Kỹ thuật nuôi dưỡng gà

Căn cứ vào đặc điểm sinh lý, sinh trưởng phát dục và để thuận tiện cho nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý, đàn gà được chia ra các nhóm sau: - Gà con. là gà từ khi nở ra khỏi mấy ấp (1 ngày tuổi) đến 8 tuần tuổi (gà hướng trứng) hoặc 10 tuần tuổi (gà hướng thịt). Gà broiler là gà nuôi sản xuất thịt theo quy trình công nghiệp kết thúc, bán thịt luc 8-10 tuần tuổi. -Gà dò (còn gọi là gà choai, gà đang lớn) là gà từ 8 hoặc 10 tuần tuổi cho đến 20 hoặc 22 tuần tuổi, tương ứng với hướng chuyên dụng trứng hoặc chuyên dụng thịt. Đối với đàn gà giống thì độ tuổi này thuộc giai đoạn gà hậu bị.

pdf28 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 11/07/2013 | Lượt xem: 1857 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kỹ thuật nuôi dưỡng gà, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
225 thể chất yếu. Do đó thích hợp với chăn nuôi gà thương phẩm trứng, thương phẩm thịt, nuôi chim cút. - Nuôi trên nền (trên sàn). Gia cầm được nuôi trực tiếp trên nền gạch, nền đất nện, nền xi măng có lớp độn chuồng hoặc trên sàn kim loại, sàn bằng tre, nứa cao hơn mặt đất. Nuôi trên nền thích hợp với chăn nuôi gà con, gà hậu bị, đàn gia cầm giống (gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây). Gia cầm nuôi nền thể chất khỏe mạnh, sức sản xuất cao nếu nuôi với mật độ thích hợp và chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý. Khi áp dụng hình thức nuôi gia cầm trên nền cần lưu ý một số điểm dưới đây. Nuôi trên lớp độn chuồng dày không thay đổi. Cho vào nền chuồng lớp độn chuồng dày 8-10cm vào mùa hè, 15-20 cm vào mùa đông trước khi cho gia cầm vào nuôi. Trong quá trình nuôi, độn chuồng không thay đổi cho đến khi xuất chuồng toàn bộ đàn gia cầm. Trong quá trình nuôi nếu độn chuồng bị ẩm, ướt có thể bổ sung thêm cho đến khi lớp độn chuồng đạt 25-30 cm. Khi đó thay toàn bộ lớp độn chuồng, tổng tấy uế, khử trùng chuồng nuôi rồi đưa lớp độn chuồng mới vào nuôi đợt tiếp theo. Hình thức này có ưu điểm tiết kiệm được chi phí độn chuồng, chuồng nuôi giữ ấm tốt, đàn gia cầm không bị xáo trộn trong quá trình nuôi. Theo các nghiên cứu gần đây cho rằng cách này có lợi cho gia cầm vì các yếu tố hiếm (vi lượng, đặc biệt vitamin nhất là vitamin B12) có trong lớp độn chuồng không thay đổi được gia cầm sử dụng rất hiệu quả. Theo A.. Pôpôv, trong 100g chất độn chuồng chứa trung bình 42mg vitamin B12, trong cả màu xuân số lượng có thể đạt đến 100mg. Tuy vậy có nhược điểm là không khí dễ nhiễm bẩn, ẩm độ chuồng nuôi có thể lên cao gây ảnh hưởng sức khỏa đàn gia cầm. Hình thức này áp dụng cho chăn nuôi gà giống, gia cầm hướng thịt và các nhóm gia cầm nuôi thời gian ngắn (gà con, gia cầm nuôi thịt). Nuôi trên lớp độn chuồng thay đổi. Cho vào nền chuồng lớp độn chuồng dày 5-10cm trước khi cho gia cầm vào 226 chuồng nuôi. Trong quá trình nuôi sau 10-12 ngày thay lớp độn chuồng một lần, loại bỏ lớp cũ thay vào bằng lớp độn chuồng mới. Hình thức này chuồng nuôi luôn khô, sạch, vệ sinh, nhưng chi phí độn chuồng tăng lên, mỗi lần thay đổi độn chuồng gây xáo động đàn gia cầm, ảnh hưởng đến sinh trưởng hoặc làm giảm đẻ trứng. Hình thức này áp dụng cho đàn gia cầm phải nuôi trong thời gian dài (gia cầm giống, gia cầm đẻ trứng). Yêu cầu của nguyên liệu dùng làm chất độn chuồng. Nguyên liệu dùng làm chất độn chuồng nuôi gia cầm phải thảo mãn các yêu cầu: hút ẩm tốt. khả năng hút ẩm từ 140 đến 1200% so với khối lượng ban đầu của nó; không bị nát vụn, không tạo nhiều bụi; giá phải rẻ và dễ kiếm. Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp thường sử dụng các nguyên liệu như lõi ngô (hút ẩm 140-150%); rơm, rạ, trấu (240%, nếu dày 5cm hút ẩm đến 265%), tuy vậy rơm rạ có nhược điểm là dễ bị mấm mốc; dăm bào được xem là tốt nhất cho gia cầm con (420%); phân bò, phân ngựa khô (600-12000%); than bùn khô (160%). Trên thực tế thường dùng hỗn hợp các nguyên liệu này với nhau như trấu + mùn cưa, trấu + dăm bào… với những tỷ lệ thích hợp. 7.2. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gà Căn cứ vào đặc điểm sinh lý, sinh trưởng phát dục và để thuận tiện cho nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý, đàn gà được chia ra các nhóm sau: - Gà con. là gà từ khi nở ra khỏi mấy ấp (1 ngày tuổi) đến 8 tuần tuổi (gà hướng trứng) hoặc 10 tuần tuổi (gà hướng thịt). Gà broiler là gà nuôi sản xuất thịt theo quy trình công nghiệp kết thúc, bán thịt luc 8-10 tuần tuổi. - Gà dò (còn gọi là gà choai, gà đang lớn) là gà từ 8 hoặc 10 tuần tuổi cho đến 20 hoặc 22 tuần tuổi, tương ứng với 227 hướng chuyên dụng trứng hoặc chuyên dụng thịt. Đối với đàn gà giống thì độ tuổi này thuộc giai đoạn gà hậu bị. - Gà đẻ (hay gà sinh sản) là gà tiếp theo giai đoạn gà dò, đẻ qủa trứng đầu tiên cho đến khi kết thúc chu kỳ sinh sản (thường 12 tháng đẻ trứng) hoặc ở 500 ngày tuổi. Ở đàn gà giống giai đoạn này gọi là gà sinh sản. Gà sinh sản khác với gà đẻ ở chỗ trong đàn bắt buộc phải thả trống, đảm bảo cho trứng có phôi, ấp nở để nhân đàn tiếp tục. 7.2.1. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gia cầm con 7.2.1.1. Đặc điểm của gia cầm con. Gia cầm con có tốc độ sinh trưởng nhanh, cường độ trao đổi chất mạnh nhưng dung tích đường tiêu hoá nhỏ; khả năng tiêu hoá còn thấp nên cần có chế độ nuôi dưỡng hợp lý. Khối lượng gia cầm con nở ra khoảng 68-70% khối lượng trứng đưa vào ấp. Khối lượng gia cầm tăng gấp 2-3 hoặc 5 lần trước 6 tuần tuổi và tăng trưởng kéo dài đến khoảng 10 tuần tuổi, sau đó tốc độ sinh trưởng giảm đi rõ rệt. Cùng với sự tăng trọng là sự hoàn thiện của bộ lông. Ở 4-5 tuần tuổi bộ lông tơ của gia cầm con được thay bằng bộ lông vũ có khả năng giữ ấm, còn trước 5 tuần tuổi bộ lông chưa hoàn thiện, khả năng điều tiết thân nhiệt kém nên gia cầm con dễ bị nhiễm lạnh, đòi hỏi nhiệt độ chuồng nuôi phải cao (350C). Giai đoạn 13-14 tuần tuổi gia cầm thay bằng bộ lông hoàn thiện hơn và giữ cho đến trước khi thành thục về tính. Sau khi thành thục về tính, gia cầm có bộ lông của gia cầm trưởng thành. Cùng với sự tăng trưởng kích thước cơ thể, tiêu thụ thức ăn của gia cầm cũng tăng lên nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn giảm xuống. trước 6 tuần tuổi gà hướng trứng tiêu thụ khoảng 1 kg thức ăn hốn hợp, ở gà thịt (Broiler) là 2-2,3 kg. Tổng thức ăn tiêu thụ cho gà cho đến thời điểm đẻ trứng là khoảng 8-12 kg. Các cơ quan của cơ thể gia cầm phát triển với tốc độ khác nhau qua các giai đoạn sinh trưởng phát dục của nó. Các cơ quan của 228 cơ thể có thể phân làm 3 nhóm liên quan đến giai đoạn phát triển. Các cơ quan thành thục sớm là đầu, tim, gan, máu, ống tiêu hoá,; các cơ quan phát triển ở mức trung bình là chân, phổi, cánh, lông, thân. Trong đó các cơ quan: buồng trứng, ống dẫn trứng, lách, bài tiết và mô mỡ của gia cầm thuộc nhóm thành thục muộn. 7.2.1.2. Công tác chuẩn bị nhận gà con một ngày tuổi Trước khi đưa gà về nuôi cần chuẩn bị chu đáo chuồng trại, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi và đảm bảo khử trùng sạch sẽ. Khử trùng chuồng trại: Chuồng trại được quét sạch bụi bẩn, mạng nhện trên trần, lưới, sàn nhà. Khử trùng nền chuồng bằng cách phun dung dịch formol 2%, liều lượng 0,5 lít trên 1m2 nền chuồng hoặc quét một lớp nước vôi đặc lên trên nền chuồng (nền ximăng hoặc lát ngạch); để khô trước khi cho vào lớp độn chuồng. Chuẩn bị rèm che: rèm che quây quanh chuồng có thể làm bằng cót, vải bạt nhưng phải đảm bảo kín , linh hoạt khi mở ra hoặc đóng vào. Rèm che treo cách trần 30-40cm đảm bảo thông thoáng và phủ sát nền chuồng để tránh gió lùa. Chuẩn bị nguồn sưởi: nguồn sưởi có thể là lò sưởi điện, bếp than, củi, trấu, bóng đèn điện… đảm bảo cung cấp nhiệt trong quây gà lên được 36-37 0C. Phải được vận hành thử để kiểm tra trước khi đưa gà vào chuồng. Quây gà: quây gà được làm băng cót, bìa cứng, hộp gỗ… quây có đường kính 2,5m, chiều cao 0,5m dùng cho 300 gà 1 ngày tuổi. Quây có thể nới rộng, để có thể mở ra khi tuổi gà lớn lên. Máng ăn, máng uống. Máng ăn, máng uống cho gia cầm con có thể hình trụ, hình ống. Cần tính toán đủ cho đàn gà và phân bố đều trong quây gà. Khay làm máng ăn, máng uống cỡ 70x70cm cho 75-100 gà. Một số loại máng ăn, máng uống hiên đang sử dụng trong chăn nuôi gia cầm con (hình 7.2, 7.3). 229 Hình 7. 2: Các dạng máng uống cho gia cầm con 230 Hình 7. 3: Các dạng máng ăn cho gia cầm Nguyên liệu làm độn chuồng: nguyên liệu làm lớp độn chuồng cho chăn nuôi gia cầm con có nhiều loại. Khi chọn nguyên liệu làm độn chuồng cần chú ý là các vật liệu không nát vụn, có khả năng giữ ẩm tốt, không tạo thành nhiều bụi, không bị nấm mốc. Thông thường hay dùng phôi bào, mùn cưa, trấu, rơm rạ, phân ngựa 231 hoặc than bùn phơi khô làm độn chuồng. Lớp độn chuồng lúc đầu dày 8-10cm, sau đó bổ sung hoặc thay mới. Thức ăn, nước uống: chuẩn bị thức ăn theo yêu cầu độ tuổi của gà , đảm bảo chất lượng thức ăn và không ẩm mốc. Nước uống phải từ nguồn nước sạch và cung cấp đủ cho cả giai đoạn nuôi. Tất cả dụng cụ, vật liệu đều được khử trùng sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng nuôi. Chú ý kiểm tra lưới, nền, trần để phòng chuột, thú dữ có thể tấn công đàn gia cầm. 7.2.1.3-Chọn gà 1 ngày tuổi Gà nở ra khỏi máy ấp cần được chọn lọc kỹ. Chọn gà có khối lượng trung bình của giống, không quá to, không quá nhỏ. Gà lông khô, bồng, min, mắt sáng tinh nhanh, bụng to mềm, không hở rốn, khòeo chân, đứng vững trên hai chân. Loại bỏ gà quẹo mỏ, lông xoăn, chân yếu, khòeo chân, rốn không kín có dính máu, có các dị tật… Nhưng gà con nở đúng ngày quy định (không quá sớm, không quá muộn) là những gà tốt. Cần tách riêng trống mái ngay khi gà 1 ngày tuổi (nếu có yêu cầu nuôi riêng). 7.2.1.4-Vận chuyển gà con Gia cầm con dược vận chuyển tốt nhất bằng các xe chuyên dụng, cũng có thể vận chuyển bằng tàu hoả, ô tô, máy bay hoặc xe mô tô nhưng cần chú ý tránh xóc lắc mạnh, tránh gió lùa và gà xô vào nhau chết vì ngạt. Gà con nở ra được đựng trong các hộp cỡ 450x450x125mm bằng bìa cotton hoặc hộp nhựa. 232 Hình 7. 4: Gà con mới nở ấp theo máy ấp tự chế tạo Hộp được chia làm 4 ô nhỏ, mỗi ô 20-25 gà con 1 ngày tuổi, xung quanh hộp có những lỗ thông hơi tránh ngạt. Nếu vận chuyển đi xa, khi gà về cần mở hộp cho thông thoáng, cho uống nước có pha vitamin C, B, glucose trước khi thả gà vào quây. 7.2.1.5- Kỹ thuật nuôi dưỡng gà con Các yêu cầu đối với gà con +Nhiệt độ Nhiệt độ là yếu tố đầu tiên và cũng là yêu tố quan trọng nhất trong chăn nuôi gia cầm con. Tuần đầu nhiệt độ trong quây gà là 33- 35 0C, cứ mỗi tuần sau đó giảm đi 2-3 0C và giữ ổn định ở 20-22 0C lúc 8 tuần tuổi. Thực tế tuỳ thuộc vào sức khoẻ đàn gà và nhiệt độ môi trường mà sử dụng nguồn sưởi, mùa hè có thể chỉ sử dụng 3-4 tuần đầu. Thường xuyên theo dõi quan sát đàn gà trong quây để điều chỉnh nhiệt độ. Gà con phân tán xa nguôn sưởi, ép sát vào mép quây là nhiệt độ cao. Gà tập trung thành cụm sát nguồn sưởi, chen lấn nhau là nhiệt độ quá thấp. Gà phân bố đều trong quây, ăn uống tốt, 233 hoạt động linh hoạt là nhiệt độ thích hợp.Gà nằm dạt về một phía của quây, chen lấn, kêu nhiều cân chú ý kiểm tra có gió lùa. +Ẩm độ trong chuồng nuôi gà con thích hợp là 75-80%. Tránh ẩm thấp do nước uống đổ ra nên chuồng. +Mật độ nuôi Mật độ nuôi là số gà/m2 nền chuồng. Trong những ngày đầu một quây gà dùng cho 500 gà con thương phẩm hoặc 300 gà giống. Sau 4-5 ngày nới rộng dần quây, sau 10 ngày có thể bỏ quây cho gà tự do trên nền chuồng (nếu gà khoẻ, sinh trưởng tốt và thời tiết tốt). Vẫn giữ quây nếu thời tiết xấu. Sau khi bỏ quây mật độ gà giống 8con/m 2, gà thịt thương phẩm 10-12 con/m2, gà trứng thương phẩm 18-22 con/m 2. Mật độ có thể thay đổi theo mùa nóng -lạnh. +Sử dụng rèm che: Tùy điều kiện thời tiết và độ tuổi gà mà sử dụng rèm che cho thích hợp (bảng 7.1). Bảng 7.1. Sử dụng rèm che chuồng nuôi gà con Trạng thái rèm che Mùa hè Mùa đông Che kín chuồng tuần1 tuần 1 và 2 Che kín bên có gió ban ngày, ban đêm che kín hoàn toàn tuần2 tuần 3 Cả ngày đêm che kín bên có gió thổi tuần 3 tuần 4 Tuỳ thời tiết có thể che hoặc không che Từ tuần 4; 5 trở đi +Ánh sáng, thông thoáng Tuần đầu gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ. Sử dụng bóng đèn công suất 75-100W, định mức 3-4W/m2 nền chuồng (5-10lux). Thời gian chiếu sáng các tuần tiếp theo giảm 2-4h/tuần, và giữ ở 18h/tuần ở tuần thứ 8. Màu sắc ánh sáng tốt nhất ở gà con là màu đỏ hoặc ánh sáng trắng(đèn neon), ánh sáng yêu cầu toả đều trong chuồng nuôi. 234 Cần thông thoáng tốt chuồng nuôi để đủ không khí sạch cho gà. Gà con cần không khí sạch: 0,9-1,0 m3 vào mùa đông và 5-8m3 vào mùa hè, có thể cao hơn nữa ở chuồng nuôi gà giống. +Thức ăn và nuôi dưỡng gà con Gà con 1-8 tuần tuổi có cường độ sinh trưởng nhanh, nhưng không đồng đều. Giai đoạn 5-6 ngày tuổi đầu sinh trưởng châm, sau đó nhanh dần và đạt đến 3% so với khối lượng cơ thể. Khối lượng lúc 8-10 tuần tuổi cần đạt 600-800g/con gà hướng trứng và 800- 1000g/con ở gà giống nặng cân trung bình. Để đạt được khối lượng này, thức ăn hỗn hợp cho gà con cần có:hàm lượng dinh dưỡng (trong 1kg thức ăn) như sau: Năng lượng trao đổi: 2750-2950 Kcal (11,50-12,34 MJ); Protêin thô: 18-20%; Canxi: 1,0-1,3%; Phốt pho: 0,75-0,80%. Số lượng thức ăn cần thiết cho 1 con gà đến 10 tuần tuổi là 3kg (giống nặng cân trung bình) và 2,4 kg (giống hướng trứng). Có thể chia ra các giai đoạn tuổi 1-3, 4-8 hoặc 1-3, 4-7; 7-10 tuần tuổi và điều chỉnh thức ăn theo từng giai đoạn. Thức ăn sử dụng cho gà con, trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cần có 3000-3200 Kcal năng lượng trao đổi protein thô 19-21% ở 1-3 tuần tuổi đầu, sau đó giảm xuống 2800-3000 Kcal và 17-19% tương ứng ở các tuần tiếp theo. Thức ăn cho gà hâu bị. Sau 10 tuần tuổi tốc độ sinh trưởng của gà giảm 3-1% khối lượng cơ thể. Sự thay đổi về tăng trọng cần phải thay đổi thức ăn. Prôtêin thô giảm còn 15-16%, trong một số trường hợp giảm còn 13%. Giai đoạn này, thức ăn hỗn hợp có: Năng lượng trao đổi: 2750-3000 Kcal (11,50-12,55 MJ); Protêin thô: 15-16%; Canxi: 1,0-1,3%; Phốt pho: 0,70-0,80%. Số lượng thức ăn cần thiết cho 1 con gà/1ngày đêm gần 100g (giống hướng trứng); gần 130g (giống nặng cân trung bình). Cả giai 235 đoạn từ 10 đến 20-22 tuần tuổi cần 13kg thức ăn (giống nặng cân trung bình) và 10 kg (giống hướng trứng). + Máng ăn, máng uống Lượng cho ăn tự do bằng máng ăn tự động là tốt nhất. Cần chứa đủ vitamin, khoáng trong thức ăn. Từ ngày tuổi thứ 43-46 chuyển dần thức ăn từ thức ăn cho gà con qua thức ăn cho gà dò theo tỉ lệ 75/25, 50/50, 25/75 và 100. Nước uống sạch và đủ cho gà uống tự do. Máng ăn cần 8-11cm/con, máng uống cần 2cm/con, ở gà broiler tương ứng là 4 và 1,5cm/con. +Chủng ngừa vaccine Trong giai đoạn gà con cần cho uống hoặc tiêm phòng các loại vaccine phòng bệnh đậu gà, Gumboro, Niucatxon, tụ huyết trùng, viêm rốn…theo hướng dẫn của thú y (quy trình phòng bệnh cho từng đối tượng gia cầm nuôi). Ở vịt, ngan, ngỗng, gà tây con có quá trình nuôi tương tự như chăn nuôi gà con. Các yếu tố kĩ thuật có điều chỉnh chút ít. Nuôi vịt chăn thả thời vụ có quy trình nuôi vịt riêng. Ở vịt: yêu cầu nhiệt độ 26-28 0C ở tuần đầu, 22-250C tuần thứ 2, 20-22 0 C tuần thứ 3 và 16-190C ở tuần cuối. Cần cung cấp không khí sạch/1kg khối lượng sống trong 1 giờ là 0,7-1m3 trong mùa đông và 4-5m 3 trong mùa hè. Kiểm tra điều chỉnh lượng khí độc trong chuồng CO2 không quá 0,25% thể tích không khí, NH3 không quá 0,01cm 3 /lít và H2S không quá 0,005cm 3/lít. Chiếu sáng tuần đầu 24giờ (15-20lux), tuần thứ 2: 16-18 giờ từ tuần 3 trở đi giảm dần xuống còn 10giờ (5-7lux). Máng ăn 1,5- 2cm/con tuần đầu, những tuần sau 2-3cm/con, nuôi vịt giống có thể 10-15cm/con; máng uống tương ứng với tuần tuổi trên là 1,2-1,5cm/con và 1,5-2cm/con và 10- 15cm/con. Ở ngan: yêu cầu nhiệt độ 30-32 0C ở tuần đầu, giữ ổn định nhiệt độ 21-240C tới tuần thứ 4, sau 4 tuần là 15-200C. Các yêu cầu khác tương tự như ở vịt. Máng ăn 2,0- 2,5cm/con tuần đầu, những 236 tuần sau 3-4cm/con, nuôi vịt giống có thể 10-15cm/con; máng uống tương ứng với tuần tuổi trên là 2,0-2,5cm/con và 2,5-3,0cm/con và 12-16cm/con. 7.2.2. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gà dò Sau khi kết thúc giai đoạn gà con, nếu nuôi thịt (broiler) thì gà được xuất chuồng 8-10 tuần tuổi, nếu nuôi thả hoặc nuôi sinh sản gà được chuyển nuôi theo quy trình nuôi gà dò. Nếu nuôi gà giống thì chuyển qua giai đoạn nuôi gà hậu bị cho đến 20-22 tuần tuổi. Gà dò cơ thể đã phát triển hoàn thiện nên ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Trong chuồng nuôi không cần nguồn sưởi, quây, rèm che và có thể nuôi chăn thả ngoài sân vườn… 7.2.3. Kỹ thuật nuôi dƣỡng gà đẻ (gà sinh sản) Gà hướng thịt sau 22 tuần tuổi, gà hướng trứng sau 20 tuần tuổi chuyển qua giai đoạn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm. Cũng ở độ tuổi này nhưng là gà sinh sản lấy trứng giống đem ấp được gọi là gà giống và chăn nuôi theo quy trình nuôi gà giống. Yêu cầu gà giống khác gà thương phẩm là phải đảm bảo tỉ lệ trống/ mái thích hợp để có tỉ lệ phôi, tỉ lệ ấp nở cao. Gà đẻ trứng thương phẩm thường loại thải sau 1 năm đẻ (500-550 ngày tuổi), gà giống sinh sản có thể kéo dài hơn. 7.2.3.1. Đặc điểm gia cầm sinh sản Gia cầm từ khi đẻ quả trứng đầu tiên được xem là gia cầm sinh sản hoặc là gia cầm giống. Gia cầm giống khác gia cầm sinh sản ở chỗ có sự nuôi chung trống mái với tỉ lệ thích hợp để sản xuất ra các quả trứng có phôi, ấp nở ra gà con. Ở gia cầm sinh sản có các đặc điểm sau: - Quy luật của sự đẻ trứng Từ khi đẻ quả trứng đầu tiên gia cầm mái trải qua các biến đổi về sinh lý, sinh hoá có liên quan đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn. Ở gia cầm tơ hay gà mái đẻ trứng năm đầu quy luật đẻ trứng diễn ra theo ba pha: 237 +Pha 1: Thường là từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến hết ba tháng đẻ trứng. Trong pha này sản lượng trứng đẻ tăng từ ngày đẻ đầu tiên đến khoảng 2-3 tháng đẻ. Đồng thời với tăng sản lượng trứng, khối lượng trứng, khối lượng cơ thể gà mái tăng lên. Pha đầu tiên của sự đẻ trứng thường kết thúc lúc 42 tuần tuổi. +Pha 2: Sau khi sản lượng trứng đạt đỉnh cao thì pha 2 của sự đẻ trứng băt đầu. Lúc này sản lượng trứng giảm từ từ nhưng khối lượng trứng và khối lượng cơ thể gà không giảm, giai đoạn cuối gà mái có biểu hiện tích luỹ mỡ. Pha 2 kéo dài đến khoảng 62 tuần tuổi, khi sức đẻ trứng giảm xuống còn 65% so với tổng số gà mái đẻ trong ngày. + Pha 3: Pha 3 tiếp theo pha 2 cho đến khi gà mái có biểu hiện thay lông. Trong pha này sản lượng trứng giảm đến khi ngừng đẻ hẳn. Khối lượng trứng giảm nhẹ hoặc ổn định, nhưng chi phí thức ăn để sản xuất trứng tăng lên. Gà đẻ trứng các năm sau, quy luật đẻ trứng diễn ra tương tự như gà đẻ trứng năm đầu nhưng sản lượng trứng và thời gian kéo dài đẻ trứng giảm đi. Sản lượng trứng theo năm đẻ ở gà và các đối tượng gia cầm khác có khác nhau thể hiện trên bảng 7.2. Trên thực tế gà đẻ trứng thương phẩm chỉ sử dụng 1 năm đẻ trứng, gà giống có thể sử dụng ở cả năm đẻ thứ 2. Vịt sử dụng 2-3 năm, ngỗng 3-4 năm, gà tây 3-4 năm. Đồ thị về quy luật đẻ trứng của gà mái thể hiện ở hình 7.5; 7.6. 238 Pha 1 Pha 2 Pha 3 Thay lông Hình 7.5. Đồ thị về quy luật đẻ trứng ở gà năm đầu Năm đẻ thứ nhất Năm đẻ thứ hai Năm đẻ thứ ba Hình 7.6. Đồ thị về quy luật đẻ trứng ở gà qua các năm Bảng 7.2: Sản lƣợng trứng qua các năm đẻ trứng ở gia cầm (%) Năm đẻ Gà Vịt Ngỗng Gà tây I 100 100 100 100 II 75 115 110 110 III 45 95 125 120 IV - 50 85 80 V - - 48 45 239 - Quá trình hình thành trứng diễn ra trong một thời gian dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nội tại cũng như ngoại cảnh. Từ khi tế bào trứng hình thành ở buồng trứng, quá trình phát dục, chín và rụng khỏi buồng trứng, di chuyên trong ống dẫn trứng để hình thành lòng trắng, màng vỏ trứng, vỏ trứng và dược đẻ ra ngoài diễn ra trong thời gian dài (bảng 2.3, 2.4, chương 2) và chịu ảnh hưởng của nội tiết tố, trạng thái sinh lý của gia cầm, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường sống: nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết…Vịt nhà thường đẻ tập trung từ 0 đến 8 giờ, vịt khakicampbell có 97% tổng đàn đẻ lúc 7 giờ. Gà đẻ tập trung từ 10-13 giờ. - Sản phẩm do gia cầm mái tạo ra có giá trị dinh dưỡng cao. Trong đó hàm lượng protein chiếm 18-23%, trong protein có đầy đủ các axitamin thiết yếu và cân đối với các yếu tố dinh dưỡng khác. Vì vậy giá trị sinh vật học của trứng là 100%. Thịt gia cầm có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, tính ngon miệng cao. Thịt gia cầm chứa hàm lượng protein 21% (trong khi ở thịt bò là 16%, thịt lợn là 11%). Thành phần hoá học và giá trị năng lượng của thịt gia cầm tình bày trên bảng 7.5). Bảng 7.5. Thành phần hoá học và nhiệt năng (Q-kcalo) có trong 100g thịt gia cầm Loại gia cầm Tuần tuổi Nƣớc Lipid Protêin khoáng Q(kcal) Gà trưởng thành 52 65,5 13,7 19,0 1,0 200 Gà thịt Broiler 46 67,5 11,5 19,8 1,2 180 Vịt trưởng thành 48 49,1 37,0 13,0 0,6 365 Vịt thịt Broiler 34 56,6 26,8 15,8 0,8 294 240 Ngỗng trưởng thành 54 48,9 38,1 12,2 0,8 369 Gà tây trưởng thành 51 60,0 19,1 19,9 1,0 250 Thành phần thịt gia cầm thay đổi phụ thuộc vào tuổi, loài, phương thức chăn nuôi và thời gian nuôi. 7.2.3.2. Kỹ thuật nuôi dưỡng gà sinh sản - Chọn gà mái đẻ Gà mái đẻ, đặc biệt gà giống cần được chọn lọc kỹ trước khi lên đẻ và trong quá trình cho sinh sản. Ngoài việc chọn lọc theo nguồn gốc, trong quá trình nuôi thường chọn theo ngoại hình để loại thải kịp thời những gà mái đẻ kém ra khỏi đàn, tăng hiệu quả chăn nuôi. Căn cứ vào độ lớn, độ mềm và độ đậm của mào, độ rộng của bụng và vkhoảng cách của hai mỏm xương háng, độ mềm và bóng của niêm mạc hậu môn của gà mái đẻ để chọn lọc. Những gà mái có mào phát triển, mềm, đỏ tượ, độ rộng bụng đặt lọt 3 ngón tay trở lên, bụng mềm, khoảng cách hai mỏm xương háng đặt lọt 2 ngón tay trở lên, mỏm xương háng mềm, niêm mạc hậu môn ướt, mềm, độ đàn hồi cao là những gà mái đẻ tốt. (xem hình 7.7). - Mật độ nuôi Mật độ nuôi là số gà /m2 nên chuồng, phụ thuộc vào loài, lứa tuổi, hướng sản xuất và phương thức nuôi. Gà giống hướng trứng nuôi nền: 3,5 con/m2 Gà giống hướng thịt nuôi nền :3 con/m2 Gà thương phẩm nuôi nền : 8-12 con/m2 Gà thương phẩm nuôi lồng : 16-30 con/m2 241 Hình 7. 7 : Ngoại hình gà mái đẻ tốt (bên trái) và đẻ kém (bên phải) - Nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi Gà sinh sản nhiệt độ chuồng nuôi tốt nhất là 18-20oC, không quá 25oC. Nếu nhiệt độ nuôi dưới 15oC hoặc cao hơn 30oC ảnh hưởng lớn dến sức đẻ trứng và khối lượng trứng, tỉ lệ gà chết tăng lên. Ẩm độ chuồng nuôi gà sinh sản thích hợp là 60-70%. 242 - Chế độ chiếu sáng: Thời gian chiếu sáng ở gà đẻ không dưới 14h/ngày dêm, tuần đẻ thứ 16 trở đi tăng dần và đạt tối đa là 17h/ngày đêm. Cường độ chiếu sáng 3-4 W/m2 nền. Ánh sáng màu đỏ có lợi cho gà đẻ. - Thức ăn và nuôi dưỡng gà sinh sản Gà mái đẻ (gà sinh sản) cần cho ăn thức ăn hỗn hợp với dinh dưỡng đầy đủ. Trong 1kg thức ăn hỗn hợp gà đẻ cần: Năng lượng trao đổi: 2700-2800 Kcal (11,29-11,71MJ); Protêin thô: 15-18%; Canxi: 2,1-3,2%; Phốt pho: 0,75-0,80%. Số lượng thức ăn cần thiết cho 1 con gà mái đẻ/1ngày đêm phụ thuộc khối lượng cơ thể, sản lượng trứng (bảng 7.6), hoặc xác định theo tuổi và hướng sản xuất của gà (bảng 7.7). Các yế tố dinh dưỡng khác theo hướng dẫn trên bảng 7.8, 7.9. Bảng 7. 6: Thức ăn cho gà mái đẻ (g/ngày đêm) theo khối lƣợng (P) gà và sản lƣợng trứng (SLT) khác nhau SLT (quả/ năm) P gà 1,75kg/ con P gà 2,00kg/ con P gà 2,25kg/ con P gà 2,50kg/ con P gà 2,75kg/con 120 102,5 111,5 120 128 136 150 109 117,5 126 134 142 180 115 124 132,5 140,5 148,5 210 121,5 130 138,5 147 154,5 240 128 136 145 153 161 243 Bảng 7. 7: Lƣợng thức ăn cho gà sinh sản (g/ngày/con) Tuần tuổi Gà hƣớng thịt Gà hƣớng trứng Gà thƣơng phẩm nuôi lồng 23-24 100-130 107-112 105-110 25-26 120-140 110-120 110-115 27-28 140-155 110-120 110-115 29-42 140-155 110-120 110-115 43-52 135-150 110-118 110-115 53-64 130-145 108-115 105-110 - Máng ăn, máng uống Máng ăn, máng uống đảm bảo đủ cho gà và phân bố đều trong chuồng nuôi, tốt nhất sử dụng máng ăn, máng uống tự động. - Ổ đẻ, cầu đậu Trong chuồng nuôi gà sinh sản cần có ổ đẻ và sào đậu (cầu đậu). Ổ đẻ được treo trên tường hoặc đặt trên mặt đất, kích thước có thể khác nhau (hình 7.8). Đối với gà giống theo dõi cá thể, ổ đẻ cần có cửa sập (tự động). Mỗi ổ đẻ dùng cho 3-4 gà mái. Cầu đậu (sào đậu). Gia cầm xuất phát từ lớp chim nên thích đỗ trên cao. Trong chuồng nuôi gà, nhất là gà đẻ phải bố trí các cầu đậu. Cầu đậu là các thanh tre, gỗ vót nhẵn kích thước 0,2 x 0,4cm, đóng dọc cách nhau 3-4 cm, hoặc nghiêng cách nhau 25-30cm, tạo thành các giá đỗ hay cầu đậu. Chiều dài cầu đậu dành cho mỗi con gà 8- 10cm (hình 7.9). 244 Hình 7.8: Ổ đẻ dùng cho gia cầm mái 245 Hình 7.9: Cầu đậu cho gà đẻ Bảng 7.8: Nhu cầu về năng lƣợng, protêin và một số axít amin cho gà Nhóm gà Gà Broiler Gà hậu bị hƣớng trứng Gà đẻ hƣớng trứng và hƣớng thịt Tuổi (tuần) 0-6 7-10 0-6 7-14 15-20 20- 54 Năng lượng trao đổi (kcal/kg thức ăn) 3200 3200 2900 2900 2900 2850 Protêin (%) 23 20 20 16 12 15 Lysine (%) 1,25 1,10 1,10 0,90 0,66 0,50 246 Methionine (%) 0,86 0,75 0,75 0,60 0,45 0,53 Methionine + Cyctine (%) 0,46 0,40 0,40 0,35 0,40 0,32 0,24 0,35 0,28 0,21 0,28 0,25 Bảng 7.9: Nhu cầu về một số vitamin và khoáng cho gà Tuổi gà (tuần) 0-8 9-18 Gà đẻ (19-52) Gà giống (22-74) Vitamin A (UI) 1500 500 4000 4000 Vitamin D (UI) 200 200 500 500 Calcium (%) 1,0 0,8 2,75 2,75 Phosphorus(%) 0,7 0,4 0,6 0,6 Sodium (%) 0,15 0,15 0,15 0,15 Các loại gia cầm khác như vịt, ngan, ngỗng, gà tây...về nguyên tắc nuôi dưỡng như là gà, nhưng do có đặc điểm sinh sống khác nhau nên trong quy trình chăn nuôi cụ thể cho mỗi loại cần có yêu cầu riêng và điều chỉnh các yếu tố kỹ thuật cho thích hợp. Dưới đây là những kiến thức cơ bản nhất, cần tham khảo thêm các tài liệu chuyên sâu cho các đối tượng nuôi này. 7.3. Kỹ thuật nuôi dƣỡng vịt, ngan, ngỗng Chăn nuôi vịt là một nghề truyền thống khá phát triển ở nước ta. Tổng đàn vịt ở việt Nam là 44 triệu con, chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc. Trong đàn vịt thì vịt hướng trứng chiếm tới 63%, gắn với phương thức chăn nuôi thả đồng thời vụ là chính. Nuôi nhốt kiểu công nghiệp chỉ ở vịt giống và các giống vịt cao sản mới nhập vào trong những năm gần đây. Ngoài vịt, ngan cũng được quan tâm phát triển để cung cấp thịt cho nhu cầu trong nước. Chăn nuôi vịt cũng đang tồn tại ba phương thức chính đó là: - Nuôi chăn thả (nuôi quảng canh). Đây là phương thức chăn nuôi truyền thống có từ lâu trong nhân dân. Theo phương thức này 247 vịt con được úm đến 3 tuần tuổi, tiếp đó được thả trên vuìng nước hoặc trên đồng với giới hạn không hạn chế. Vịt đẻ có thể di chuyển đi nhiều vùng cách xa nhau 20-30km hoặc hơn nữa. Thức ăn cho vịt nuôi theo phương thức này chủ yếu là thóc, ngô mảnh. Thức ăn đạm là cá, ốc, ếch nhái, côn trùng và động vật thủy sinh ở các nguồn nước và thóc rơi vãi sau các vụ thu hoạch. Đầu tư làm chuồng trại không lớn, chỉ là các lều, trại tạm để vịt nghỉ lại buổi tối hoặc khi thời tiết xấu. Thích hợp với phương thức này là các giống vịt địa phương, vịt lai nuôi lấy trứng hoặc lấy thịt thời vụ. Từ phương thức này hình thành kỹ thuật ấp trứng vịt bằng trấu, thóc nóng ở các lò ấp thủ công cung cấp vịt con giống và trứng vịt lộn. Ưu điểm là tận dụng tốt điều kiện tự nhiên nuôi vịt, đầu tư thấp nên hiệu quả cao, nhưng nhược điểm lớn là dễ dịch bệnh, sự phát triển, lây lan dịch bệnh nhanh chóng gây hại không chỉ về kinh tế mà ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người. Từ sau khi có dịch cúm gia cầm H5N1, phương thức nuôi này đang được hạn chế và cải tiến. - Nuôi bán thâm canh. Phương thức này vịt 0-3 tuần tuổi nuôi trong chuồng ấm hoàn toàn có lớp độn chuồng dày không thay đổi, có sân chơi, bể nước để vịt tắm. Sau 3 tuần vịt được chuyển ra gần mặt nước (ao, hồ, đầm, phá, kênh rạch) đề bơi lộ, tìm thêm thức ăn. Thức ăn tự phối chế hoặc thức ăn công nghiệp do con người cung cấp là chính. - Nuôi thâm canh. Vịt được nuôi nhốt hoàn toàn, trong chuồng, trên nền có độn lót hoặc trên sàn. Tiểu khí hậu chuồng nuôi được khống chế thích hợp. Thức ăn, nước uống cung cấp chủ động và đầy đủ, quá trình tự động hóa và cơ khí hóa cao. 248 Hình 7. 10: Ngan pháp dòng R71 và con lai với vịt Super Meat - 7.3.1. Kỹ thuật nuôi vịt thâm canh. Nuôi thâm canh áp dụng cho các cơ sở giống quốc gia, nuôi giữ giống gốc, sản xuất, cung cấp giống cho các cơ sở sản xuất thương phẩm. Các yêu cầu kỹ thuật chính cho vịt nuôi nhốt là: 249 + Nhiệt độ chuồng nuôi 15-20 0C, ẩm độ 70-75%; không khí sạch chuồng nuôi: 8 m3 không khí/giờ/1kg khối lượng sống. Lượng H2S không quá 0,007mg/lít, NH3: 0,034mg/lít, CO2 : 0,025mg/lít. + Chiếu sáng: vịt con 8 giờ/ngày, vịt đẻ 14giờ/ngày, cuối kỳ đẻ trứng có thể đến 16giờ/ngày. Cường độ chiếu sáng 5W/m2 nền, tương đương 15lux. + Thức ăn và nuôi dưỡng vịt. Các nghiên cứu đã khẳng định rằng vịt ít mẫn cảm với số lượng và chất lượng prôtêin, và đồng hóa prôtêin tốt hơn ở gà. Vịt và ngỗng ở 2 tháng tuổi sử dụng năng lượng trong thức ăn tương ứng 79,5% và 80,5%, trong khi đó gà chỉ là 65,5% (Shinhesova,1966). Thức ăn cho vịt thịt (broiler). Vịt 50-55 ngày tuổi tốc độ sinh trưởng nhanh và khối lượng tăng 50-60 lần so với lúc mới nở, đạt khối lượng 2,5-3,0kg/con. Theo đặc điểm sinh trưởng thức ăn cho vịt chia làm 2 dạng: thức ăn khởi động và thức ăn vỗ béo. Giai đoạn 2-3 tuần đầu sau khi nở, thức ăn cần: Năng lượng trao đổi: 2800-2900 Kcal (11,71-12,13MJ); Protêin thô: 18-20%; Canxi: 0,6-0,8%; Phốt pho: 0,6-0,7%. Vịt không nhận biết được việc giảm hay tăng thức ăn có nguồn gốc động vật. Hàm lượng thích hợp thức ăn prôtêin động vật trong giai đoạn này là 25-30%, còn ở thức ăn giai đoạn vỗ béo là 10% so với tổng lượng prôtêin trong thức ăn. Giai đoạn vỗ béo từ sau 3 tuần tuổi, thức ăn cho vịt cần có: Năng lượng trao đổi: 3000- 3100 Kcal (12,55- 12,97MJ); Protêin thô: 15- 16%; Canxi: 0,6-0,8%; Phốt pho: 0,6-0,7%. Theo Donchev và cộng sự, 1973: sự phát triển khối lượng vịt là như nhau khi cho ăn thức ăn với 18% prôtêin thô và cho ăn thức ăn với 12% prôtêin thô, có bổ sung 0,2% lysine và 0,1% DL- 250 Methionine. Số lượng thức ăn cần thiết cho 1 con vịt trong cả giai đoạn này là 7,5-8,0Kg. Hình 7. 11: Vịt Super Meat và con lai với ngan Pháp dòng R71 251 Nuôi dưỡng vịt hậu bị. Trước 7-8 tuần tuổi vịt ăn thức ăn như của vịt thịt. Sau 8 tuần tuổi cho vịt ăn hỗn hợp thức ăn với 12% prôtêin thô, nếu nuôi nước thả vịt xuống nước cho ăn thức ăn hõn hợp 160-170g/con/ngày đêm và cho ăn thức ăn xanh. Từ 8 tuần tuổi, tốc độ sinh trưởng giảm. Lượng thức ăn cho cả giai đoạn là 17-20kg thức ăn. Nuôi dưỡng vịt đẻ. Vịt bắt đầu vào đẻ lúc 6-8 tháng tuổi (tuy theo giống), tỷ lệ đẻ trứng coa nhất tới 70-90%. Vịt đẻ cần cho ăn thức ăn hỗn hợp chứa: Năng lượng trao đổi: 2300- 2600 Kcal (9,62- 10,88MJ); Protêin thô: 16- 18%; Canxi: 2,3- 2,6%; Phốt pho: 0,6-0,8%. Trong chăn nuôi gia đình ngoài thức ăn hỗn hợp cho ăn thêm thức ăn xanh với lượng 50-60g/con/ngày. + Nước uống cho vịt Vịt cần được cung cấp đủ nước uống sạch. Nước uống cần 600- 700ml/con/ngày đêm, nếu ăn thức ăn viên cần 1000ml nước/con/ngày đêm. + Các yêu cầu kỹ thuật khác có thể tham khảo tiêu chuẩn ở bảng 7.10, của hãng Chery Velley (1996), cho vịt sinh sản. Bảng 7. 10: Tiêu chuẩn nuôi dƣỡng đàn vịt sinh sản hƣớng thịt ( theo hãng Chery Velley, 1996) Yêu cầu Tuổi vịt 5-180 ngày Tuổi vịt 181-390 ngày Mật độ nuôi (con/m2) 3 16 Máng ăn (cm/con) 25 30 Máng uống (cm/con) 15 20 Thời gian kéo dài đẻ trứng: Chu kỳ I Chu kỳ II 210 190 252 7.3.2. Kỹ thuật nuôi vịt chăn thả Nuôi vịt chăn thả là phương thức nuôi cổ truyền của người nông dân nước ta. Con vit, lúa nước, gần đây mở rộng hơn việc nuôi vịt trên các vùng nước trong hệ thống canh tác lúa-vit, lúa-vịt- cá…đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho người chăn nuôi và cung cấp một phần thực phẩm cho người tiêu dùng. Kỹ thuật nuôi vịt chăn thả có thể chia ra các giai đoạn sau: - Úm vịt con (nuôi vịt con) Vịt sau khi nở ra khỏi trứng, nuôi dưỡng trong chuồng 3 tuần đầu. Thức ăn cho vịt chuyển dần từ cơm, bún dấp nước (3 ngày tuổi đầu), qua cơm gạo lức (4-10 ngày tuổi), qua gạo ngâm mềm (11-15 ngày tuổi), chuyển qua thóc luộc chín (16-18 ngày tuổi) và cuối cùng là thóc sống (17-20 ngày tuổi). sau 20 ngày tuổi vịt đã ăn thóc sống thành thạo, được nuôi thả trên đồng lúa sa khi thu hoạch, trên các bãi bồi, các nguồn nước với thức ăn chính là thóc và động vật thủy sinh của các nguồn nước. Cùng với thức ăn trên, từ ngày thứ 3 trở đi, cần cung cấp thức ăn đạm (mồi), thường là tôm, tép, cá con, giụ đất, giun đỏ,cua ốc đập vỡ vỏ; sau 10 ngày bổ sung bột cá. Cho ăn rau xanh thái nhỏ, bèo tấm, bèo hoa dâu…Số lượng thức ăn và số lần cho ăn tùy thuộc vào tuổi vịt và kinh nghiệm của mỗi chủ hộ. Vịt con được giữ ấm và tập làm quen với nước từ ngày tuổi thứ 5-6, thời gian bơi lội tăng dần. Các điều kiện chuồng nuôi như yêu cầu với nuôi vịt nhốt hoàn toàn, cần chú ý tránh sự tấn công và phá hoại cuả thú dữ, chuột. Vịt con sau 21 ngày nếu nuôi thịt thời vụ sẽ được thả trên đồng và cho ăn thêm thức ăn vào đầu ngày (trước khi thả vịt) hoặc cuối ngày (khi vịt về chuồng), hoặc nhốt vịt, nuôi vỗ béo 5-10 ngày trước khi bán thịt nếu đồng chăn ít mồi, thời gian chăn thả ngắn. Nuôi theo phương thức này vịt xuất bán lúc 60-70 ngày tuổi, khối lượng 1,2-1,6kg/con (giống thịt có khối lượng cao hơn), chi phí thức

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfKỹ thuật nuôi dưỡng gà.pdf
Tài liệu liên quan