Môn lịch sử tiếng Việt - Tập hợp câu hỏi và câu trả lời

Câu 1: Vì sao khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, người ta lại phải nghiên cứu một số đặc điểm địa lý vùng Đông Nam Á Trong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, khi nói tới vị trí của một ngôn ngữ cụ thể thường thường người ta phải định vị nó của một ngôn ngữ nào đó và trong một vùng địa lý xác định, trong trường hợp tiếng Việt, công việc này về thực chất là xác định xem tiếng Việt có liên hệ về nguồn gốc với những ngôn ngữ nào ở khu vực Đông Nam Á, một địa bàn mà Việt Nam là một phần lãnh thổ cấu thành lên nó.

doc9 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 03/09/2013 | Lượt xem: 1199 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Môn lịch sử tiếng Việt - Tập hợp câu hỏi và câu trả lời, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Môn lịch sử tiếng Việt - Tập hợp câu hỏi và câu trả lời Câu 1: Vì sao khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, người ta lại phải nghiên cứu một số đặc điểm địa lý vùng Đông Nam Á Trong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, khi nói tới vị trí của một ngôn ngữ cụ thể thường thường người ta phải định vị nó của một ngôn ngữ nào đó và trong một vùng địa lý xác định, trong trường hợp tiếng Việt, công việc này về thực chất là xác định xem tiếng Việt có liên hệ về nguồn gốc với những ngôn ngữ nào ở khu vực Đông Nam Á, một địa bàn mà Việt Nam là một phần lãnh thổ cấu thành lên nó. Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng địa lý Đông Nam Á, tiếng Việt là một ngôn ngữ của cư dân vừa có số người nói đông đảo, vừa là cư dân chủ thể ở Việt Nam nên nó là một trong số những ngôn ngữ quan trọng nhất ở vùng Đông Nam Á. Vì vậy, để nghiên cứu đầy đủ lao động của ngôn ngữ này, chúng ta phả đặt và xem xét nó trong bối cảnh địa lý, ngôn ngữ vùng Đông Nam Á. Trước hết chúng ta hiểu một số nét cơ bản về các nước Đông Nam Á, vào thời điểm hiện nay (2004) ở địa bàn đang được quan tâm, chúng ta có thể nói đến một Đông Nam Á có 11 quốc gia khác nhau. Mỗi quốc gia không phân biệt thể chế chính trị, là một chủ thể hành chính, vì vậy có thể nói đây là vùng Đông Nam Á hành chính bao gồm những quốc gia trong phần đất liền (hay Đông Nam Á lục địa) và những quốc gia thuộc phần hải đảo. Về chính trị, hiện nay các quốc gia Đông Nam Á đang tập hợp và đoàn kết trong một khối hướng tới sự thống nhất về kinh tế gọi là khu vực Asean. Trong thực tế ở khía cạnh ngôn ngữ, khu vực Đông Nam Á có những mối liên hệ, những mối liên quan với nhau khá chặt chẽ từ xưa, góp phần làm cho sự tương đồng về mặt văn hoá giữa các quốc gia trong khu vực càng bền chặt. Nhưng những vấn đề mà chúng ta nói trên là một số đặc điểm vùng Đông Nam Á hành chính, còn đối với công việc tìm hiểu lịch sử ngôn ngữ, chúng ta sẽ đề cập đến một khu vực lãnh thổ Đông Nam Á mở rộng và là vùng lãnh thổ của các khoa học nhân văn trong đó có ngành ngôn ngữ học - được gọi là vùng Đông Nam Á văn hoá. Đây là vùng địa lý trong đó có những vấn đề biến đổi ngôn ngữ đã xảy ra và là địa bàn mà ở đó các ngôn ngữ thuộc nhánh Môn - Khmer bao gồm nhóm Việt - Mường, nhóm ngôn ngữ trong đó có tiếng Việt và các ngôn ngữ Việt - Mường khác phát triển từ cổ xưa cho đến ngày nay. Những vấn đề lịch sử ngôn ngữ mà chúng ta quan tâm sẽ xảy ra trong vùng Đông Nam Á văn hoá và sự biến đổi của lịch sử ngôn ngữ sẽ không thể không chịu tác động hay ảnh hưởng của những điều kiện địa lí vùng lãnh thổ. Chính vì vậy, việc nhận biết rõ đặc điểm địa lí cũng như lịch sử của vùng này sẽ rất hữu ích cho việc giải thích những biến đổi của ngôn ngữ từ xa xưa cho đến ngày nay. Nhìn một cách khái quát đạ lý vùng Đông Nam Á văn hoá - đây là một vùng được bao bọc chung quanh chủ yếu bằng biển và những con sống lớn. Cư dân chủ thể từ xa xưa của vùng Đông Nam Á lục địa nằm trong một khung cảnh “nước”, chịu tác động trực tiếp của một khung cảnh hay môi trường “nước” đó . Nói một cách khác, vùng Đông Nam Á lục địa có đặc điểm địa lý xã hội quan trọng nhất là vùng cư dân nông nghiệp lúa nước nổi trội. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất nhiều đến cách thức sing sống của cư dân và sẽ có những ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của họ ngôn ngữ tư xa xưa cho đến ngày nay. Ảnh hưởng thứ nhất là cư dân nông nghiệp lúa nước thường canh tác theo những đơn vị cư trú khép kín. Điều này có nghĩa là các cộng đồng sử dụng ngôn ngữ trong vùng Đông Nam Á lục địa thường bị khuôn vào những “hộp địa lí” có một “tiếng nói riêng” của mình. Ảnh hưởng thứ hai: là hoạt động canh tác lúa nước là hoạt động sản xuất chính của cư dân vùng lãnh thổ này, nên tính mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp này làm cho các cộng đồng sử dụng ngôn ngữ trong một vùng đất đai truyền thống theo những chu kì nhất đinh. Những đặc điểm địa lí tự nhiên của vùng Đông Nam Á lục địa cho chúng ta biết rằng sự di chuyển theo chu kỳ và có tính đan xen của cư dân sử dụng ngôn ngữ là bản chất có tính “tự nhiên”, nó khiến ngôn ngữ của những “làng” khác nhau rát dễ đan chéo vào nhau. Về sau với thời gian kéo dài, sự đan chéo ấy khiến cho ngôn ngữ có sự giống hay khác nhau khá đặc biệt. Như vậy đặc điểm địa lí khác nhau của vùng Đông Nam Á dẫn đến tính đan xen giữa những cư dân có gốc gác thuộc những vùng khác nhau, và do đó sẽ có tình trạng ngôn ngữ mà họ sử dụng vốn ban đầu là khác nhau. Điều này được thể hiện rõ ở những đặc điểm về văn hoá và ngôn ngữ của vùng. Trong toàn vùng Đông Nam Á văn hoá hiệ tượng có nhiều cộng đồng cư dân mang những nét văn hoá giống nhau, tương tự nhau và phân bổ ở những khoảng cách khá xa nhau là một đặc điểm khá đặc trưng và cụ thể trong giá trị bằng nguyên nhân đạ lý. Họ ngôn ngữ Nam Á có mặt ở miền Đông Ấn Độ, miền nam Trung Quốc, ở khắp Đông Nam Á lục địa và phần nào còn có mặt ở Đông Nam Á hải đảo. Vì vậy các ngôn ngữ của họ này sẽ đan xen với các họ ngôn ngữ khác tạo thành một cộng đồng hết sức đông đúc. Xét về không gian cư trú, có nhận xét cho rằng bức tranh ngôn ngữ của Đông Nam Á là sự xáo trộn, chồng khít lên nhau nhiều lần của quá khứ. Nó được thể hiện rõ ngay trong phạm vi phương ngữ của tiếng Việt. Giữa các làng khác nhau ở gần nhau là những giọng nói rất khác nhau, khác nhau về ngữ âm, lĩnh vực từ vựng và thậm chí cả địa hạt ngữ pháp. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số và dân tộc kinh. Trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam có mặt đầy đủ các nhóm dân tộc thuộc các họ ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam Á cả phần đất liền và hải đảo. Có thể nói ở địa hạt ngôn ngữ các dân tộc, Việt Nam là bức tranh thủ nhỏ hình ảnh của khu vực Đông Nam Á - một vùng được G.con-do-mi-nas gọi là “vô cùng phong phú và khá phức tạp về phương diện dân tộc học và ngôn ngữ học”. Hiểu biết đầy đủ về vấn đề ngôn ngữ - văn hoá ở đây cũng chính là có được những hiểu biết đầy đủ về khu vực Đông Nam Á, một khu vực được coi là một trong những cái nôi văn hoá cổ xưa của loài người, là một địa bàn có hiện trạng ngôn ngữ học rất đa dạng, nó khiến cho mối quan hệ giữa các ngôn ngữ xảy ra theo nhiều chiều khác nhau, làm cho việc theo dõi và nghiên cứu lịch sử phát triển của chúng không hề đơn giản. Câu 2: Các ý kiến xếp loại nguồn gốc tiếng Việt ở vùng Đông Nam Á có những đặc điểm giống và khác nhau như thế nào Trả lời: vấn đề quan hệ họ hàng của tiếng Việt, thực chất là việc xác định nguồn gốc của nó. Vấn đề này được đưa ra và thảo luận gần 200 năm, trong suốt thời gian dài như vậy có nhiều ý kiến giống và khác nhau dựa trên những tư liệu và cách nhìn khác nhau. Có hai khuynh hướng nổi bật nhất trong việc xếp loại nguồn gốc tiếng Việt ở vùng Đông Nam Á đó là: khuynh hướng không xếp tiếng Việt vào họ Nam Á và khuynh hướng xếp tiếng Việt vào họ Nam Á. Trong khuynh hướng không xếp tiếng Việt vào họ Nam Á có 3 ý kiến cơ bản: - Ý kiến “tiếng Việt chỉ là nhánh bị thoái hoá” của tiếng Hán, với những nhận xét và đánh giá của GS Nguyễn Tài Cẩn và J.l. Taberd (1838). - Ý kiến xếp tiếng Việt vào họ Nam đảo (Mã Lai - Đa đảo) với những chứng cứ của Bình Nguyên Lộc, Hồ Lê. - Ý kiến xếp tiếng Việt vào những ngôn ngữ Thái với những lập luận trong cách đặt vấn đề của H. Maspéro. Còn với khuynh hướng xếp tiếng Việt vào họ Nam á, nổi bật với những lập luận chính của A.G. Haudricourt. Và một số nhà nghiên cứu khác như M.Ferlus, Yakhontor, Nguyễn Tài Cẩn, N.D Ardreev. Với bốn ý kiến trên khi xếp loại nguồn gốc tiếng Việt ở vùng Đông Nam Á có những đặc điểm giống nhau: vấn đề đầu tiên bàn tới khi xếp loại nguồn gốc tiếng Việt là vấn đề lớp từ vựng cơ bản, vấn đề này giống như thông lệ các nhà nghiên cứu khác. Và việc nghiên cứu hầu hết đều dựa vào phương pháp nghiên cứu so sánh - lịch sử, tiến hành dựa trên việc so sánh các từ, các ngôn ngữ trong vùng văn hoá Đông Nam Á với nhau qua các thời kỳ giai đoạn lịch sử khác nhau. Các nhà nghiên cứu luôn coi tiêu chí từ vựng là tiêu chí quan trọng nhất trong 3 tiêu chí cơ bản khi nghiên cứu lịch sử tiếng Việt đó là từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm./ Trong 4 ý kiến, có ý kiến thứ nhất, thứ 3 và thứ 4 xét cả vấn đề ngữ âm. Ý kiến thứ 3, thứ 4 xét cả vấn đề ngữ pháp. Khi nghiên cứu trong địa hạt cấu tạo từ, các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở việc sử dụng hệ thống tiền tố, trung tố, gọi chung là phụ tố để làm phương tiện cấu tạo từ. Tuy nhiên mối một cách lập luận có những điểm khác nhau và ít nhiều góp phần không hỏ làm sáng tỏ nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử tiếng Việt trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay và có thể cho cả những nghiên cứu sau này. Sự khác nhau này thể hiện ở 3 tiêu chí cơ bản: từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp. *Về vấn đề từ vựng: -Ý kiến thứ nhất, người ta nêu lên một khả năng “tiếng Việt là một sự thoái hoá của tiếng Hán” dựa trên quan sát thấy trong vốn từ vựng của tiếng Việt có thể có tới 75% là từ gốc Hán. Nhưng tính xác thực của vấn đề lại khác: cách nhìn nhận dựa vào số lượng từ gốc Hán trong tiếng Việt để xác định nguồn gốc của ngôn ngữ là chưa đủ tính thuyết phục và do đó không mang đầy đủ tính khoa học, những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu so sánh - lịch sử nhận thấy những từ gốc Hán trong tiếng Việt chỉ là những từ vay mượn, tuy số lượng tư gốc Hán rất nhiều trong vốn từ tiếng Việt nhưng những từ này thuộc vào lớp từ vựng văn hoá chứ không phải là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản. -Ý kiến thứ hai: dựa trên nghiên cứu của Bình Nguyên Lộc ông đưa ra 175 biểu so sánh giữa danh từ tiếng Việt và danh từ của nhiều ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam Á. Những ngôn ngữ khác nhau dùng để so sánh với tiếng Việt được ông cho là có nguồn gốc Mã Lai. Cùng chung ý kiến và cách nhìn với Bình Nguyên Lộc, tác giả Hồ Lê đã liệt kê 193 từ tiếng Việt theo ông đều là thuần Việt thuộc họ Nam Á. Những chứng cứ mà các tác giả nêu ra có điểm chung là: coi tất cả những ngôn ngữ có mặt ở vùng Đông Nam Á văn hoá này đương nhiên là thuộc một họ ngôn ngữ. Họ Nam Á gồm cả ngôn ngữ Môn khmer, ngôn ngữ nam đảo và ngôn ngữ Thái. Như vậy, cả hai ông phải dựa vào một số từ vựng “giống nhau” giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam đảo, ý kiến này chưa thực sự thuyết phục. -Ý kiến xếp tiếng Việt vào ngôn ngữ Thái của H. Maspéro: Đây là một khuynh hướng quan trọng nhất trong số những ý kiến không xếp tiếng Việt vào họ nam Á. Ông chỉ ra trong tiếng Việt có rất nhiều từ tương ứng với các ngôn ngữ Môn khmer, nhưng trong số đó không có một nhóm từ cơ bản là tương ứng hoàn chỉnh với các ngôn ngữ Môn khmer và ở từng nhóm cụ thể bao giờ cũng có thêm những từ tương ứng với các ngôn ngữ Thái chêm vào. Ông đã dẫn ra những ví dụ cụ thể: khảo sát một số từ cơ bản thuộc vào nhóm từ và tiếng Việt chỉ vào bộ phận cơ thể: có 8 từ (chân, cằm, mặt, mũi, tóc, cổ, bi, bụng) trong số đó có 5 từ tương ứng với ngôn ngữ Môn khmer, 3 từ còn lại được coi là có nguồn gốc từ tiếng Thái (cổ, bi, bụng). Và ông so sánh 185 từ tiếng Việt với các ngôn ngữ Môn khmer và các ngôn ngữ Thái. Nhưng Maspéro không nhận thấy tỷ lệ từ căn bản thuộc gốc Môn khmer cao hơn nhiều so với những từ thuộc gốc Hán, và những từ cùng dẫn ra không hoàn toàn thuần tuý là những từ thuộc lớp từ cơ bản trong ngôn ngữ. Cuối cùng là ý kiến xét tiếng Việt vào họ nam Á của A.G.haudricourt: ông tiến hành khảo sát lại chính nhóm từ cơ bản chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt mà Maspéro đã làm, để có cơ sở phân loại các từ tương ứng với các ngôn ngữ Môn khmer theo 3 cấp: + Những từ chung cho hầu hết các ngôn ngữ Nam Á (tóc, mắt, mũi, tay). + Các từ chỉ gặp trong tiếng Phong (tai, trốc, miệng, lưỡi, môi). + Các từ không gặp trong tiếng Mường, tiếng Phong nhưng lại gặp trong các ngôn ngữ Môn Khmer (cổ, cằm, rắng …) nhóm từ chỉ có thể tương ứng đều đặn, chọn vẹn với các ngôn ngữ Môn khmer không phải các ngôn ngữ Thái (bi: không thông dung) như vậy Haudricourt cho thấy sự tương ứng về từ vựng cơ bản giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Môn khmer là sự tương ứng mang tính bản chất cội nguồn. Sau Haudricourt, còn có rất nhiều nhà nghiên cứu khác bổ sung cho ý kiến của ông như Yakhontov- ông cho rằng: từ vựng cơ bản ổn định ngữ nghĩa của các từ góp phần định vị chúng thuộc vào lớp từ cội nguồn hay vay mượn và tiếng Việt thuộc họ Môn khmer. *Vấn đề ngữ pháp: ở vấn đề này chỉ có Maspéro và Haudricourt và những người cùng luận điểm với ông đã dựa vào vấn đề ngữ pháp của ngôn ngữ để nghiên cứu sâu hơn, trong khi Taberd, Bình Nguyên Lộc hay Hồ Lê các ông chỉ dựa vào cách quan sát, khảo sát bề mặt từ vựng để đưa ra kết luận. Maspéro: ông cho rằng tiếng Việt không có phụ tố trong kh ngôn ngữ Môn khmer lại sử dụng cả hệ thống tiền tố, trung tố để làm phương tiện cấu tạo từ tạo ra từ mới. Ông nêu ra ở một vài phương ngữ Việt và tiếng Mường tuy có dâu vết tiền tố nhưng chỉ bó hẹp trong các âm lỏng. Và ông kết luận: ở mặt ngữ pháp tiếng Việt nghiêng hẳn về phía nó là thành viên của họ ngôn ngữ Thái. - Theo Haudricourt: ở địa hạt cấu tạo từ tiếng Việt còn lưu giữ những đặc trưng Môn khmer rất rõ nét. Tiếng Việt có vết tích của việc biến đổi hình thái cổ xưa (biện pháp phụ tố) chỉ quan hệ nhân quả. Về sau có phương thức trung tố chêm vào một số ngôn ngữ Môn khmer, trái lại tiếng Thái chung: tay - qa, không tương ứng ngữ âm. Và những ý kiến bổ sung cho lập luận của Haudrcourt cho thấy hình thức đơn tiết hoá triệt để của tiếng Việt khiến nó không lưu giữ phụ tố cấu tạo từ. Xét về mặt ngữ hệ, không có ngôn ngữ hỗn hợp. *Vấn đề ngữ âm: - Ý kiến thứ nhất: có sự chuyển đổi có tính quy luật giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Số lượng thanh điệu như tiếng Việt hiện nay gần như tương ứng với hệ thống tứ thanh của nhà Hán thuộc đời Đường.. Nhưng theo giáo sư Nguyễn Tài Cần quy tắc ngữ âm theo cách đọc Hán Việt bắt nguồn từ giai đoạn trung cổ của tiếng Hán, giai đoạn tiền Việt - Mường, tiếng Việt không có thanh điệu. Ý kiến coi tiếng Việt là một nhánh của tiếng Hán là chưa thể chứng minh theo tháo tác của ngôn ngữ học so sánh - lịch sử. - Ý kiến thứ ba của Maspéro: theo ông tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu trong khi các ngôn ngữ Môn khmer cho đến nay vẫn không có. Ông so sánh tình trạng thanh điệu hiện nay của tiếng Việt với hệ thống thanh điệu của tiếng Thái. Sau đó ông tổng hợp vào một bảng đối chiếu giữa thanh điệu với 3 bậc âm đầu cao, âm đầu trung bình và âm đầu thấp và ông đưa ra kết luận: “tiếng Việt không phải là một tiếng Môn Khmer, tất cả những điều đó làm cho nó gần với tiếng Thái”. Quan điểm của Maspéro về nguồn gốc tiếng Việt vào thời điểm bấy giờ rất hợp lý, về logic nhưng vẫn có một số nhược điểm như: với những chứng cứ và lập luận trên, về lịch sử các âm đầu nêu được nguồn gốc, thời gian xuất hiện và quá trình biến đổi nhưng chưa nêu được quy luật biến đổi, ông chú trọng đến nguồn tư liệu Hán - Việt, sự tương ứng ngữ âm mà ông xem xét ở đây là tương ứng tĩnh, có tính chất đồng đại chứ không phải tương ứng thể hiện một quá trình biến đổi lịch sử. Còn về thanh điệu, có nguồn gốc ở sự biến đổi của âm đầu và âm cuối, không cho rằng đó là sự biến đổi nội tại. - Ý kiến của A.G.Haudricourt khi xếp tiếng Việt vào họ Nam Á, ở khu vực này có những ngôn ngữ ban đầu không có thanh điệu, về sau nó mới xuất hiện thanh điệu. + Ông chỉ ra những tương ứng ngữ âm quan trọng liên quan đến vấn đề thanh điệu của tiếng Việt, giữa tính thanh của phụ âm đầu âm tiết và âm vực của thanh điệu. + Sự tương ứng thanh điệu tiếng Việt với những âm tiết của những từ trong ngôn ngữ Môn khmer kết thúc bằng những nguyên âm và phụ âm nhất định. Ông đề xuất một sơ đồ lý thuyết hình thành thanh điệu trong tiếng Việt: nó giải thích nguồn gốc các thanh trong một trường hợp ngôn ngữ cụ thể là tiếng Việt ở bình diện lý thuyết và có giá trị đối với vấn đề nguồn gốc thanh điệu của nhiều ngôn ngữ ở khu vực Đông Nam Á. Qua đó những lập luận của Haudricourt chứng minh nguồn gốc Môn khmer của tiếng Việt là logic, rất tường minh và được nhiều người ủng hộ. Vấn đề nguồn gốc của tiếng Việt đã trải qua nhiều năm nghiên cứu với những chứng cứ và lý giả khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Mỗi một lập luận đã dựa trên 3 tiêu chí cơ bản của tiếng Việt: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp ít nhiều đã góp phần mang lại những hiểu biết quan trọng cho chúng ta trong việc tìm hiểu lịch sử tiếng Việt. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMôn lịch sử tiếng Việt - Tập hợp câu hỏi và câu trả lời.doc
Tài liệu liên quan