trong tương lai cũng có thể được coi là tài sản. Tại Điều 175 BLDS 2005 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi, lợi tức đây chính là sự gia tăng của tài sản trong điều kiện nhất định. Do sự phát triển của khoa học và công nghệ khái niệm vật trong khoa học pháp lí cũng được mở rộng như chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật nhưng ở dạng bình thường thì không coi là vật. Bộ luật dân sự đã quy định vật với tư cách là một loại tài sản của quan hệ pháp luật dân sự nhưng lại không giải thích vật là gì. Vì vậy có nhiều tranh luận về điều kiện về vật là tài sản. Tuy nhiên có một sự thống nhất cho rằng vật là tài sản hữu hình, nó sẽ mang đặc tính của một tài sản hữu hình như thuộc sở hữu của ai đó, mang một lợi ích vật chất hoặc tinh thần, có thể đang tồn tại hoặc được hình thành trong tương lai. b, Đặc điểm. Vật có một số đặc điểm sau: Vật thuộc thế giới vật chất và phải do con người chiếm hữu được; đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó; vật có thể do nhiều chủ thể sáng tạo ra (vật có thể được cấu tạo đơn giản hoặc phức tạp, do vậy đối với những vật có kết cấu cầu kì thì không phải một chủ thể có thể tạo ra nó được cần phải có sự hợp tác của nhiều chủ thể như xe máy, ôtô…); chủ sở hữu của vật sẽ có quyền định đoạt đối với vật (hủy bỏ, đập bỏ…), thay đổi hình dáng vật thuộc sở hữu. c, Phân loại. Trong các loại tài sản thì vật là tài sản thông dụng nhất, phổ biến nhất và được đưa vào giao dịch dân sự nhiều nhất. Tuy nhiên mỗi loại vật lại có đặc tính khác nhau và khi trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự lại cần phải có quy chế pháp lí để điều chỉnh riêng, chính vì thế có các cách phân loại vật sau: Thứ nhất, dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật đối với nhau mà vật được phân thành vật chính và vật phụ. Vật chính là vật độc lập có thể khai thác công dụng theo tính năng Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính. Việc phân loại vật thành vật chính vật phụ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đúng nghĩa vụ giao vật. Theo nguyên tắc chung, vật chính và vật phụ là đối tượng thống nhất, nếu các bên không có thỏa thuận gì khác, thì vật phụ phải đi kèm vật chính khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính, tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận khác. Ngoài ra việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập tài sản (Điều 236 BLDS). Thứ hai, dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà BLDS phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được. Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng sử dụng ban đầu.( xăng, gạo…) Vật không chia được tức là vật khi chia thành nhiều phần nhỏ thì mỗi phần không thể có được tính chất cũng như tính năng sử dụng ban đầu của vật (đồng hồ, điện thoại…). Những vật không chia được khi buộc phải chia thì phải trị giá bằng tiền để chia. Việc phân loại này đặc biệt có ý nghĩa khi cần phải phân chia tài sản là vật, ngoài ra nó còn có ý nghĩa trong việc xác định phương thức thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nếu vật chia được thì nghĩa vụ có thể phân chia được theo phần (Điều 300 BLDS 2005). Thứ ba, dựa vào đặc tính, giá trị tài sản sau khi sử dụng người ta chia vật ra thành hai loại là vật tiêu hao và vật không tiêu hao. Vật tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng một lần thì mất đi hoặc không giữ được hình dáng, tính chất và tính năng sử sụng ban đầu ( xi măng, vôi cát…). Vì vậy vật không tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn. Vật không tiêu hao là những vật mà khi đã qua quá trình sử dụng nhiều lần mà vẫn cơ bản giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu của vật (nhà ở, các loại máy móc…) Thứ tư, dựa vào dấu hiệu phân biệt của vật chia thành vật cùng loại và vật đặc định. Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường như kg, lít (xăng dầu, gạo…). Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế được cho nhau. Nếu vật cùng loại bị tiêu hủy thì có thể thay thế nó bằng vật cùng loại khác. Vật đặc định là những vật có thể phân biệt với các vật khác bằng các dấu hiệu đặc trưng riêng biệt của vật đó về kí hiệu, hình dáng, mà sắc chất liệu, đặc tính, vị trí. Trong vật đặc định, người ta xác định vật độc nhất (không có vật thứ hai) và vật đặc định hóa. Khi vật đặc định độc nhất bị tiêu hủy, thì không thể thay thế bằng vật khác, quan hệ pháp luật về sở hữu đối với vật cũng chấm dứt như các loại đồ cổ quý hiếm, một quyển sách có chữ kí người nổi tiếng… Còn vật được đặc định hóa là trong các vật cùng loại người ta tách nó ra bằng một dấu hiệu do con người đặt ra, đánh dấu nó bằng các kí hiệu riêng biệt. Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định, thì phải chuyển giao đúng vật đó, nếu giao vật khác mặc dù đúng số lượng, chất lượng vẫn bị coi là vi phạm nghĩa vụ và phải trịu trách nhiệm dân sự. Thứ năm, là cách phân loại tài sản thành vật đồng bộ và vật không đồng bộ. Vật đồng bộ là tập hợp các vật, mà chỉ có đầy đủ nó mới có giá trị sử dụng đầy đủ. Tập hợp các vật phải liên hệ với nhau thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc có bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số, kĩ thuật thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút (đôi dép, đôi găng tay…). Vật đồng bộ là đối tượng thống nhất trong giao dịch dân sự vì vật khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành vật đồng bộ. Tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận từng vật trong “bộ” để chuyển giao riêng biệt. Thứ sáu, căn cứ vào việc gia tăng tự nhiên khác nhau của tài sản theo điều 175 BLDS đã phân chi thành hoa lợi và lợi tức. Hoa lợi là những sản vật tự nhiên có tính chất hữu cơ do tài sản mang lại cho chủ sở hữu. Lợi tức được coi là một khoản lợi mà chủ sở hữu thu được từ việc khai thác công dụng của tài sản. Thông thường, lợi tức được tính ra thành một số tiền nhất định. Tiền a, Khái niệm Theo Mác “Tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra khỏi thế giới hàng hóa dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác.” Theo các nhà kinh tế hiện đại thì tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ. Trong BLDS 2005 không có những quy định để làm rõ bản chất của tiền, tuy nhiên, thông qua các quan niệm thì có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về tiền: “Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường”. Như vậy, chỉ có loại tiền đang được lưu hành tức là được pháp luật thừa nhận tại thời điểm đó mới được coi là một loại tài sản. b, Đặc điểm. Có thể thấy một số đặc điểm của tiền như: tính được chấp nhận một cách rộng rãi; dễ nhận biết; có nhiều mệnh giá khác nhau; tính lâu bền; tính khan hiếm. c, Bản chất pháp lí của tiền. Tiền là một loại tài sản đặc biệt được quy định tại Điều 163 BLDS: dùng tiền để xác định giá trị của các loại tài sản thông qua đó có thể biết được tài sản nào có giá trị hơn. Như vậy, việc tất cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tính đặc biệt của loại tài sản này. Chức năng của tiền: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản, thước đo giá trị. Giấy tờ có giá. a, Khái niệm. Theo định rộng, giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lí với các chủ thể khác. Với chức năng là một công cụ tín dụng thì giấy tờ có giá gồm: hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc… Với chức năng là phương tiện tín dụng là các loại hàng hóa được ghi giá trên thị trường tài chính, bao gồm các phương tiện ngắn hạn như các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kì phiếu và các phương tiện tín dụng dài hạn. Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá gồm: cổ phiếu và trái phiếu. Theo nghĩa hẹp, tại Điều 4 Quyết định số 02/2005/ QĐ – NHNN: “1. Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua” Tuy nhiên trong pháp luật dân sự không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là một loại tài sản trong giao lưu dân sự. Những loại giấy tờ có giá không ghi danh hay những giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản vô danh mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản (cổ phiếu, công trái, séc,…) còn một số loại giấy tờ khac như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm, thẻ rút tiền – minh chứng cho quyền tài sản chứ không phải giấy tờ có giá. b, Đặc điểm. Giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định; nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ; giấy tờ có giá có tính thanh khoản và công cụ có thể chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu. Quyền tài sản. a, Khái niệm. Khái niệm quyền tài sản đã được đưa vào BLDS năm 1995, và đến BLDS 2005 thì quy định trong Điều 181. Thông qua khái niệm về quyền tài sản trong BLDS 2005 thấy rằng quyền tài sản có thể được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Các nhà lập pháp đã giải thích rằng quyền tài sản là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản (quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế kiểu dáng công nghiệp…) b, Đặc điểm. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền (quyền sở hữu trí tuệ, sử đất…); có thể dùng là đối tượng trong giao lưu dân sự hoặc là quyền của chủ thể trong một số quan hệ dân sự tuyệt đối. Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản là tài sản vô hình. Quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam được xây dựng như một khối đối lập với vật trong hệ thống phân loại cơ bản (vật hữu hình). Nói khác đi, quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam được hiểu là quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở hữu mà trên cơ sở quan hệ khác đó, một lợi ích định giá được bằng tiền hình thành và thuộc về một chủ thể của quan hệ đó. Những vướng mắc trong quy định về tài sản và phương hướng hoàn thiện. Những vướng mắc. a, Về cách quy định tại Điều 163 BLDS 2005 là chưa thật sự đầy đủ. Theo quy định của điều luật này thì tài sản được định nghĩa theo kiểu liệt kê về các loại tài sản mà chưa đưa ra được phạm vi của nó. Điều này sẽ gây bất cập khi phát sinh tài sản mới trong khi đời sống kinh tế xã hội đang phát triển từng ngày, từng giờ. Bản thân tài sản là một khái niệm động, ngày càng có nhiều yếu tố đang được xem như là tài sản như: hồ sơ khách hàng, giọng hát ca sĩ, bào thai người, các sản phẩm của trí tuệ…Vì vậy nếu quy định theo cách liệt kê thì sẽ tạo sự hạn chế trong giao lưu dân sự khi phát sinh một tài sản mới trong xã hội (khi đó chưa có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh giao dịch dân sự với tài sản đó sẽ dẫn đến nhiều tranh chấp khó giải quyết.) Bên cạnh đó, quy định tại Điều 163 BLDS như đã tách biệt quyền sở hữu ra khỏi khái niệm tài sản và chỉ coi vật chất liệu là tài sản. b, Không những có quy định cụ thể về tiền. Tiền được quy định là một loại tài sản, thậm chí nó là tài sản có đặc điểm pháp lí khá đặc trưng nhưng thực tế cho thấy rằng trong BLDS lại không có quy định nào giải thích cụ thể về tiền dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lí của tiền. Hiện nay có nhiều tranh cãi xung quanh việc ngoại tệ có phải là tiền theo Điều 163 BLDS hay không? Về bản chất ngoại tệ và nội tệ đều là tiền nhưng trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ chỉ được lưu thông hạn chế, không đáp ứng được chức năng là công cụ thanh toán đa năng, chỉ có những chủ thể nhất định mới được phếp giao dịch đối với nó. Như vậy, nếu để ngoại tệ vào loại tài sản nào trong các loại tài sản của Điều 163? Đây chính là sự khó khăn trong việc quy định khái niệm tài sản một cách khép kín của điều luật. Nhưng từ đó cũng có thể rút ra một hướng hoàn thiện cho các nhà làm luật cần quy định tiền trong BLDS – tiền nội tệ. Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng các loại kim khí quý, đá quý như vàng, bạc, kim cương có giá trị tương ứng với tiền tại một thời điểm xác định và có thể đưa vào giao lưu thay thế cho tiền nên cũng có thể coi đó là tiền. Tuy nhiên, thực tế thì các loại kim khí quý, đá quý chỉ được coi là vật đặc biệt vì trong thực tế nó thường xuyên biến động theo thị trường và nó tồn tại dưới dạng là vật. c, Sự hạn chế trong những quy định về giấy tờ có giá. Điều khoản quy định về giấy tờ có giá trong BLDS quá đơn giản, không có sự giải thích cụ thể nào về giấy tờ có giá cả. Có nhiều loại giấy tờ có giá nhưng không phải loại nào cũng được coi là tài sản. BLDS chỉ quy định nó là một loại tài sản nhưng không đưa ra một giải thích nào dẫn đến sự mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khi giải thích khái niệm này. Như trong quyết định số 02/ 2005/ QĐ – NHNN ngày 4/1/2005 Về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước tại Điều 4: “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua” Tuy nhiên tại nghị định của Chính phủ số 163/ 06/ NĐCP thì giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự (Khoản 3, Điều 9). Sự chưa phù hợp với thực tế của một số quy định pháp luật về giấy tờ có giá. Như trong thực tế ngoài những loại giấy tờ có giá do ngân hàng thương mại phát hành, các công cụ chuyển nhượng do các doanh nghiệp phát hành,còn có nhiều giấy tờ khác có đầy đủ thuộc tính như giấy tờ có giá nhưng chưa có quy định cụ thể nên gây khó khăn khi áp dụng (khi tranh chấp về vận đơn đường biển xuất trình (vận đơn vô danh) hay tranh chấp sở hữu chứng khoán). Như vậy giữa các luật chuyên ngành về giấy tờ có giá lại có những cách hiểu không thống nhất, thiếu tính đồng bộ với nhau. d, Còn nhiều điều chưa phù hợp trong quy định về quyền tài sản. Trước hết, phải kể đến sự thiếu sót trong quy định tại Điều 181 BLDS 2005 về quyền tài sản khi nhà làm luật không quy định về các quyền tài sản không chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Đó là những quyền trị giá được bằng tiền nhưng do gắn với quan hệ nhân thân nên không thể chuyển giao được như quyền yêu cầu cấp dưỡng. Mặt khác, khái niệm quyền tài sản của Việt Nam được xây dựng là một loại tài sản đối lập với vật. Tức là một loại tài sản vô hình như vậy khi ta kết hợp cách phân loại giữa vật và quyền với cách phân loại giữa bất động sản sẽ không tạo ra khái niệm quyền tài sản mang tính chất bất động sản. Do vậy trong trường hợp này thì quyền tài sản sẽ là động sản. Điều này sẽ trở nên không phù hợp với quyền sử dụng đất (một loại quyền tài sản). Trong luật Việt Nam hiện hành quyền sử dụng đất về phương diện thực quyền tức là một phần đất và tính chất bất động sản của nó là rất rõ ràng, nhưng luật hiện hành lại không ghi nhận quyền sử dụng đất là bất động sản. Ngoài ra trong quan niệm về quyền tài sản của BLDS Việt Nam đã có khái niệm về quyền thực hiện trực tiếp trên vật (quyền trực tiếp đối với vật). Quyền trong luật Việt Nam là một mối quan hệ giữa chủ thể và một hoặc nhiều chủ thể khác mà trong đó một chủ thể được hưởng một lợi ích. Ví dụ trong trường hợp thế chấp, đối với luật Việt Nam thừa nhận rằng chủ sở hữu tài sản có quyền thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, luật Việt Nam lại không thực sự coi các quyền của chủ nợ, nhận thế chấp là quyền đối vơi vật. Khi đã xác định được quan niệm về quyền đối với vật ta sẽ dễ dàng xác định được rằng người cầm cố hoặc thế chấp tài sản vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản liên quan cả trong thời gian có hiệu lực của biện pháp bảo đảm. e, Cách hiểu không đúng về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi coi nó là một loại tài sản. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận chế độ sở hữu đối với đất đai của công dân. Những người có quyền sử dụng đất sẽ được cơ quan nhà nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi vay tiền ở các ngân hàng, người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến làm thủ tục thế chấp vay tiền. Từ thực tế này một số người đã quan niệm giấy này là tài sản vì việc thế chấp nó được nhận tài sản khác ở ngân hàng chính là tiền Việt Nam đồng. Có thể nhận thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một văn bản chứng quyền cho nên không thể coi nó là một tài sản và cũng không nên xem nó là loại giấy tờ có giá trong thanh toán trao đổi. Bên cạnh đó còn nhiều hạn chế như, việc quy định về các loại tài sản nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, điều này rất khó cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự có thể tìm hiểu và áp dụng trong đời sống, nên nhiều lúc dẫn đến những tranh chấp không đáng có. Hệ thống đăng ký tài sản ở Việt Nam theo pháp luật, cũng như trong thực tế đều trở nên rất phiền toái, làm tốn kém rất nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc của nhân dân. Hơn thế nũa, Bộ luật Dân sự Việt Nam đã phân vân giữa nhiều cách phân loại tài sản và đã không có một quan điểm nhất quán trong vấn đề này khiến cho các chủ thể cảm thấy lúng túng, không biết hiểu thế nào cho chính xác. Phương hướng hoàn thiện. a, Nên bổ sung hoàn thiện quy định của pháp luật về tài sản trong bộ luật dân sự. Đối với Điều 163 BLDS 2005 khi quy định về tài sản cần quy định mở rộng hơn. Bởi vì theo thời gian và sự phát triển của đời sống cả về mặt thể chất lẫn tinh thần thì phạm vi tài sản ngày càng được mở rộng. Số lượng những yếu tố được coi là tài sản mới ngày càng nhiều nên cần phải thiết lập điều luật theo hướng mở về phạm vi của tài sản để phù hợp với xu thế của đời sống xã hội. Trong Luật dân sự thì cần giải thích cụ thể hơn về vật, tiền, giấy tờ có giá để tạo tính đồng nhất giữa BLDS với các luật chuyên ngành. Đối với vật trong BLDS 2005 nhà làm luật nên bổ sung theo các quy định về khái niệm vật cũng như đưa ra cách giải thích cụ thể để làm rõ thêm bản chất pháp lí của nó. Cần xây dựng khái niệm về giấy tờ có giá theo hướng giấy tờ có giá là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự được hiểu là chứng chỉ xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xét trong mối quan hệ với các chủ thể khác, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Pháp luật cũng cần có những chế tìa phù hợp để giải quyết những tranh chấp, đồng bộ hóa các thể chế và chế định liên quan. Do vậy cũng cần giải thích cụ thể về giấy tờ có giá: chỉ có những giấy tờ có giá vô danh được tự do chuyển nhượng trên thị trường mới được coi là tài sản trong giao lưu dân sự. Đối với quyền tài sản cần có một chế định về quyền tài sản và mở rộng phạm vi khái niệm quyền tài sản đẻ phù hợp hơn với thực tiễn. b, Về vấn đề công nhận tài sản ảo. Tài sản ảo là một khái niệm rộng như tên miền internet, địa chie hộp thư điện tử, các loại tài khoản,…Và có những loại tài sản ảo rất phổ biến như tài sản ảo trong các trò chơi trực tuyến đó là các vật ảo như: ngựa, kiếm, ngọc,…Hiện nay, các trò chơi trực tuyến đang thu hút được đông đảo người chơi, vì vậy đây là một loại tài sản đang phát triển khá mạnh mẽ ở nước ta. Đã có rất nhiều khái niệm về tài sản ảo, theo nghĩa hẹp tài sản ảo là các đối tượng ảo trong thế giới ảo; theo nghĩa rộng tài sản ảo được hiểu là những tài nguyên mạng máy tính được xây dựng bằng giá trị bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Về bản chất của tài sản ảo chúng ta có thể thấy được nó đối lập với tài sản vật chất. Chúng ta không thể cảm nhận nó bằng giác quan và nó tồn tại trong thế giới ảo bằng một đoạn mã. Chính vì vậy nó khó có thể được công nhận về mặt pháp lí. Vì thế khi xảy ra các tranh chấp pháp lí thì lại không có một văn bản luật nào có thể áp dụng. Có nhiều ý kiến trái chiều trong việc có nên bảo hộ hay không bảo hộ tài sản ảo. Có ý kiến cho rằng: có một thị trường hàng ảo được thiết lập bên cạnh bên cạnh thị trường chính thống và người ta dùng tiền hiện hành để buôn bán đồ vật ảo. Như vậy sẽ có một số vấn đề nảy sinh về tranh chấp như sự cố kĩ thuật gây thất thoát tài sản ảo thì sẽ phải giải quyết thế nào. Cũng có ý kiến cho rằng: do sự phức tạp về công nghệ nên việc giám sát, phân xử tranh chấp liên quan đến tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến còn khó khăn, cần có những văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ các điều kiện với mua bán, kinh doanh, chuyển nhượng sản phẩm ảo trò chơi trực tuyến. Theo ông Trần hữu Linh, Phó cục trưởng cục Thương mại điện tử và công nghệ thì cần phải nhìn nhận tài sản ảo là một loại tài sản. Như vậy việc bảo hộ tài sản ảo hiện nay sẽ đem lại một số lợi ích nhất định: có thể giải quyết các tranh chấp phát sinh từ tài sản ảo, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên liên quan; hơn nữa việc quản lí tài sản ảo còn có thể đem lại một khoản đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước từ các khoản thuế mà các doanh nghiệp quản lí tài sản ảo đóng góp. Bên cạnh đó cũng có những mặt hạn chế: trong khi hoạt động quản lí tài sản ảo ở các quốc gia trên thế giới cũng diễn ra chưa nhiều nên kinh nghiệm cho chúng là còn ít. Và nếu coi các giao dịch trong trò chơi trực tuyến là các giao dịch dân sự thì các giao dịc này phải đáp ứng điều kiện của BLDS trong khi đó chắc chắn số người chơi dưới 18 tuổi sẽ chiếm một phần không nhỏ trong các giao dịch này. Từ những nhận định trên về tài sản ảo, có thể tìn ra một số giải pháp như: Xác lập tài sản ảo là một quyền tài sản và giải thích theo Điều 181 BLDS 2005 quy định về quyền tài sản. Trước hết tài sản ảo có thể được trị giá bằng tiền. Việc mua bán tài sản ảo đang diễn ra một cách sôi động tạo nên thị trường rộng lớn về loại tài sản này. Do đó dễ dàng thấy rằng tài sản ảo có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Để tiếp cận tài sản ảo theo hướng quyền tài sản cần quy định khung pháp lí chặt chẽ về vấn đề này. Bởi hiện nay người chơi không có quyền sở hữu hoàn chỉnh. Quyền chiếm hữu không thuộc về người chơi. Quyền định đoạt cũng không có vì quyết định thời hạn cung cấp phần mềm trò chơi thuộc nhà sản xuất và nhà cung cấp. Người chơi chỉ có quyền sử dụng đối với trò chơi. Vì vậy cần phải quy định những ràng buộc nhất định giữa người chơi với nhà cung cấp và nhà sản xuất. Bên cạnh đó quyền định đoạt đối với tài sản ảo cũng là một vấn đề cần quan tâm để bảo vệ quyền lợi ích cho người sở hữu loại tài sản này. Theo bà Trần Thị Thơ (Bộ tư pháp) thì bên cạnh nhà nước với những công cụ pháp luật còn có các thiết chế xã hội khác (quy chế, nội quy của các tổ chức xã hội,các hiệp hội nghề nghiệp…) cũng không kém phần quan trọng trong quản lí xã hội, điều chỉnh hành vi con người. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến hãy chủ động xây dựng quy chế bảo vệ người chơi trong khả năng có thể. Chúng ta cũng cần giáo dục tuyên truyền một cách rộng rãi ý thức tôn trọng pháp luật cho người dân, giúp họ hiểu hơn về các quy phạm pháp luật liên quan đến giao dịch dân sự của mình. Việc tuyên truyền pháp luật cần thực hiện thông qua nhiều hình thức như: các tiểu phẩm pháp luật, trên loa đài, các kênh thông tin điện tử… Kết thúc vấn đề. Những quy định về tài sản đã, đang và sẽ là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi như : làm thế nào để định nghĩa tài sản một cách đầy đủ nhất, sao cho kịp thời với sự phát triển của xã hội? Cách phân loại tài sản thế nào cho chính xác, phù hợp với thực tiễn? Đây còn là những câu hỏi làm đau đầu những nhà làm luật nói chung và những nhà soạn thảo Bộ luật dân sự Việt Nam nói riêng. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự VIệt Nam, Tập I, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009. 2.Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam , Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009. 3.Bộ luật dân sự năm 2005 4. Tạp chí luật học số 1/2009, Thạc sĩ Nguyễn Minh Oanh, Các loại tài sản trong luật dân sự Việt Nam. thongtinphapluatdansu.wordpress.vn romalaw.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập lớn dân sự 1.doc
Tài liệu liên quan