Nông nghiệp - Cây đậu tương

Bệnh gỉ sắt đậu tương: - Bệnh do nấm Phakopsora sojae Saw gây ra. Bệnh gây hại nặng nhất trên lá, có thể hại trên thân cành và quả. Lúc ban đầu ở mặt dưới lá, vết bệnh hình thành dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng trong. Sau đó, vết bệnh nổi lên trên mặt lá có màu vàng nâu, biểu bì lá nát để lộ bào tử có màu vàng (màu gạch non). Cây bị bệnh khiến lá sớm bị vàng, lượng diệp lục giảm nhanh chóng, cường độ quang hợp và sự trao đổi chất trong cây giảm, năng suất và phẩm chất đậu tương bị giảm sút nghiêm trọng. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Các vụ trồng đều bị bệnh nhưng bệnh phát sinh và phá hại nặng nhất trong vụ đậu tương xuân. Các vụ đông, hè thu bệnh nhẹ hơn. Ở vụ xuân khi bệnh nặng chỉ còn thu hoạch từ 0,8-2,5 tạ/ha, trong khi bình thường năng suất đạt 5-8 tạ/ha. Vụ đông thời tiết lạnh, vụ hè và hè thu nhiệt độ cao nấm khó hình thành bào từ và khó thực hiện nảy mầm, xâm nhiễm vì vậy bệnh hại nhẹ hơn. Cao điểm của bệnh tập trung vào tháng 3, tháng 4 khi nhiệt độ đạt trên 18-20oC và cây có từ khi 5 lá kép đến khi thu hoạch quả. Bệnh có thể kéo dài tới tháng 5 làm lá cây rụng hàng loạt, ruộng đậu tương vàng rực màu lá bệnh. - Trong giai đoạn sinh trưởng từ cây mọc tới chớm hoa ít bị bệnh Từ ra hoa đến thu hoạch quả là lúc bệnh phát triển nhanh nhất trên lá bánh tẻ và lá già. Các giống đậu tương trồng ở nước ta đều bị nhiễm bệnh nhưng mức độ khác nhau. Các giống ít bị nhiễm hoặc nhiễm muộn hơn hiện nay là: M103, DT93, DT84, AK03, AK05, VX93,. Giống bị nhiễm nặng nhất là V74. - Biện pháp phòng trừ: Chọn giống chống chịu bệnh và sản xuất giống sạch bệnh; luân canh với các cây thuộc họ hòa thảo; xử lý giống bằng Bayphidan 10-15 g. a.i/tạ hạt giống hoặc 200 g/tạ hạt. Có thể phun thuốc hạn chế bệnh bằng các loại thuốc trừ gỉ sắt, đặc biệt như Baycor 25WP 0,1% (0,15-0,25 kg a.i/ha), Bayleton 25EC (25WP) 120-250 g/ha, .

pdf15 trang | Chia sẻ: nhung.12 | Ngày: 14/03/2018 | Lượt xem: 29 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nông nghiệp - Cây đậu tương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ởng tốt, đất chua cần phải bón vôi để cải tạo. 7/18/15 8 Với một số loại đất ở Việt Nam: - Vùng đất bạc màu: Việt Yên, Hiệp Hòa, Sóc Sơn,.... đất nhẹ, tỷ lệ cát mịn nhiều hơn cát thô, đất chua, nghèo dinh dưỡng, năng suất không cao nếu không bón đầy đủ phân hữu cơ, lân và vôi. - Vùng đất cát ven biển: Hải Hậu, Diễn Châu,.... đất nhẹ, tỷ lệ cát thô nhiều hơn cát mịn, màu sáng, không chua, dinh dưỡng cao hơn nên có thể trồng đậu tương với năng suất khá - Vùng đất phù sa ven sông: dinh dưỡng khá, không chua, thành phần cơ giới nhẹ, trồng đậu tương đạt năng suất rất cao. - Vùng đất đồi thấp: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên. Đất do bị rửa trôi, khô hạn, nếu trồng phải bón thêm vôi hoặc lân giúp làm giảm độ chua. Nếu cải tạo tốt, có thể trồng đậu tương với năng suất khá. - Vùng đất bazan như ở các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên là loại đất rất phù hợp cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển. Trồng đậu tương trên đất này năng suất sẽ rất cao, tuy nhiên thường những vùng đất này đã được quy hoạch trồng các loại cây công nghiệp thế mạnh xuất khẩu khác như: cao su, cà phê,.... nên phần lớn các diện tích trồng đậu tương chủ yếu là để tận dụng đất. Chương 3. Kỹ thuật trồng trọt 1. Chế độ trồng trọt a) Chế độ luân canh - Vì sao phải luân canh tăng vụ trong sản xuất đậu tương? - Yêu cầu của luân canh: + Thời vụ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển + Hạn chế sự phát triển của dịch hại, cỏ dại; + Cây trồng có đặc điểm sinh trưởng và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau - Các công thức luân canh: + Các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc: Ngô xuân - Đậu tương hè - Bỏ hóa (cày ải qua đông) Đậu tương gieo đầu mùa mưa, thu hoạch tháng 10. Sử dụng giống dài ngày: Xanh lục khu, Vàng Lạng Sơn, Vàng Cao Bằng... Đậu tương xuân - Lúa mùa - Bỏ hóa (cày ải qua đông) Sử dụng giống chịu lạnh, khai thác diện tích bỏ hóa vụ xuân: AK06, DN42, D140... Một số công thức luân canh khác cũng được áp dụng ở vùng này: Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu tương đông Lạc xuân – Đậu tương hè – Cây vụ đông + Vùng Trung du Bắc bộ: Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông Áp dụng trên đất vàn cao, cấy lúa không chủ động được nước. Chọn các giống đậu tương chịu được rét như DN42, D140... Lúa xuân - Đậu tương hè sớm – Lúa mùa muộn Chọn giống ngắn ngày, chịu nóng như: Xanh lơ Hà Bắc, ĐT93, ĐT12... Lạc xuân - Đậu tương hè trung - Ngô đông Áp dụng trên đất chuyên trồng màu, sử dụng các giống trung ngày năng suất cao M103, DT84, DT96,... + Vùng Đồng bằng Bắc bộ và khu 4 cũ: Lúa xuân - Lúa mùa sớm - Đậu tương đông Trên thực tế, ở nhiều địa phương như : Hà Tây (cũ), Bắc Ninh,... chọn các giống có khả năng chịu rét như : DN42, DT2000, D140, AK06... Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông Áp dụng trên chân đất cao, diện tích áp dụng thường không lớn. Đậu tương xuân - Ngập nước - Cây vụ đông Áp dụng trên đất bãi ven sông thường bị ngập nước trong mùa mưa. b) Trồng xen, trồng gối -Tác dụng của trồng xen? - Cây trồng xen Tại Indonesia: dừa, ngô, mía; Philippin: ngô, mía; Thái Lan: bông. Ở Trung Quốc: mía, ngô, bông,.... Còn ở Việt Nam, tùy theo cơ cấu của mỗi vùng mà hình thức trồng xen có khác nhau: + Cây nghiệp ngắn ngày như mía: do mía là cây hàng rộng và có thời kỳ đầu cây chưa khép tán, trồng xen 1 hàng đậu tương giữa hai hàng mía cách nhau 40-45cm. + Ngô đông, trồng hai hàng ngô xen với 4-6 hàng đậu tương. + Đậu tương hè với dâu tằm giai đoạn đốn hè. + Với cây công nghiệp lâu năm: chè, cà phê, cao su hoặc cây ăn quả: cam, quýt, mận,... thời kỳ kiến thiết cơ bản, khi cây chưa khép tán. - Tác dụng của trồng gối? - Một số công thức trồng gối có đậu tương: Lúa xuân - Đậu tương hè - Ngô đông (gối thời kỳ đậu tương CSL) Ngô xuân – Đậu tương hè (gối thời kỳ ngô thâm râu) Lạc xuân – Đậu tương hè – Ngô đông (gối thời kỳ đậu tương CSL) 2. Giống đậu tương * Các giống thích hợp cho vụ Xuân: + VX92: TGST 90 - 100 ngày. cây cao trung bình, ít phân cành, năng suất trung bình 13 - 16 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 20 tạ/ha. Giống có khả năng chịu rét ở giai đoạn đầu, thích ứng rộng ở vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, miền núi phía Bắc có thể gieo vào vụ Xuân muộn. + TL57: TGST 100 - 110 ngày, cao cây trung bình, cứng cây, có khả năng chống đổ, năng suất từ 15 - 20 tạ/ha. Thích hợp nhất với vụ xuân vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, giống cũng có khả năng trồng trong vụ đông. + DN42: TGST 90 - 95 ngày, tán gọn, cứng cây, phân cành trung bình, năng suất từ 14 - 16tạ/ha. Thích hợp trên đất thịt nhẹ, đất đồi thấp, đất bãi vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. + AK06: TGST 95 - 98 ngày, dạng cây đứng, chiều cao trung bình, phân cành vừa phải, năng suất từ 17-25 tạ/ha, chống chịu bệnh gỉ sắt khá, chịu hạn, chịu nóng và lạnh ở mức khá. Giống có thể trồng được cả ở vụ hè và vụ đông. + ĐT2000: TGST 100 - 110 ngày, chiều cao cây trung bình, thân to và cứng, ít đổ, phân cành nhiều, năng suất từ 20-3- tạ/ha Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 40 tạ/ha, kháng bệnh gỉ sắt và bệnh phấn trắng ở mức cao, chịu thâm canh, chịu hạn kém. Giống có thể gieo trồng trên nhiều loại đất, nhưng thích hợp nhất là đất cát pha, thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, dễ tưới tiêu. * Các giống thích hợp cho vụ hè: + M103: TGST 80-90 ngày, chiều cao trung bình, sinh trưởng khỏe, năng suất từ 17 - 20 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 30 tạ/ha. Giống có khả năng chịu nóng khá, thích hợp với vụ hè đồng bằng Bắc Bộ, cũng có thể gieo trong vụ xuana muộn và thu đông. + DT84: TGST 85-90 ngày. Hàm lượng protein, lipid và hàm lượng đường bột cao, năng suất từ 15 – 30 tạ/ha. Giống có khả năng kháng tốt với bệnh đốm nâu vi khuẩn, chống chịu khá với bệnh gỉ sắt, sương mai, virus khảm, chịu nóng tốt, chịu lạnh, hạn, úng khá. Thích ứng rộng với tất cả các vùng sinh thái trong cả nước. + ĐT93: TGST 75-85 ngày, chiều cao cây trung bình, cứng cây. Năng suất trung bình 12-14 tạ/ha. Giống thích hợp với vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trên đất thịt nhẹ, đất cát pha bạc màu. + ĐT12: TGST vụ hè 71 - 80 ngày, rất thích hợp trong vụ Hè giữa 2 vụ lúa, thấp cây, phân cành trung bình, năng suất từ 14 - 20 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh có thể đạt 23 tạ/ha. Giống có khả năng chống đổ tốt, nhiễm bệnh ở mức nhẹ, chịu úng khá, đặc biệt tốt nhất trong vụ hè, có thể trồng xuân muộn và vụ thu đông. 7/18/15 9 * Các giống thích hợp cho vụ (Thu) Đông: + VX93: TGST 90-95 ngày, cao cây trung bình, ít phân cành,, năng suất đạt từ 12 - 15 tạ/ha. Trong điều kiện thâm canh đạt 25 tạ/ha. Đây là giống có khả năng chịu rét tốt, chịu hạn, úng trung bình, thích hợp ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ + AK05: TGST 98-105, cao cây trung bình,, năng suất đạt từ 16 - 15 tạ/ha. Khả năng chống chịu sâu bệnh trung bình, chịu hạn và chịu rét khá. + DT95: TGST 90-98 ngày, cây cao trung bình, có phản ứng với độ dài chiếu sáng, chống chịu với các bệnh gỉ sắt, đốm vi khuẩn, lở cổ rễ trung bình, chống đổ trung bình có khả năng chịu lạnh, năng suất biến động từ 22-27 tạ/ha. Giống yêu cầu thâm canh cao, thích hợp ở các vùng sinh thái phía Bắc. + DT96: TGST 90-95 ngày, cây cao trung bình, kháng tốt với các bệnh đốm nâu vi khuẩn, gỉ sắt, sương mai, virus, chịu hạn, chịu lạnh và chịu nóng tốt, năng suất biến động từ 18 - 22 tạ/ha. Giống thích hợp với tất cả các loại đất, các vùng sinh thái có trồng đậu tương, đặc biệt các vùng núi cao. 3. Thời vụ gieo trồng đậu tương a) Cơ sở khoa học Xác định thời vụ trồng hợp lý cần phải căn cứ vào các cơ sở sau: -Yêu cầu sinh thái của đậu tương: Đậu tương cần nhiệt độ để sinh trưởng phát triển thích hợp là 22-28oC, cần đầy đủ ánh sáng và ẩm độ vào thời kỳ ra hoa làm quả. - Đặc điểm của giống đậu tương đem gieo trồng. Xem giống đó có khả năng chịu lạnh hay có khả năng chịu nóng. Giống chịu lạnh để trồng vào vụ xuân và vụ đông, giống chịu nóng có thể trồng vào vụ hè. Ngoài ra cần căn cứ vào thời gian sinh trưởng của giống để đưa ra thời vụ gieo trồng thích hợp ví dụ: giống chín muộn đưa vào vụ hè vùng núi, giống chín sớm đưa vào vụ đậu tương hè sớm ở vùng trung du, giống chín trung bình đưa vào vụ xuân hoặc vụ đông. - Cơ cấu cây trồng trong vùng xem đó là đất hai lúa hay đất chuyên màu hay trồng trên đất bãi. Đất hai vụ lúa thường trồng đậu tương vụ đông, đất chuyên màu có thể làm ba vụ đậu tương trong các công thức cụ thể, đất bãi ven sông trồng đậu tương xuân. b) Các thời vụ gieo trồng  Vụ xuân - Chủ yếu trên các vùng đất chuyên màu hay đất bãi ven sông. - Gieo đầu tháng 2 đến 10/3 dương lịch, có thể sớm hơn từ 15/1 (tuy nhiên thường hay gặp rét) và thu hoạch vào tháng 5, tháng 6. - Nhìn chung thời vụ này tương đối thuận lợi, cây sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, phù hợp với yêu cầu của cây. - Cần chú ý lúc gieo hạt có thể có các đợt gió mùa Đông Bắc gây ra nhiệt độ thấp dưới 15oC, thậm trí xuống dưới 10oC, cùng với thời tiết khô hanh, thiếu ẩm đã ảnh hưởng đến sự mọc và sinh trưởng của cây con. Cần chọn giống đậu tương có khả năng chịu lạnh và có biện pháp tưới bổ sung tránh những ngày rét đậm không gieo. Cần bón lót đầy đủ phân lân và tưới nước bổ sung.  Vụ xuân cũng là vụ có độ ẩm cao, mây mù nhiều tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh gây hại. Nếu không phòng trừ tốt sẽ làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất. Do đó công tác phòng trừ sâu bệnh cần tiến hành thường xuyên ngay từ đầu vụ. Thêm nữa vào thời kỳ chín, có thể có những đợt mưa dài gây thối quả hạt hoặc làm cho hạt nảy mầm ngoài đồng ruộng., cần thu hoạch kịp thời hoặc phòng chống úng, chống đổ cho đậu tương. Lưu ý vùng khu 4 để tránh gió Lào cần tranh thủ gieo sớm vào tháng 1 để khi đậu tương ra hoa tránh được gió khô nóng.  Vụ hè - Vụ hè chính vụ: + Chủ yếu tại miền núi phía Bắc: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang.... + Sử dụng giống có thời gian sinh trưởng tương đối dài và ưa nóng như: Vàng Lạng Sơn, Xanh Lục Khu, Vàng Cao Bằng,... + Gieo vào đầu mùa mưa (tháng 5) thu hoạch cuối mùa mưa (tháng10). - Vụ hè trung: + Áp dụng trên đất luân canh chuyên màu vùng ven trung du, trong công thức: Lạc xuân – Đậu tương hè trung – Ngô đông. + Cây sinh trưởng hoàn toàn trong mùa mưa (T6-T9), nhiệt độ cao, ánh sáng ngày dài, cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao tuy nhiên không ổn định, có thể mất trắng nếu gặp mưa bão. → Chọn đất cao, chủ động tưới tiêu, làm luống cao, hẹp. Chọn giống đậu tương chịu nhiệt độ cao, ưa ẩm như: DT84, D140, AK06, DT96,... Phòng trừ đốm lá vi khuẩn, xoăn lá virus ngay từ đầu.  Vụ đông - Vụ đậu tương tăng vụ vùng đồng bằng và một số tỉnh ở Trung du, nằm trong công thức: Lúa xuân – Lúa mùa sớm – Đậu tương đông. + Ưu điểm: không ảnh hưởng tới diện tích lúa, ít sâu bệnh, vốn đầu từ cho giống không nhiều có thể cạnh tranh được với ngô và khoai tây. + Nhược điểm: nhiệt độ, ẩm độ, cường độ ánh sáng cũng giảm dần. Cây ra hoa sớm, hoa ít, quả ít và năng suất khá thấp. Thời kỳ chín thiếu nắng do đó khó khăn trong khâu phơi hạt giống. - Thời vụ: 20/9 đến 15/10, tuyệt đối không gieo muộn hơn. - Trong vụ đông, để tranh thủ thời vụ người dân nên áp dụng phương thức làm đất tối thiểu, không làm đất hoặc tiến hành làm bầu đậu tương. Sau khi gieo có thể tiến hành che phủ để giữ ẩm cho đất (trên những chân ruộng dễ mất ẩm) và hạn chế cỏ dại. Tùy từng địa phương, tùy từng điều kiện cụ thể có thể sử dụng các loại vật liệu che phủ như: nilong, thân xác cây ngô và cây phân xanh, che phủ bằng rơm rạ. - Giống đậu tương sử dụng cho vụ này là những giống có khả năng chịu rét tốt như: DN42, VX93, D140,... Cần chú ý phòng trừ giòi đục thân sớm khi cây mới mọc. 4. Chọn đất và làm đất - Đất có thành phần cơ giới nhẹ (đất cát pha, thịt nhẹ), pH thích hợp từ 5,5-6,5, đất chủ động tưới tiêu. Đất có pH <5,5 cần bón thêm vôi để cải tạo độ chua, đất mới trồng có thể bón bổ sung phân vi khuẩn. - Đất được cày bừa kỹ, tơi nhỏ đảm bảo độ ẩm, độ tơi xốp, sạch cỏ dại. - Cầy đất lúc đất có độ ẩm vừa phải, tránh cày lúc đất còn quá ướt, đất quá khô cần chờ đến khi đất đủ ẩm thiết mới tiến hành cày đất. - Lên luống cao 15-20cm, rộng 1,0-1,2m, trồng 3 hàng, rãnh:30-40cm S rộng: luống rộng 1,5m - trồng 4 hàng dọc. S hẹp: luống rộng 0,75 m Đất bãi có thể trồng thành từng băng rộng 2,5-3m thậm chí nếu đất bằng phẳng, thoát nước tốt có thể chỉ cần rạch hàng mà không cần lên luống. - Đất chuyên màu, thâm canh cao nhất thiết phải tiến hành làm đất. - Đối với những vùng luân canh với cây trồng có thể áp dụng phương thức làm đất tối thiểu hoặc không làm đất. 7/18/15 10 Làm đất tối thiểu - Trước khi gặt lúa 4-5 ngày cần tháo kiệt nước ruộng. Gặt lúa xong đất còn đang ẩm (độ ẩm 75-80%) tiến hành lên luống và gieo ngay. - Đất quá khô cần tát thêm nước vào ruộng, ngâm qua đêm cho đất ẩm để hôm sau làm đất gieo ngay. - Chú ý: cần thu hoạch lúa sát đất, tránh để gốc rạ cao quá sẽ che lấp ánh sáng khi cây còn non. - Tiến hành chia luống rộng từ 1,2-1,5m (khoảng 5-7 hàng lúa). Sau đó tạo rãnh thoát nước giữa các luống và xung quanh ruộng. Vét hết đất ở rãnh lên trên mặt luống tạo rãnh tưới, tiêu, dùng tay nhấn úp gốc rạ và san phẳng mặt luống. - Dùng thước gỗ hoặc mép đòn gánh thẳng ấn rạch hàng ngang trên mặt luống cách nhau 30-35cm, sâu 2-3cm để gieo hạt (lượng hạt giống khoảng 2,5-3,0 kg/sào Bắc Bộ). - Trường hợp đất đã cứng dùng cuốc rạch hàng để gieo hạt, khoảng cách hạt cách hạt 4-5cm (gieo 1 hạt trên hốc), khoảng cách 10-12cm (gieo 2 hạt trên hốc). - Sau khi gieo xong dùng đất bột trộn với phân chuồng hoai, tro bếp, trấu để rắc phủ lên hạt. Không làm đất - Đây là biện pháp đã được ứng dụng đối với những vùng ruộng vẫn còn nước và ruộng đã khô nhưng không đủ thời gian làm đất. - Đậu tương có thể được gieo thẳng xuống ruộng lúc đất còn ẩm (độ ẩm khoảng 70-80% độ ẩm đồng ruộng) - Tiến hành che phủ hạt bằng cách dùng liềm, dao có cán dài đi cắt, phạt gốc rạ để lấp kín hạt, cũng có thể dùng máy Bông Sen lắp bánh lồng và bàn trượt chống lún chạy một lượt để đè gốc rạ lấp kín hạt đậu. - Những vùng đất thoát nước độ ẩm đất dưới 70% có thể tiến hành phương pháp chọc lỗ bỏ hạt hoặc thả trực tiếp hạt vào gốc rạ tuy nhiên cần tiến hành tạo rãnh thoát nước sao cho khoảng cách luống từ 1,2-1,5m sau đó mới tiến hành gieo hạt trực tiếp vào gốc rạ, mỗi gốc rạ gieo khoảng 2-3 hạt và dùng đất bột trộn với phân chuồng hoai mục hoặc tro bếp để phủ lấp hạt. - Mật độ khoảng cách bỏ hạt cần tùy theo giống, thời vụ và trình độ thâm canh. Kỹ thuật làm mạ đậu tương - Làm mạ đậu tương vào thời kỳ lúa xuân đỏ đuôi chuẩn bị thu hoạch. - Tiến hành làm mạ trên nền cứng như trên sân xi măng hay bờ ruộng sau khi đã dọn sạch cỏ dại, gần nguồn nước, để tiện vận chuyển. - Vét bùn rồi trải trên nền đã chuẩn bị sẵn, độ dày lớp bùn khoảng 1- 2cm, có thể trộn bùn với phân chuồng hoai mục theo tỷ lệ 3/1 sau đó đợi bùn se lại rồi kẻ ô vuông có cạnh 4-5cm, trong một ô gieo từ 3-5 hạt đậu tương. - Đợi khi gặt lúa xuân xong bứng các bầu này mang gieo trồng. Cách làm này có thể tranh thủ thời gian sinh trưởng cho đậu tương khoảng 7-9 ngày, không được để lâu hơn nữa do bộ rễ phát triển mạnh, dễ bị đứt khi bứng trồng. 5. Mật độ, khoảng cách a) Cơ sở xác định mật độ, khoảng cách trồng Xác định mật độ, khoảng cách trồng hợp lý tạo mối tương quan tốt giữa các cá thể và cho quần thể năng suất cao nhất. - Đặc điểm của giống đậu tương: Những giống có thời gian sinh trưởng dài, phân cành nhiều, góc độ phân cành rộng thì trồng thưa. Ngược lại giống có thời gian sinh trưởng ngắn, ít cành, góc độ cành và lá hẹp nên trồng dầy. - Thời vụ trồng: Vụ nào có điều kiện khí hậu nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng thích hợp với yêu cầu sinh thái của cây đậu tương thì trồng thưa và ngược lại. Vụ xuân và vụ hè cây sinh trưởng mạnh, chiều cao lớn, phân cành nhiều, hoa quả cũng nhiều hơn vụ đông nên trồng thưa hơn vụ đông. Nếu gieo dày năng suất sẽ giảm do chỉ số diện tích lá cao, có sự che khuất giữa các tầng lá, hiệu suất quang hợp giảm, hạn chế tích lũy vật chất, thân vống lốp, hoa quả ít. Vụ đông nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng giảm dần, cây sinh trưởng yếu nên gieo dày hơn. - Đặc điểm đất đai: Đất giàu dinh dưỡng trồng thưa hơn đất nghèo dinh dưỡng, đất chủ động độ ẩm trồng thưa hơn đất khô hạn; đất thịt nhẹ phù sa ven sông trồng thưa hơn đất bạc màu. - Trình độ thâm canh: Nơi có điều kiện thâm canh: đủ phân bón, tưới tiêu chủ động, phòng trừ sâu bệnh tốt thì trồng thưa; canh tác thủ công trồng dày hơn canh tác bằng cơ giới. b) Mật độ, khoảng cách cụ thể - Vụ xuân: + Giống chín sớm: 50 -55 cây/m2, khoảng cách 30-35 cm x 5-6 cm (1 cây/hốc); 30-35 cm x 10-12 cm (2 cây/hốc). + Giống chín trung bình: 40-45 cây/m2, khoảng cách 35-40 cm x 6-7 cm (1 cây/hốc); 35-40 cm x12-15 cm (2 cây/hốc) - Vụ hè: + Giống chín muộn: 25 cây/m2, khoảng cách 40 cm x 10 cm (1 cây/hốc) hoặc 40 cm x 20 cm (2 cây/hốc). + Giống chín sớm: 40-45 cây/m2, với khoảng cách 30-35 cm x 5-6 cm (1 cây/hốc) hoặc 30-35 cm x 10-12 cm (2 cây/hốc). + Giống chín trung bình: 35-40 cây/m2, khoảng cách 35-40 cm x 8-10 cm (1 cây/hốc) hoặc 35-40 cm x 16-20 cm (2 cây/hốc). - Vụ đông: + Giống chín sớm: 55-60 cây/m2 + Giống chín trung bình: 45-50 cây/m2 Nhìn chung: + Giống chín muộn: - 5 cây, chín sớm: +5 cây + Vụ đông: + 5 cây, vụ hè: - 5 cây + Giống phân cành khỏe: - 5 cây, phân cành thưa: +5 cây 6. Chuẩn bị hạt giống và gieo hạt đậu tương a) Lượng hạt giống: - Trung bình cần 1,8 – 2,2 kg/sào BB (≈ 50-60 kg/ha), có thể tăng thêm 5-6 kg /ha với giống hạt lớn, với giống hạt nhỏ có thể ít hơn. - Tính lượng hạt cần tính đến: tỷ lệ nảy mầm, tình hình sâu bệnh hại nhằm tính toán lượng hạt dự trữ để dặm kịp thời. - Sử dụng giống có tỷ lệ nảy mầm cao, đồng đều không có mầm bệnh. Hạt giống đảm bảo chất lượng cần có tỷ lệ nảy mầm lớn hơn 85% - Không nên sử dụng hạt có thời gian bảo quản quá lâu, tối đa 3 tháng. - Hạt giống sau khi thu hoạch có thể gieo ngay, tỷ lệ nảy mầm rất cao. Hạt giống có thời gian bảo quản quá lâu cần tiến hành ngâm ủ sau - Trong trường hợp hạt giống bị nhiễm nấm bệnh có thể tiến hành một trong các biện pháp sau đây để khử mầm bệnh trên hạt giống: + Ngâm nước ấm (3 sôi + 2 lạnh, nhiệt độ: 50-52oC) trong 15 phút + Ngâm hạt trong nước muối 5% trong vòng 15 phút. + Sử dụng các loại thuốc trừ nấm như Zineb hoặc Mancozeb với liều lượng 100g/10kg hạt, trộn đều với hạt giống trước khi gieo 7/18/15 11 b) Gieo hạt giống: - Sau khi làm đất, lên luống xong đất còn ẩm cần tiến hành gieo ngay. - Rạch hàng, độ sâu 3-5cm, bón lót đầy đủ, lấp đất che kín phân rồi tiến hành gieo hạt. - Gieo 1-2 hạt/hốc, gieo xong lấp một lớp đất mỏng trên bề mặt cho kín hạt. Độ sâu lấp hạt có thể thay đổi tùy theo thời vụ: - Với phương thức làm đất tối thiểu có thể tiến hành gieo vãi hoặc gieo hạt trực tiếp vào gốc rạ như đã giới thiệu ở trên. - Gieo lúc trời ấm áp, nhiệt độ 18-30oC. Nếu trời rét cần gieo sâu và lấp đất kỹ - Không gieo khi nhiệt độ dưới 10oC, có sương muối hoặc khi trời nóng, độ ẩm không khí thấp. - Hạt giống đã ngâm ủ khi gieo đủ ẩm, độ ẩm cao quá gây thối mầm, độ ẩm quá thấp đất sẽ hút nước từ hạt giống sẽ bị thui mầm. - Bón lót đầy đủ đặc biệt phân chuồng và phân lân nếu thời tiết lạnh, 7. Kỹ thuật bón phân Để đạt được 1 tấn hạt đậu tương cùng với thân lá, cây lấy từ đất: 81kg N, 17kg P2O5, 35kg K2O, 8kg MgO, 24kg CaO, 3kg S, 366g Fe, 90g Mn, 6g Zn, 25g Cu, 39g B, 7g Mo, a) Dinh dưỡng đạm: - Cây hút đạm tăng dần và nhiều nhất TK hoa rộ - quả mẩy - Thiếu đạm lá xanh vàng, dễ rụng, phiến lá nhỏ, cây còi cọc. - Thời kỳ ra hoa tạo quả, thiếu đạm tỷ lệ đậu hoa, đậu quả giảm nhiều, hạt lép, năng suất hạt giảm thấp. - Cây có khả năng tự tổng hợp đạm: Bình quân 40-50 kg N/ha, đóng góp 50-75% nhu cầu. Đất trồng đậu tương lâu năm 90-95%, đất mới trồng đậu tương:15-20% Các nguồn dinh dưỡng đạm của đậu tương: + Đạm sinh học từ nốt sần: NH4+ + Từ đất dưới dạng NO3-, → Nguồn đạm từ phân bón: bón vào đất hoặc phân bón lá - Hiệu suất sử dụng đạm: 4-6 kg đậu tương/1 kg N * Phân vi khuẩn cố định đạm (Nitragin): - Có hiệu quả với đất bạc màu, đất chua, đất chưa trồng đậu tương bao giờ, đất cấy lúa ngập nước nay trồng đậu tương để cải tạo. Xử lý phân vi khuẩn trên đất tốt, giàu đạm, đất trồng đậu tương nhiều vụ hiệu quả kém hoặc không mang lại hiệu quả. - Một lượng vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum sẽ được nhiễm vào hạt giống trước khi đem gieo bằng cách trộn chế phẩm vi sinh với hạt giống trước khi gieo hoặc tưới phủ sớm khi cây mọc. - Hoặc trộn đều chế phẩm với đất nhỏ tơi, sau đó đem rắc đều vào luống trước khi gieo hạt. - Có thể đem chế phẩm ủ hoặc trộn với phân chuồng hoai, sau đó bón đều vào luống rồi gieo hạt - Cũng có thể hòa chế phẩm vào nước sạch rồi tưới trực tiếp vào cây hay vào đất (thường gọi là phương pháp tưới phủ sớm). - Ngoài Nitragin chế phẩm vi sinh vật cố định đạm còn có nhiều tên gọi khác: Ridafo, Rhizobin, Rizolu, Azotobacterin, Flavobacterin, - Xử lý phân vi khuẩn khi đất đủ ẩm, tơi nhỏ, pH gần trung tính, đủ lân. Điều kiện trời nóng cần tăng liều lượng phân bón lên gấp 2 đến 3 lần so với bình thường (2 kg/ha). Khi xử lý phân vi khuẩn cũng cần chú ý lấp kín đất tránh để chế phẩm tiếp xúc với ánh sáng mặt trời làm giảm hiệu lực. b) Dinh dưỡng lân: - Có tác dụng xúc tiến phát triển bộ rễ và hình thành nốt sần, cũng như các cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt,... ). - Cây hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng, nhưng chủ yếu vào thời kỳ đầu. Giai đoạn sau lân chuyển từ thân lá về quả và hạt. - Thiếu lân cây còi cọc, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên, lá màu xanh tối, mặt lá có những chấm nâu. Thiếu lân nghiêm trọng thân có màu vàng, rễ có màu nâu, thưa hoa ít quả. - Hiệu suất bón lân là khá cao từ 7-10 kg đậu tương/1 kg P2O5. c) Dinh dưỡng Kali: - Kali có vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, chuyển hóa gluxit, điều hòa cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng khả năng hình thành các mô cơ giới, tăng tính chống chịu bệnh, chịu lạnh và chống đổ. - Cây hút Kali trong suốt quá trình sinh trưởng, nhiều nhất TK ra hoa. Thời kỳ cuối Kali chuyển từ thân lá về hạt. - Thiếu Kali mép lá bị cháy trong khi gân lá vẫn xanh, hình thành quả không hạt, thời gian thu hoạch kéo dài. - Thiếu Kali nốt sần khó hình thành và phát triển, cây không cố định được đạm, nấm bệnh dễ xâm nhập làm cho cây yếu. - Hiệu suất sử dụng Kali là từ 7-9 kg đậu tương/ 1kg K2O d) Dinh dưỡng Canxi và các nguyên tố vi lượng khác: - Canxi có tác dụng điều chỉnh pH đất, cung cấp Canxi cho cây. Ở miền Bắc các loại đất lúa, đất đồi nương phần nhiều là đất chua và ở miền Nam các loại đất Bazan, đất xám, đất phèn,... muốn trồng được đậu tương đều phải bón vôi. Thiếu Canxi, trước khi ra hoa mép lá đơn có màu đen về sau mép lá có những vết xanh tối hoặc xanh vàng. Khi ra hoa tạo quả, thiếu Canxi lá xanh vàng hoặc tím nhạt, lá rụng nhiều. - Molipden (Mo): Mo cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men này khử Nitrat thành Amonium trong cây. Mo có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp đạm do cộng sinh với vi khuẩn nốt sần. Mo cũng cần thiết cho việc chuyển hóa lân. Khi thiếu Molipden quá trình trao đổi đạm bị gián đoạn, lá dễ bị trắng. Mo trở nên hữu dụng khi pH tăng, do đó hiện tượng thiếu Mo thường xảy ra ở đất chua, đất nhẹ thường dễ bị thiếu hơn đất nặng. - Kẽm (Zn): Kẽm là một trong số nguyên tố hạn chế năng suất cây trồng, thiếu kẽm năng suất sẽ giảm. Kẽm hỗ trợ cho sự tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men và cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Nó cần thiết cho sự sản xuất diệp lục và các hydratcabon. Thiếu Zn lá có màu đồng, lá nhỏ, gây đình trệ sinh trưởng. N P K Mg Fe Zn 7/18/15 12 Bón phân cân đối và hợp lý cho đậu tương - Tuỳ từng vùng mà lượng lân và kali có thể khác nhau, song đây là những nguyên tố không thể thiếu trong cân đối dinh dưỡng cho đậu tương. Về tổng thể, đậu tương cần bón ít đạm hơn lân và kali. - Đạm và kali có tác dụng tương hỗ khá rõ trong dinh dưỡng đậu tương. Nếu bón riêng rẽ, đạm chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trong khi đó cũng bón lượng đạm như vậy lại cho bội thu 2,3 tạ/ha trên nền bón cả lân và kali. Một quy luật tương tự cũng thấy với kali. Bón riêng rẽ, kali cho bội thu 1,4 tạ/ha trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha. Tương hỗ đạm lân thấp hơn so với đạm kali. - Tuy đạm và kali có hiệu lực cao với đậu tương song việc bón phân liều lượng cao đều làm giảm hiệu quả phân bón. - Nhìn chung mức bón tối đa cho đậu tương là 40 kg N (tương đương 87 kg urê/ha hay 3 kg/sào Bắc Bộ) và 60 kg K2O (100 kg kali clorua/ha hay 3-4 kg/sào). - Công thức bón phân cân đối cho đậu tương thay đổi theo vùng, + Phổ biến: 30 N: 90 P2O5: 90 K2O. + Đất bazan: 30 N: 60 P2O5: 60 K2O + Đất bạc màu: 20 N: 60 P2O5: 60 K2O + Đất xám: 30 N: 90 P2O5: 60 K2O + Đất nhẹ: 30 N: 90 P2O5: 60 K2O Quy trình chung bón phân cho đậu tương - Lượng bón cho 1ha trồng đậu tương: 5-8 tấn phân chuồng 30-40 kg N (tương đương: 65-90 kg urê) 60-90 kg P2O5 (tương đương: 300-450 kg supelân) 60-90 kg K2O (tương đương: 100-150 kg KCl) Đất chua có thể bón thêm 300-500 kg vôi bột/ha - Thời điểm và kỹ thuật bón: + Bón lót: 100% PC + 100% lân + 1/2 N + 1/2 K2O+ (Phân vi sinh,vôi). Toàn bộ lượng phân hóa học được trộn đều và bón vào hàng đã rạch sẵn, sau đó bón phân chuồng, lấp một lớp đất nhẹ phủ kín phân rồi mới gieo hạt để tránh hạt tiếp xúc với phân làm giảm sức nảy mầm + Bón thúc: 1/2 N + 1/2 K2O Trộn đều bón vào hàng đã rạch sẵn sau đó lấp đất chặt để tránh phân đạm bốc hơi và rửa trôi khi gặp mưa, có thể hòa phân tưới cho cây. Đối với đất chua bón thêm vôi bột với lượng 300-500 kg vôi bột/ha. Có thể bón thêm phân vi lượng: Mo, Bo, Cu, ZnPhun từ 1-2 lần vào thời kỳ đậu tương ra hoa. Ngoài ra bón phân vi khuẩn đối với vùng đất chưa trồng đậu tương bao giờ, nghèo vi khuẩn. Tại các vùng sản xuất đậu tương trên đất hai vụ lúa tại các tỉnh như: Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, các tỉnh vùng Đông Nam Bộ,.....thường áp dụng các biện pháp làm đất: làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, do đất ướt không bón lót được nên phải bón thúc kịp thời. Bón bằng cách hoà vào nước rồi tưới cho cây làm 3 lần: + Lần 1, khi cây có 2 lá đơn, bón 1/3 phân đạm và 1/2 phân lân. + Lần 2, khi cây có 2 - 3 lá kép, bón 1/3 phân đạm, 1/2 phân lân và 1/2 phân Kali. + Lần 3, sau khi gieo 28 - 30 ngày, bón 1/3 phân đạm, 1/2 phân kali. 8. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh a) Tỉa dặm - Ít được làm do tỷ lệ mọc mầm của hạt giống khá cao, cây có khả năng phân cành bù sản lượng - Việc tỉa dặm chỉ áp dụng khi tỷ lệ mọc mầm kém, do chất lượng hạt giống hoặc điều kiện bất thuận (mưa, nắng nóng, khô hạn). - Trong trường hợp này, khi gieo có thể dự trù và gieo với lượng hạt giống nhiều hơn so với yêu cầu khoảng 10%, hoặc có thể để dặm sau khi hạt mọc mầm. - Nếu mật độ quá dày cần tỉa bớt cây để đảm bảo mật độ khoảng cách tránh hiện tượng tranh chấp dinh dưỡng. b) Xới vun - Nên xới xáo ít nhất 2-3 lần trong vụ từ khi cây có 2-3 lá thật cho đến khi đậu tương ra hoa. Sau khi ra hoa không nên xới vun nữa làm ảnh hưởng đến bộ rễ, khi xới tránh làm tổn thương vùng cổ rễ - Xới vun lần 1: thời kỳ 2-3 lá, làm tơi xốp đất, kết hợp bón thúc lần 1, trừ cỏ dại và vun nhẹ chống đổ cho cây. - Xới vun lần 2: Trước khi đậu tương ra hoa, sau lần 1 khoảng 15-20 ngày. Xới nặng tay, sâu 5-7cm, kết hợp vun cao chống đổ, trừ cỏ dại. Tùy theo tình hình như mưa nhiều, đất đóng váng mà có thể xới lần 3. c) Tưới và tiêu nước - Tưới nước cũng cần căn cứ vào từng thời vụ: vụ xuân thường khô hạn vào thời kỳ đầu, vụ đông cuối vụ vào thời kỳ ra hoa đến làm quả cũng gặp hạn, vụ hè nằm trong mùa mưa, tưới nước ít đặt ra mục tiêu lớn mà tiêu nước là chủ yếu. - Tưới khi độ ẩm đất giảm xuống đến 55-60% độ ẩm tối đa đồng ruộng. - Tưới trước khi gieo: + Vùng có điều kiện có thể ngâm ruộng, + Vùng khô hạn nhờ nước trời, đất khô tưới theo các hàng trước khi gieo, nhờ đó tăng được phần nào độ ẩm đất, nhưng nói chung chỉ gieo hạt độ ẩm đất đảm bảo cho hạt mọc mầm được - TK sau khi gieo, TK ra hoa - kết quả, tưới rãnh hoặc tưới ngập 1/3 – 2/3 rãnh tưới, rồi rút nước khi đất đủ ẩm và sau đó phải phá váng. - Nếu có mưa: + < 10mm phải tưới đầy đủ mức tưới. + >10-15mm phải tưới thêm 1/2 mức tưới. + >15mm coi như một lần tưới. - Vùng khó khăn tưới đẫm: TK mọc và TK hình thành quả - hạt. - Sau khi mưa to, phải tiêu nước ngay (không để quá 24 giờ). Nếu không thối rễ, hạn sinh lý, rụng hoa, rụng quả. d) Phòng trừ sâu bệnh * Bệnh sương mai đậu tương:  Bệnh do nấm Peronospora manshurica gây ra, ở nước ta và các nước thuộc Đông Nam Á bệnh gây hại mạnh, Bệnh làm ảnh hưởng đến quang hợp và gây giảm năng suất.  Triệu chứng bệnh: Bệnh xuất hiện ở thời kỳ cây trưởng thành, gây hai trên lá, thân, quả và hạt. Trên lá vết bệnh là các vết đốm màu xanh vàng không định hình nằm rải rác ở mặt trên của lá. Vết bệnh có thể nằm dọc các gân lá, có màu nâu vàng gây cháy khô lá. Cây bị bệnh nặng, vết bệnh lan sang quả và xâm nhiễm vào hạt. Ở mặt dưới lá bệnh và bên trong quả bị nhiễm bệnh có lớp mốc trắng xám, hạt bị nhiễm bệnh thường bị lép và có một lớp bột màu trắng ở trên bề mặt hạt. Hàm lượng dinh dưỡng trong hạt cũng bị giảm sút.  Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ khoảng 20oC. Bệnh gây hại nặng từ tháng 3 đến tháng 5 ở vụ đậu tương xuân vào giai đoạn cây có 4-5 lá kép. Năng suất có thể giảm 10% nếu không phòng trừ kịp thời.  Biện pháp phòng trừ: Cần chọn giống sạch bệnh, nguồn giống cần được kiểm nghiệm trước khi gieo trồng. Xử lý hạt giống, tiêu hủy và dọn sạch tàn dư cây bệnh sau khi thu hoạch. Khi bệnh xuất hiện cần phun thuốc phòng trừ bằng Boocdo 1%, Oxyclorua đồng 1%, Aliette 80WP 0,25%, Rhidomyl MZ 72BHN (2,5-3 kg/ha), Rhidomyl 5g (10-14 kg/ha). 7/18/15 13 * Bệnh gỉ sắt đậu tương: - Bệnh do nấm Phakopsora sojae Saw gây ra. Bệnh gây hại nặng nhất trên lá, có thể hại trên thân cành và quả. Lúc ban đầu ở mặt dưới lá, vết bệnh hình thành dưới dạng những chấm nhỏ màu vàng trong. Sau đó, vết bệnh nổi lên trên mặt lá có màu vàng nâu, biểu bì lá nát để lộ bào tử có màu vàng (màu gạch non). Cây bị bệnh khiến lá sớm bị vàng, lượng diệp lục giảm nhanh chóng, cường độ quang hợp và sự trao đổi chất trong cây giảm, năng suất và phẩm chất đậu tương bị giảm sút nghiêm trọng. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Các vụ trồng đều bị bệnh nhưng bệnh phát sinh và phá hại nặng nhất trong vụ đậu tương xuân. Các vụ đông, hè thu bệnh nhẹ hơn. Ở vụ xuân khi bệnh nặng chỉ còn thu hoạch từ 0,8-2,5 tạ/ha, trong khi bình thường năng suất đạt 5-8 tạ/ha. Vụ đông thời tiết lạnh, vụ hè và hè thu nhiệt độ cao nấm khó hình thành bào từ và khó thực hiện nảy mầm, xâm nhiễm vì vậy bệnh hại nhẹ hơn. Cao điểm của bệnh tập trung vào tháng 3, tháng 4 khi nhiệt độ đạt trên 18-20oC và cây có từ khi 5 lá kép đến khi thu hoạch quả. Bệnh có thể kéo dài tới tháng 5 làm lá cây rụng hàng loạt, ruộng đậu tương vàng rực màu lá bệnh. - Trong giai đoạn sinh trưởng từ cây mọc tới chớm hoa ít bị bệnh Từ ra hoa đến thu hoạch quả là lúc bệnh phát triển nhanh nhất trên lá bánh tẻ và lá già. Các giống đậu tương trồng ở nước ta đều bị nhiễm bệnh nhưng mức độ khác nhau. Các giống ít bị nhiễm hoặc nhiễm muộn hơn hiện nay là: M103, DT93, DT84, AK03, AK05, VX93,... Giống bị nhiễm nặng nhất là V74. - Biện pháp phòng trừ: Chọn giống chống chịu bệnh và sản xuất giống sạch bệnh; luân canh với các cây thuộc họ hòa thảo; xử lý giống bằng Bayphidan 10-15 g. a.i/tạ hạt giống hoặc 200 g/tạ hạt. Có thể phun thuốc hạn chế bệnh bằng các loại thuốc trừ gỉ sắt, đặc biệt như Baycor 25WP 0,1% (0,15-0,25 kg a.i/ha), Bayleton 25EC (25WP) 120-250 g/ha, ... * Bệnh thán thư đậu tương: Bệnh do nấm Colletotrichum trunctum gây ra, gây hại làm giảm chất lượng hạt (hàm lượng axit amin giảm). - Triệu chứng bệnh: Giai đoạn cây con vết bệnh là các vết đốm màu nâu ướt, hơi lõm trên lá mầm và phát triển xuống thân, lá mầm bị bệnh thường rụng sớm. Bệnh nặng thường gây chết cây con. Vết bệnh trên lá thường biểu hiện các vết chết hoại có màu nâu đỏ trên gân lá, gây thối gân. Bệnh có thể hại trên phiến lá là các vết bệnh có hình bầu dục, màu nâu, hơi lõm, xung quanh có viền nâu đỏ, trên bề mặt vết bệnh có các chấm đen nhỏ. Lá bị bệnh thường quăn lại và dễ rụng. Trên thân cành, cuống lá và vỏ quả vết bệnh có màu nâu, vết bệnh thường bị bao phủ bởi các đĩa cành có màu nâu. Hạt bị nhiễm bệnh thưởng nhỏ, nhăn nheo, trên bề mặt hạt có các vết xám, sau chuyển sang màu nâu hoặc nâu đen. Cây bệnh phát triển kém, nếu nhiễm ở giai đoạn sớm cây không có khả năng phát triển quả. Một số cây bệnh trên thân và hạt có thể không mang triệu chứng nhưng nấm nhiễm hệ thống ở bên trong. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao, nhiệt độ khoảng 28oC. Miền Bắc, bệnh phát triển từ tháng 4 - 6, gây hại mạnh ở giai đoạn phát triển quả tới khi thu hoạch. Bệnh phát triển mạnh trên những ruộng trồng với mật độ dày, trồng liên tiếp nhiều vụ. Bệnh phát triển mạnh ở vùng có mưa nhiều, bón phân không hợp lý.  Các giống đậu tương nhiễm bệnh cao là các giống: AK03, DT84. Các giống nhiễm ở mức thấp hơn ĐT22, DT90, ĐT93.  Biện pháp phòng trừ: Cần xử lý hạt giống bằng một số thuốc hóa học như Thiram, Captan, Benomyl; vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy tàn dư cây bệnh; bón canxi và kali cũng hạn chế được bệnh; khi bệnh phát triển sớm cần phun thuốc hóa học Benomyl, Cacbenzym, Mancozeb vào giai đoạn hình thành quả. Có thể sử dụng biện pháp sinh học, dùng các chế phẩm từ loài nấm đối kháng như Glicoladium roseum, Trichoderma viridae, Penicillium thomi để xử lý hạt giống cũng làm giảm tỷ lệ bệnh. * Bệnh đốm lá vi khuẩn hại đậu tương: Bệnh đốm gỉ do vi khuẩn Xanthomonas phaseoli pv. sojense và bệnh đốm góc vi khuẩn Pseudomonas glycinea gây ra. - Triệu chứng bệnh: + Bệnh đốm gỉ: Bệnh hại trên lá, triệu chứng bệnh xuất hiện ở dạng đốm nhỏ nổi trên mặt lá như các mụn loét nên trông rất dễ nhầm lẫn với bệnh gỉ sắt đậu tương. + Bệnh đốm góc: Triệu chứng bệnh thể hiện ở trên lá là những vết đốm nhỏ lúc đầu ngậm nước trong giọt dầu, vàng nhạt, về sau chuyển sang màu nâu đen, vết bệnh có góc cạnh, không đều đặn. Nhiều vết bẹnh liền nhau, chi chít trên phiến lá. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh đốm lá vi khuẩn phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Nhiệt độ thích hợp nhất để bệnh phát triển từ 26-30oC. Bệnh phát sinh gây hại ở tất cả các thời vụ trồng đậu tương, mức độ nhiễm ở mỗi thời vụ có khác nhau. Vụ đậu tương xuân và hè thu, bệnh thường phát sinh gây hại nặng. Còn ở vụ đậu tương đông thì bệnh thường phát sinh gây hại nhẹ hơn. Hầu hết các giống đậu tương đang gieo trồng đều có thể nhiễm bệnh, bệnh có xu hướng phát sinh gây hại nặng trên những giống đậu tương nhập nội, lai tạo có năng suất cao. Tuy nhiên nguồn bệnh của hai loài vi khuẩn gây bệnh thường chủ yếu tồn tại trên hạt giống và tàn dư cây bệnh, vi khuẩn không truyền qua đất vì nó rất nhanh bị chết trong đất khi tàn dư đã hoai mục. - Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng bằng cách thu dọn sạch tàn dư các bộ phận bị bệnh trên đồng ruộng. Chọn lọc, sử dụng những hạt giống khỏe, không lấy hạt ở những cây bị bệnh để làm giống. Cần phải chọn lọc và sử dụng những giống đậu tương có khả năng chống chịu với bệnh đốm lá vi khuẩn để gieo trồng cho phù hợp với mỗi thời vụ và các vùng sinh thái trồng trọt. * Bệnh khảm lá đậu tương: Bệnh do loài virus Soybean mosaic virus – SMV gây ra. Thiệt hại về năng suất có thể lên đến 50% thậm chí 90%. Bệnh có thể truyền qua hạt giống làm giảm chất lượng hạt giống. - Triệu chứng bệnh: Bệnh thay đổi phụ thuộc vào giống, giai đoạn sinh trưởng của cây và điều kiện ngoại cảnh. Trên lá sò vết bệnh có dạng khảm, trên lá thật triệu chứng bệnh thể hiện rõ các vết bệnh xanh đậm và xanh nhạt xen kẽ nhau, lá cây bị bệnh thường nhăn nheo, mép lá cong xuống, lá bị biến dạng. Đôi khi trên lá bệnh xuất hiện vết xanh đậm, hoặc các vết chết hoại chạy dọc theo gân chính. Cây bị bệnh thường lùn hơn cây khỏe và thường bị chín sớm. Số lượng nốt sần trên cây bệnh thường giảm nên vai trò cố định đạm giảm, rễ cây thường bị thối đen. Ở những giống mẫn cảm cây có thể bị chết. Bệnh gây hại trên quả làm quả đậu bị biến màu nâu, cong queo hạt lép. Hạt đậu tương bị nhiễm bệnh có các vết màu nâu hoặc tím hình chân chim thể hiện rõ trên vỏ. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Virus gây hại có thể tồn tại và lan truyền qua hạt giống hoặc truyền qua các loài rệp muội theo kiểu không bền vững. Virus có phạm vi ký chủ rộng, phát triển mạnh trên cây đậu tương trồng vào vụ đông và vào giai đoạn cây ra hoa và hình thành quả. Bệnh gây hại nặng trên những ruộng đậu tương chăm sóc kém, bón nhiều đạm hoặc bón phân không cân đối. - Biện pháp phòng trừ: Sử dụng giống chống bệnh, giống sạch bệnh. Lấy giống từ vùng không bị bệnh, chọn lọc giống, loại bỏ hạt mang triêu chứng bệnh. Trồng xen với cây trồng không phải là ký chủ của rệp.Phun thuốc hóa học phòng trừ rệp, hoặc bẫy rệp bằng các bẫy dính màu vàng. Có thể dùng biện pháp sinh học, sử dụng các chủng virus nhược độc để lây bệnh cho cây con, tạo khả năng kháng bệnh đối với chủng virus gây hại có độc tính cao. * Bệnh lở cổ rễ Bệnh do nấm Fusarium solani fsp. phaseoly gây ra. Bệnh gây hại ở tất cả các vùng trồng từ đồng bằng, trung du cho tới miền núi. Bệnh phá hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng chủ yếu vào thời kỳ cây con. - Triệu chứng bệnh: Bệnh hại vào thời kỳ cây con mới mọc gây héo và chết cây con. Vết bệnh lúc đầu chỉ là một chấm nhỏ, màu đen ở phân gốc sau đó lan nhanh bao bọc xung quanh cổ rễ làm cổ rễ khô tóp lại, cây gục xuống và chết nhưng thân lá vẫn còn màu xanh. Trên vết bệnh có lớp nấm màu trắng xám. Vết bệnh thối mục, có màu nâu đen ủng và lan nhanh khi gặp mưa. - Đặc điểm phát sinh phát triển: Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25-28oC, độ ẩm đất cao, nóng lạnh bất thường. Bệnh phá hại mạnh trên những chân ruộng trũng, ứ đọng nước, đất bị đóng váng sau khi mưa. Nấm bệnh có phổ ký chủ rộng: đậu đỗ, cà chua, khoai tây, ngô, lúa,... Nấm gây bệnh có thể sống hoại sinh trong đất trên các tàn dư cây trồng. - Biện pháp phòng trừ: Luân canh với lúa nước 2-3 năm để hạn chế tích lũy nguồn bệnh trong đất; cày sâu để chôn vùi hạch nấm, bừa đất kỹ, để ải, bón vôi để tiêu hủy nguồn bệnh trong đất; chọn hạt giống khỏe, sạch bệnh; gieo đúng thời vụ, không gieo quá sâu, mật độ vừa phải; phá váng sau khi mưa và xới xáo kịp thời, vun luống cao, thoát nước tốt. Bón lót phân chuồng hoai mục kết hợp với bón vôi. Bón thúc sớm lân và kali. Xử lý hạt giống trước khi gieo và phun thuốc phòng trừ khi bệnh xuất hiện. Có thể dùng các loại thuốc: Ridomil MZ 72WP 2,5-3,5 kg/ha, Topsin M (50-70WP) 50-100g thuốc/100 lít nước, Rovral 50WP 0,1-0,2%. Có thể sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma phòng trừ bệnh. * Sâu xám (Agrotit. YP silon): Phá hại nặng vụ xuân, vào thời kỳ cây con, thường cắn ngang thân. Phòng trừ bằng cách: làm đất kỹ để diệt trừ nhộng và sâu non thường ẩn nấp ở độ sâu cách mặt đất 4-6cm. Có thể xử lý đất bằng thuốc hóa họcL Basudin, Padan 1%, Ofatox 0,1%,... diệt trừ sâu tuổi 1-3, với sâu tuổi lớn 4-5 tuổi tổ chức bắt vào buổi sáng sớm. * Ruồi đục thân (Melana Gromyza Sofae): Sâu trưởng thành là loài ruồi nhỏ, màu đen sáng phần bụng màu xanh óng ánh, mắt kép màu đỏ tối, gân cánh và chuỳ cánh đen. Trứng nở thành giòi phá hoại ở các bộ phận của cây như lá hoặc thân. Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, có nhiều loại ruồi đục lá, đục thân, trong đó loài gây hại nghiêm trọng nhất ở thời kỳ cây con là Melana Gromyza Sofae chiếm tới 70-80%. Cao điểm phá hại vào tháng 3, tháng 4 và tháng 10, tháng 11. Ruồi đục thân gây tác hại nặng nhất đối với đậu tương đông và thu đông. Cần phun thuốc sớm khoảng 5-7 ngày sau khi gieo, khi cây mới xuất hiện lá đơn. Sau lần phun thứ nhất 7-10 ngày phun tiếp lần 2. Các loại thuốc hiệu lực là Monito phun với nồng độ 0,1%, có thể xử lý đất bằng các loại thuốc như Basudin (3kg/ha) có thể giảm tỷ lệ bệnh xuống dưới 5%. Xử lý hạt bằng thuốc Oftanol (40gr/kg hạt) hoặc Gacho 70WS bón vào đất. Phun thuốc phòng trừ ruồi đục thân: Bitox 40EC 0,8-1l/ha, Regent 800WG 20-30 gr/ha, Selecron 500EC 0,8-1l/ha, Peran 50EC 200-400cc/ha. Không nên trồng liên tiếp các loại cây ký chủ của ruồi như đậu xanh, đậu đen, đậu cove,... mà cần luân canh với các cây trồng khác như lúa nước. 7/18/15 14 * Sâu đục quả (Etiela Zinekenella): Sâu non đẫy sức dài khoảng 14mm, màu sắc cơ thể biến đổi theo độ tuổi, tuổi nhỏ có màu trắng hoặc xám xanh, tuổi trung bình màu xanh có vệt hơi đỏ, tuổi lớn có màu tím đỏ, bụng xanh, mảnh da ngực trước cứng và ở giữa có vân đen hình chữ “Y”, ở hai bên có chấm đen, ở giữa mép sau lại có một đôi chấm đen. Sâu phá hại khi cây có quả non (giai đoạn R4), hạt mới hình thành bị sâu đục không phát triển nữa. Khi hạt mẩy bị sâu đục sản lượng giảm, nhiều trường hợp khi thu hoạch sâu vẫn tiếp tục phá hoại (trong kho). Sâu phá hại lớn nhất ở vụ xuân sớm, vụ xuân hè và vụ thu ở Đồng bằng và Trung du Bắc bộ. Để trừ sâu non cần phun thuốc sớm khi cây có quả non bằng Fastas 5EC, Fortac 5EC, liều lượng 0,4-0,6 l/ha, Cyperkill 25EC, Prower 5EC 0,6-0,8 l/ha, Sumidin 20EC 0,8-1 l/ha, hoặc có thể dùng thuốc phun diệt bướm và sâu mới nở. Dùng biện pháp nông học như luân canh với cây trồng khác không phải ký chủ của sâu đục quả. Chọn thời vụ trồng hợp lý (ở đồng bằng miền Bắc, vụ xuân gieo vào 25/2, tỷ lệ sâu đục quả ít nhất, đồng thời ít bị bệnh gỉ sắt). * Sâu hại lá: Bộ lá đậu tương rậm rạp, nếu bị một ít lá hầu như không gây ảnh hưởng đến năng suất, nhất là giai đoạn trước khi ra hoa. Ở giai đoạn cây ra hoa, làm quả và hạt, sâu hại lá gây hại lớn đến năng suất do chúng làm thấp bộ lá quang hợp, cũng như ảnh hưởng đến dòng vận chuyển vật chất từ lá về quả và hạt, gia tăng tỷ lệ lép của quả và hạt đậu tương, giảm tháp rõ rệt năng suất. Sâu hại lá phổ biến là sâu xanh (Heliothis Aramigera), sâu khoang (Prodenoa litura), sâu cuốn lá (Luaprosena indiedra), sâu ban miêu (Epicauta xantusi). Với sâu xanh, sâu khoang phòng trừ bằng bẫy bả chua ngọt bắt trưởng thành, ngắt ổ trứng. Dùng thuốc trừ sâu sinh học Abamectin 1,8EC, hoặc chế phẩm sinh học Bt, NPV phun lên cây vào giai đoạn ra hoa, quả non, khi sâu bắt đầu phát triển. Dùng thuốc hóa học khi sâu thành dịch: Monitor 50%, Rogor 40EC, Sevin 35% pha đều với nước tỷ lệ 1:100. Chú ý không luân canh đậu tương với cây trồng ký chủ của sâu này như bông. lạc, đậu rau,.... Với sâu cuốn lá đậu tương có thể trừ bằng cách luân canh đậu tương với lúa hoặc cây họ hòa thảo, bông,... có tác dụng hạn chế sâu hại rõ rệt. Bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch bằng cách trồng xen với cây trồng khác. Thời kỳ sâu gây hại nặng là thời kỳ đậu tương có 3-4 lá kép đến quả non, khi cần thiết dùng các loại thuốc có hiệu quả diệt sâu cao như Bulldock 25EC 0,8-1 lít/ha, Forvin 85WP 0,75-1 kg/ha, Karate 25EC 0,3-0,5 lít/ha, Baythroid 50EC 0,6-0,8 lít/ha. * Sâu chích hút: Bọ xít xanh (Nejaravinedula) chích hút lá ở thời kỳ quả mẩy làm quả lép, không chín được. Hạt bị bọ xít xanh chích hút khi gieo mọc kém, tỷ lệ mọc mầm bị giảm 50%. Về hình thái sâu trưởng thành có thể dễ dàng nhận biết: hình lá chắn, toàn thân màu xanh, phiến tiểu thuần có 3 chấm nhỏ. Bọ xít xanh phá hại cả lúa, ngô, lạc,... dễ phát triển thành dịch, cần phòng trừ kịp thời bằng cách dùng bẫy đèn thu bắt sâu bướm trưởng thành, diệt những ổ bọ xít mới nở hoặc vợt bắt trưởng thành, khi đậu bắt đầu ra hoa – quả non mà mật độ bọ xít 1-3 con/cây phun thuốc ngay với các loại thuốc như Cyper 25EC 0,6-0,8 l/ha, Perkill 50EC 0,1- 0,3 l/ha,Actara 25WG 50gr/ha, Superkill 50EC 1-2 lít/ha. * Rệp (Aphismedicaginic): Rệp non có thể có cánh hoặc không có cánh. Rệp có cánh cơ thể màu vàng, xanh nhạt hoặc xanh đậm, phần đầu và mảnh lưng trước màu đen, phần bụng hai bên có 3-4 chấm đen, phiến đuôi màu xanh. Rệp non không cánh: cơ thể có màu vàng chanh hoặc vàng, sang thu lại có màu xanh thẫm, hoặc màu đen, màu hồng nhạt, toàn thân phủ bụi xáp. Rệp là môi giới truyền bệnh virus khảm lá đậu tương, gây hại nặng ở vụ đậu tương hè, cần chú ý phòng trừ bằng cách: chặt bỏ cây chủ thân gỗ, cây dâm bụt,... tiêu diệt trứng qua đông và vệ sinh đồng ruộng khi gieo trồng đậu tương. Luân canh đậu tương với lúa nước và các cây khác ký chủ với rệp đậu tương. Tỉa cây sớm, nhổ bỏ cây bị rệp và chăm sóc làm cỏ kịp thời tạo điều kiện thông thoáng trong ruộng đậu tương. * Mọt đậu tương (Acanthoscelideb obtectus Say) Mọt này phổ biến ở nhiều nước phá hoại hạt đậu tương trong quá trình bảo quản gây thủng hạt, hỏng hạt, gây mùi khó chịu làm giảm chất lượng sản phẩm. Mọt trưởng thành có thân hình ovan dài, màu nâu đỏ, bụng có màu vàng đỏ, toàn thân phủ long nhung màu vàng kim hay vàng lục. Mọt có thể xẩm nhập ngay trên đồng ruộng khi quả bắt đầu vàng bằng cách đẻ trứng trên các khe nứt hoặc đường sống của quả. Trong kho mọt đẻ trứng lên vỏ quả hoặc lên bao bì đựng hạt. Để phòng trừ đối tượng sâu hại này cần kiểm tra chặt chẽ không để mọt lây lan tới khu vực bảo quản, khi phát hiện thấy mọt xuất hiện cần tiến hành khử trung kho kịp thời bằng thuốc bảo quản. Chương 4. Thu hoạch và bảo quản a) Thu hoạch - Đúng độ chín: 50% lá khô, vàng rụng khoảng 50%, cây khô vàng - Đúng lúc: nắng ráo, có thể dùng liềm cắt sát mặt đất, phơi khô cả thân cành sau đó đập tách và làm sạch hạt. - Đập tách hạt bằng vồ hoặc sử dụng máy: ĐTG-0,5 hay ĐĐT-0,5. - Phơi hạt giống: + Không phơi trực tiếp trên sân gạch,sân xi măng. Hạt phơi tới khi khô giòn, cắn không dính răng (khoảng 2-3 nắng), độ ẩm khoảng 12%, + Vụ đông, đông xuân thiếu nắng, có mưa nhỏ. Thu hoạch bó thành từng bó phơi trên dây thép, hoặc để nơi thoáng mát cho khô dần. + Có thể áp dụng phương thức sấy hạt, tuy nhiên chi phí hơi cao Một số máy sấy chuyên dụng: SH1-200. SV500, BD-4, SN-400,... - Làm sạch: nhằm loại bỏ các tạp chất: vỏ quả, cành cây, bụi đất, sạn cát sỏi, sâu mọt, phân xác mọt,... cần đảm bảo tỷ lệ tạp chất < 1%. + Quy mô nông hộ: sử dụng dụng cụ thủ công: sàng, thúng, sảy hạt, có thể dùng thêm quạt máy hoặc quạt hòm hỗ trợ. + Quy mô công nghiệp: sử dụng máy tách tạp chất, phân loại hạt thành các loại: hạt sạch, chắc mảy hoàn thiện; hạt non, hạt kẹ, hạt nhọn, hạt nhăn; hạt vỡ, hạt nứt, cát bụi; rơm rác, thân cành, vỏ,... b) Bảo quản Những nguyên nhân dẫn đến tổn thất sau thu hoạch: - Tính chất cơ lý: Hầu hết các tính chất vật lý như độ chảy rơi, tính tự phân loại, tính hút nhả ẩm, nhả khí, tính trao đổi nhiệt, đều phụ thuộc vào độ ẩm của hạt và có liên quan đến quá trình bảo quản. Hạt ẩm tính dẫn nhiệt cao, hạt khô tính dẫn nhiệt thấp, do đó khi phơi sấy cần cẩn thận để tránh hạt bị chín và rạn nứt. - Các hoạt động sinh lý, sinh hóa của hạt: + Hô hấp của hạt: hạt ẩm hô hấp mạnh hơn hạt khô. Hạt kẹ, vỡ, rạn hô hấp mạnh hơn hạt nguyên, mảy + Hạt mọc mầm sinh nhiệt lớn, chất lượng hạt bị ảnh hưởng - Các loại dịch hại: Điều kiện khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam tạo điều kiện cho các loài dịch hại gây hại trong quá trình bảo quản làm giảm giá trị sản phẩm. Hạt đậu tương rất dễ bị nhiễm nấm mốc (đặc biệt là nhiễm loại nấm độc aflatoxin gây hại cho sức khỏe của người và vật nuôi) và các loài côn trùng gây hại trong bảo quản. Hầu hết các loài côn trùng hại đều thuộc loài chân đốt, gây mùi khó chịu cho sản phẩm. Hạn chế mọt hại bằng cách phơi nắng, sàng sẩy, đốt xác mọt để tránh lây lan. Ngoài ra những dịch hại khác cũng cần chú ý phòng trừ như: chim, chuột đặc biệt là sự phá hại của chuột. Kỹ thuật bảo quản - Quy trình công nghệ bảo quản hạt giống đậu tương cũng khá đơn giản, có thể tóm tắt như sau: Thu hoạch quả → Làm khô sơ bộ (phơi) → Tách vỏ quả → Làm sạch → Phân loại → Làm khô bổ sung tới độ ẩm an toàn → Bảo quản (trạng thái khô, kín). - Khái niệm độ ẩm an toàn của hạt để bảo quản: Độ ẩm an toàn của hạt là độ ẩm dưới mức giới hạn làm hư hỏng hạt. Đậu tương có tỷ lệ dầu cao, do đó độ ẩm an toàn trong bảo quản cần: Thời gian bảo quản Độ ẩm an toàn (%) Dưới 3 tháng 14 3-6 tháng 12 6 tháng – 1 năm 10 Trên 1 năm 10 * Các phương tiện bảo quản:  Ở Việt Nam, tại hầu hết các vùng sản xuất đậu tương, đậu tương được sản xuất trong quy mô hộ gia đình, nên sản lượng đậu tương thu hoạch ở các nông hộ không nhiều, trung bình chỉ khoảng vài trăm cân đến vài tấn/hộ. Do đó có thể bảo quản hạt giống trong các vật liệu đơn gian như: chum vại lớn, thùng gỗ, cót có lưới thép quây phủ bạt, thùng kim loại hoặc trong các bao dệt PP,... thời gian sử dụng, hiệu suất đầu tư cho bảo quản cũng tùy theo chất liệu của các phương tiện bảo quản.  Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/ 7/18/15 15 Các phương tiện bảo quản Phương tiện bảo quản Khối lượng chứa (tấn) Giá ước tính (đồng) Thời gian sử dụng (năm) Hiệu suất đầu tư (đồng/tấn) Thùng gỗ 1-2 2.000 10 50.000 Chum lớn 0,5-1 200 10 100.000 Cót,lưới thép quây phủ bạt 0,5-1 50 1 50.000 Thùng kim loại 0,5 600-700 10 60.000 Bao dệt PP 0,05 3 1 60.000 Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam https://sites.google.com/site/lophocphank57vnua/

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcay_dau_tuong_9635.pdf